PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ở TỈNH NINH BÌNH - Pdf 23

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH
10
1.1. Những vấn đề lý luận phát triển công nghiệp ở tỉnh
Ninh Bình 10
1.2. Thực trạng phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình 28
Chương 2 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH
NINH BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 46
2.1. Những quan điểm cơ bản về phát triển công nghiệp ở tỉnh
Ninh Bình hiện nay 46
2.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp ở tỉnh
Ninh Bình trong thời gian tới 57
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 85

2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Đối với nước ta, phát triển công nghiệp có vị thế quan trọng, đóng góp
vào tỷ trọng ngày càng tăng cho phát triển kinh tế. Đến cuối năm 2010, tỷ
trọng công nghiệp và xây dựng đạt 41,7% (công nghiệp chiếm 34,2%), tốc độ
tăng trưởng của giá trị tăng thêm của công nghiệp đạt khoảng 6,2%, giá trị sản
xuất công nghiệp toàn ngành tăng xấp xỷ 14% so với năm 2009. Nhiều sản
phẩm công nghiệp nước ta không những đã chiếm lĩnh thị trường trong nước
mà còn khẳng định chỗ đứng trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên chất lượng, hiệu quả tăng trưởng công nghiệp chưa cao; năng suất

ở tỉnh Ninh Bình nói riêng là vấn đề rất quan trọng và cấp bách trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Vấn đề phát triển công nghiệp thu hút đông đảo các nhà
lãnh đạo chính trị, nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân quan tâm nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài rất nhiều, trong đó đáng chú ý
là công trình của các tác giả sau:
Viện Kinh tế Việt Nam có đề tài: “Lý luận và thực tiễn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá rút ngắn ở Việt Nam”, do PGS. TS. Trần Đình Thiên làm Chủ nhiệm.
Đề tài đã đề cập trên góc độ lý luận về quá trình phát triển công nghiệp trong nền
kinh tế quốc dân như: quan niệm về công nghiệp hoá dưới các góc độ; khả năng rút
ngắn quá trình công nghiệp hoá; khả năng nhảy vọt cơ cấu để rút ngắn quá trình
công nghiệp hoá; khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hoá trong điều kiện hiện
đại. Đề tài cũng nêu lên vấn đề tiến triển của nhận thức và thực tiễn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội có đề tài: “Đô thị hoá
trong quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam - những thách thức và giải pháp”, do
4
ThS. Bùi Thị Thiêm làm chủ nhiệm. Đề tài đã khái quát hoá cơ sở lý luận chung về
đô thị hoá. Trên cơ sở khảo sát thực trạng quá trình đô thị hoá, về quy mô, đặc trưng
cơ bản của đô thị hoá trong quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam trong thời
gian qua. Đề tài phân tích những tác động của đô thị hoá tới quá trình công nghiệp
hoá, chủ yếu về lĩnh vực phát triển kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như
phát triển nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất một số giải pháp phát
triển đô thị trong quá trình công nghiệp hoá đất nước, thúc đẩy quá trình đô thị hoá
phù hợp với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đồng thời hạn chế
các tác động tiêu cực của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội.
Phạm Anh Tuấn (2010), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn gắn với
phát triển bền vững ở tỉnh Ninh Bình hiện nay, Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị,
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng. Tác giả đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận về
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển bền vững ở tỉnh Ninh
Bình; đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển bền

nghiệp nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Tác
giả đã luận giải rằng chiến lược phát triển công nghiệp luôn giữa vai trò
trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia phát
triển vì công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế. Đối với Việt
Nam, Đảng ta xác định chiến lược của 10 năm đầu thế kỷ XXI là đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng hình thành một nước công
nghiệp hiện đại. Vì vậy, một hệ thống các chính sách công nghiệp đúng đắn
sẽ là công cụ hữu hiệu để Chính phủ thực hiện mục tiêu phát triển của
ngành công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở nghiên cứu kinh
nghiệm của các nước phát triển và những điều kiện cụ thể của Việt Nam,
bài viết này đề xuất một số định hướng trong việc định hình chiến lược
6
phát triển công nghiệp cho Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
PGS. TS. Chu Hữu Quý - PGS. TS. Nguyễn Kế Tuấn, Con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Do Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia phát hành. Nội dung chủ yếu là đưa ra những kết quả nghiên cứu
về con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của
nước ta trong thời gian vừa qua.
GS.TS Nguyễn Văn Thường (2004), Một số vấn đề kinh tế xã hội
Việt Nam thời kỳ đổi mới Nxb CTQG, Hà Nội. Trong cuốn sách này, tác giả
đã đưa ra một cách nhìn tổng quan về những vấn đề kinh tế Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới, trong đó tác giả đã phân tích khá sâu sắc về vấn đề phát
triển công nghiệp với vai trò là đầu tàu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phát triển vùng kinh tế trọng điểm nói riêng và là động lực chủ yếu nhằm
phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung.
Bộ Kế hoạch đầu tư và ngân hàng phát triển châu Á, trung tâm kinh tế
học quốc tế Canberra, Sydney, tháng 4/1998:“Chính sách phát triển công
nghiệp và các doanh nghiệp”.
Tạp chí Kinh tế và dự báo, Hà Nội, 9/2004: “Ninh Bình, tiềm năng và

cảnh phát triển công nghiệp chung của cả nước và phát triển công nghiệp vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Thời gian khảo sát và lấy số liệu từ năm 1991 đến 2012.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận
Đề tài dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
phát triển công nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
8
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác -
Lênin (trừu tượng hoá khoa học) và các phương pháp khác như: kết hợp lôgíc
và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát
triển công nghiệp ở nước ta nói chung và phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh
Bình nói riêng.
Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính quyền tỉnh
Ninh Bình trong lãnh đạo, chỉ đạo quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và
học tập môn Kinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn kết cấu 2 chương với 4 tiết.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NINH BÌNH

nghiệp và đối diện với lĩnh vực nông nghiệp. Lĩnh vực công nghiệp cùng
với các lĩnh vực khác hợp thành nền kinh tế quốc dân. C.Mác viết: “Cuộc
cách mạng trong phương thức sản xuất của một lĩnh vực công nghiệp này gây
ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực khác” [31, tr.553]. V.I.Lênin viết: “Sự phân
chia khu vực không phải là đặc điểm riêng của nền công nghiệp nước
Nga, mà là của cả công trường thủ công nói chung; công trường thủ công
không chỉ tạo ra từng khu vực rộng lớn mà còn chuyên môn hoá những
khu vực đó. Và đó cũng là sự đánh dấu đặc thù sự tách rời giữa công
nghiệp và nông nghiệp” [27, tr.539-540].
Với quan niệm “công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền
kinh tế” của chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cũng có thể coi công nghiệp
là một khu vực hay lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Từ điển Kinh tế chính trị viết rằng: “công nghiệp do hai nhóm hợp
thành; sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất vật phẩm tiêu dùng Trình độ phát
triển của công nghiệp quyết định thực lực kinh tế của đất nước, khả năng quốc
phòng, mức trang bị cho nền kinh tế quốc dân bằng các công cụ lao động hiện
đại, mức tăng năng suất lao động và sự phát triển kỹ thuật của nước nhà” [49,
tr.85]. Mặc dù ở đây không dùng thuật ngữ “lĩnh vực” hay “khu vực” công
nghiệp, nhưng thực chất cũng là một cách nói khác về thuật ngữ ấy.
Một quan niệm khác, công nghiệp là một ngành kinh tế - ngành công
nghiệp. C.Mác viết: “Nếu chỉ xét riêng bản thân lao động thì người ta có thể
gọi sự phân chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn như nông nghiệp,
11
công nghiệp, là sự phân công lao động chung” [31, tr.368]. V.I.Lênin viết:
“Kinh tế hàng hoá phát triển đưa đến chỗ làm tăng thêm số lượng các ngành
công nghiệp riêng biệt và độc lập; xu hướng của sự phát triển này là nhằm
biến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng, mà cả việc sản xuất
từng bộ phận của sản phẩm và những việc sản xuất sản phẩm riêng, mà thậm
chí có từng thao tác trong việc chế biến sản phẩm thành sản phẩm tiêu dùng,
thành một ngành công nghiệp riêng biệt” [27, tr.21-22].

sức quan trọng của quá trình phân công lao động xã hội. Đến lượt nó, sự phát
triển công nghiệp lại thúc đẩy phân công lao động xã hội sâu hơn, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động hợp lý, hiệu quả hơn.
Sự phát triển công nghiệp của Việt Nam gắn liền với sự phát triển của
kinh tế hàng hoá, với sự hình thành và phát triển thị trường. Công nghiệp ra
đời và từng bước phát triển là biểu hiện cụ thể của một trong hai điều kiện ra
đời, phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường. Đến lượt mình, kinh tế
hàng hoá, kinh tế thị trường phát triển lại thúc đẩy các ngành công nghiệp
phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Do tác động của thị trường mà các ngành công
nghiệp phải thường xuyên đổi mới kỹ thuật, nâng cao chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm để đứng vững trong cạnh trạnh; phát triển các ngành công
nghiệp theo chiều rộng và chiều sâu, thị trường các yếu tố đầu vào và đầu
ra của sản xuất tạo các điều kiện cho phát triển công nghiệp. Khi thị trường
mở rộng từ quốc gia đến quốc tế thể hiện tính chất xã hội hoá của sản xuất
công nghiệp càng cao, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển không chỉ
trong nước, mà còn vươn ra thế giới. Đó là nền công nghiệp hiện đại, mở
cửa, hội nhập với công nghiệp khu vực và thế giới.
Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam là quá trình làm xuất hiện
các ngành công nghiệp cụ thể trong nền kinh tế quôc dân với trình độ công
nghệ ngày càng cao. Từ công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đến công nghiệp
13
chế biến; từ công nghiệp nhà nước đến công nghiệp tư nhân và công nghiệp
đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam đều có bước phát triển.
Quá trình phát triển công nghiệp ở nước ta đồng thời là quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý, hiệu quả cao. Trong đó
công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Sự tăng lên về tỷ trọng
công nghiệp trong GDP là chỉ tiêu chí quan trọng đánh dấu sự phát triển mạnh
mẽ công nghiệp Việt Nam.
Sự phát triển như phân tích ở trên, cho ta thấy bức tranh phát triển công
nghiệp Việt Nam đa dạng về quan hệ sở hữu, phong phú về ngành nghề sản

quốc gia, dân tộc, cũng như của toàn nhân loại. Mức độ và trình độ phát triển
của công nghiệp vừa là kết quả, vừa là cơ sở tạo ra sự cải biến, cách mạng cả
công cụ sản xuất, tư liệu lao động và phương pháp sản xuất ở mỗi quốc gia,
dân tộc. Công nghiệp càng phát triển càng thể hiện sự phát triển của lực lượng
sản xuất và phân công lao động xã hội, làm cho mức độ trang bị của nền kinh
tế, phương hướng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế càng tăng lên và do
đó quyết định sự tăng lên về trình độ của cả nền kinh tế.
Với Việt Nam, từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu đi lên phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi phải tiến hành đổi
mới kỹ thuật, nâng cao cả về số lượng, chất lượng trang bị kỹ thuật của toàn
bộ nền kinh tế, từng bước chuyển từ lao động thủ công dựa trên kinh nghiệm
truyền thống là chủ yếu với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp sang lao
động sử dụng máy móc, ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công
nghệ của nhân loại, tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; từng bước
xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, lấy công nghiệp làm trụ cột. Trên có sở đó,
tạo tiền đề thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác cùng phát triển.
15
Thứ hai, phát triển công nghiệp ở Việt Nam tạo ra khả năng nội sinh ngày
càng cao và khả năng bảo đảm độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế.
Ở mức độ nhất định, chúng ta có thể coi nền kinh tế độc lập, tự chủ là
nền kinh tế đang vận động, có quan hệ và tác động qua lại với nền kinh tế thế
giới nhưng không lệ thuộc và phụ thuộc một chiều vào bên ngoài.
Với Việt Nam, để có được một nền kinh tế độc lập, tự chủ cần phải
tiếp tục đổi mới một cách sâu rộng với hiệu quả cao, tạo ra sự chuyển động
đồng bộ nền kinh tế hướng vào việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất,
đồng thời từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; đẩy
mạnh phát triển công nghiệp, tiến tới nâng cao khả năng đổi mới trang thiết
bị kỹ thuật, công nghệ cho toàn bộ nền kinh tế, nâng cao sức sản xuất và
năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế. Với ý nghĩa đó, sự phát triển
mạnh mẽ của công nghiệp là vấn đề có ý nghĩa trọng yếu đối với quá trình

hiệu quả sản xuất kinh doanh và nắm các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, mà còn
thể hiện ở khả năng kỹ thuật, công nghệ, khả năng dẫn dắt và định hướng các thành
phần kinh tế khác đồng thời giải quyết có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội nảy
sinh. Các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước phải vươn lên mạnh mẽ để định
hướng và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Cũng từ đó mà công
nghiệp nhà nước từng bước tạo cho mình một cơ sở vật chất kỹ thuật thích hợp để
không ngừng tăng cường, hoàn thiện vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Cũng từ sự phát triển đó mà trình độ dân trí và sự đoàn kết dân tộc được
nâng lên từng bước, tạo thành sức mạnh dân tộc để xây dựng nền kinh tế, xây
dựng xã hội mới theo con đường xã hội chủ nghĩa. C.Mác đã viết : “Bản chất
của đại công nghiệp đòi hỏi phải có sự thay đổi lao động, có sự di chuyển chức
năng và tính chất cơ động toàn diện của người công nhân” [30, tr.692]. Sự phát
triển mạnh mẽ của công nghiệp sẽ đưa đến kết quả tất yếu là phá huỷ từng bước
17
những quan hệ xã hội cũ không còn phù hợp; đoạn tuyệt với cách sống cát cứ,
đói nghèo, lạc hậu. Và theo đó tình đoàn kết dân tộc cũng tăng lên.
Ở góc độ khác, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp sẽ làm cho giai
cấp công nhân ngày càng phát triển, theo đó Đảng của giai cấp công nhân
cũng ngày càng giữ được uy tín và địa vị xứng đáng trong xã hội; Đảng và
Nhà nước: “cũng sẽ dành được một vị trí xứng đáng cho việc giáo dục , về
mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn” [31, tr.694]. Và do đó càng làm cho
giai cấp công nhân hoàn thiện thêm; ngày càng làm tăng thêm sức mạnh của
giai cấp công nhân. Đúng như C.Mác đã nói: “Sự tiến bộ của công nghiệp -
đem lại sự đoàn kết cách mạng của công nhân ” [30, tr.612].
Thứ năm, phát triển công nghiệp góp phần tạo tiền đề kinh tế, xã hội
vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới và cấp
bách đòi hỏi đất nước phải dựa trên cơ sở phát triển kinh - tế xã hội, phát triển
công nghiệp để từng bước xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội
nhân dân đủ khả năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ chế độ kinh tế - xã hội

139.173 ha. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 96.928 ha; diện tích đất phi
nông nghiệp (gồm đất ở, đất chuyên dùng và các loại khác) là 32.449 ha; đất
chưa sử dụng là 9.796 ha (trong đó, diện tích đất bằng chưa sử dụng là 4.994
ha, diện tích đất dốc chưa sử dụng là 4.802 ha).
Tài nguyên khoáng sản tuy không phong phú về chủng loại, song có
một số loại có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, là nguồn nguyên liệu tại chỗ
dồi dào, chi phí thấp cho các ngành công nghiệp khai thác, chế biến, gồm:
Tài nguyên đá vôi với trữ lượng hàng chục tỷ m³, chất lượng tốt, chiếm
diện tích trên 1,2 vạn ha, rất thuận lợi để phát triển công nghiệp khai thác và sản
xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất clanhke, xi măng và đá xây dựng.
19
Tài nguyên quặng đôlômit (2,3 tỷ tấn) có chất lượng tốt, hàm lượng
MgO từ 17% đến 19% tập trung ở xã Thạch Bình, Phú Long (huyện Nho
Quan), xã Yên Đồng (huyện Yên Mô), xã Đông Sơn (thị xã Tam Điệp) có thể
dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây
dựng và sản xuất một số hoá chất khác.
Tài nguyên đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi thấp và ở những vùng
tương đối bằng phẳng thuộc thị xã tam điệp, huyện Nho Quan, Gia Viễn và
Yên Mô, các bãi bồi ven sông khác. Đây chính là nguồn nguyên liệu tại chỗ
rất dồi dào với giá thành thấp cho công nghiệp sản xuất gạch ngói, làm
nguyên liệu cho sản xuất clanhke, ximăng, làm khuôn đúc trên địa bàn Tỉnh.
Tài nguyên nước khoáng ở Cúc Phương (huyện Nho Quan), ở Kênh Gà
(huyện Gia Viễn) có trữ lượng lớn, hàm lượng MgCO3 và các khoáng chất cao; có
tác dụng bổ sung khoáng chất, chữa bệnh có thể dùng cho phát triển công nghiệp
sản xuất nước khoáng, nước giải khát và sản xuất các loại khoáng chất vi lượng
Ngoài ra tỉnh còn có tài nguyên than bùn với trữ lượng 2,6 triệu tấn,
phân bố ở xã Quang Sơn (thị xã Tam Điệp) và huyện Nho Quan có thể dùng
cho công nghiệp sản xuất phân vi sinh và sản xuất clanhke, xi măng, nung
gạch, ngói, sản xuất sắt, thép
Đặc điểm về dân cư, dân số và nguồn nhân lực: Theo tổng điều tra dân

này cùng với quốc lộ 1 đang được hoàn thiện mở rộng và nâng cấp sẽ tạo
ra trục giao thông đường bộ vô cùng thuân lợi cho công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội nói chung và phát triển công nghiệp của Tỉnh nói riêng.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay hệ thống giao thông đường bộ trong
Tỉnh thực sự chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là
phát triển công nghiệp và dịch vụ, du lịch.
21
Hệ thống giao thông đường thuỷ gồm 18 tuyến sông với tổng chiều dài gần
299,8 km, trong đó Trung ương quản lý 4 tuyến (sông Đáy, sông Hoàng Long,
sông Vạc và kênh nhà Lê) với tổng chiều dài 156,5 km. Tỉnh có 3 cảng chính do
Trung ương quản lý là cảng Ninh Bình, cảng Ninh Phúc và cảng K3 (thuộc nhà
máy nhiệt điện Ninh Bình) đã được nâng cấp. Hàng loạt các bến xếp dỡ hàng hoá,
ụ tàu, khu neo tránh tàu thuyền nằm trên các bờ sông và cửa sông được tu sửa.
Tuyến đường sắt Bắc - Nam qua địa bàn tỉnh có chiều dài 19 km với 4
ga (Ninh Bình, Cầu Yên, Gềnh và Đồng Giao), thuận lợi trong vận chuyển
hành khách và hàng hoá, nhất là vận chuyển vật liệu xây dựng. Hệ thống
đường sắt cao tốc đang được quy hoạch, thiết kế và triển khai sẽ tạo điều kiện
thuận lợi rất lớn cho sự phát triển của Tỉnh.
Nhìn chung, hệ thống giao thông các loại của tỉnh tuy đã và đang có bước
phát triển mạnh mẽ, song vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Cụ thể như
hệ thống đường bộ hiện tại còn hạn chế về quy mô và tải trọng, đặc biệt là tại các
điểm nút, các vành đai, tuyến du lịch trọng điểm và tuyến quốc lộ 1A - là điểm
cần tập trung nâng cấp, xây dựng mới. Bên cạnh đó cần phát triển các tuyến giao
thông ven biển và miền núi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tạo
điều kiện đẩy mạnh phát triển công nghiệp nói riêng trên địa bàn Tỉnh.
Thứ hai, xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp
ở tỉnh Ninh Bình thời gian qua.
Những năm qua, nhất là từ sau ngày tái lập tỉnh đến nay, Đảng bộ, quân và
dân Ninh Bình đã đoàn kết, vượt mọi khó khăn, triển khai thực hiện tương đối
toàn diện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ

cũng như đáp ứng nhu cầu của thị trường xuất khẩu.
Tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tăng nhanh góp phần
quan trọng vào tăng thu nhập của nền kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội
và chất lượng sản phẩm, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn tích lũy
lớn cho nền kinh tế tỉnh nhà.
23
Sự phát triển các ngành công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng cho các bước
chuyển dịch trong những năm tiếp theo. Việc phát triển công nghiệp đã thúc
đẩy sự hình thành và phát triển nhiều ngành công nghiệp mới, qua đó làm
tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường. Công
nghiệp phát triển kéo theo sự phát triển về công nghệ, trang thiết bị máy móc
không chỉ trong sản xuất công nghiệp mà còn lan tỏa sang các ngành nghề,
lĩnh vực khác trong nền kinh tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của Tỉnh cũng như mục tiêu lâu dài của đất nước.
Phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình tuy tốc độ tăng trưởng khá nhanh
nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, sự phát triển này chưa thật vững
chắc. Còn nhiều bật cập về giảm chi phí sản xuất; khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm công nghiệp trên thị trường; kêu gọi đầu tư nước ngoài; khâu quy hoạch, kế
hoạch, quản lý; đầu tư xây dựng cơ bản còn dở dang; đầu tư khoa học - công
nghệ; các dịch vụ cho phát triển công nghiệp; thị trường của các sản phẩm công
nghiệp còn nhỏ hẹp cả về thị trường trong nước và thị trường quốc tế; phát triển
công nghiệp hỗ trợ mới chỉ sơ khai; vấn đề về môi trường và xử lý nước thải và
chất thải… từ đó đặt ra phải phát triển công nghiệp ở Tỉnh theo hướng bền vững.
Thứ ba, xuất phát từ vai trò của phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình
Các ngành công nghiệp là trụ cột, là động lực chủ yếu trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình trong nhiều năm tới.
Công nghiệp phát triển sẽ tạo động lực to lớn thúc đẩy các ngành xây
dựng, nông nghiệp, dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh chóng hơn. Tạo
điều kiện để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế để đẩy nhanh tốc độ

Trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp do Đại hội
Đảng bộ tỉnh khoá XX và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh
Bình đến năm 2020 đã đề ra cùng với lý luận kinh tế chính trị về phát triển
công nghiệp, tác giả xác định nội dung phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh
Bình hiện nay tập trung vào các vấn đề sau:
25
Một là, duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng cao và mở rộng quy mô của các
ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Phát triển công nghiệp là sự gia tăng cả số lượng cũng như chất lượng của
quá trình sản xuất. Do đó, quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình phải
phát triển mở rộng quy mô cơ sở sản xuất và giá trị sản xuất, đồng thời nâng cao
tốc độ phát triển hàng năm của ngành công nghiệp địa phương. Sự mở rộng quy
mô của ngành công nghiệp Ninh Bình phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc
độ tăng trưởng công nghiệp phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời
kỳ và các lĩnh vực với nhau. Sự gia tăng về lượng của ngành có thể biểu hiện
dưới dạng hiện vật hoặc giá trị, và có thể xem xét qua các nội dung về giá trị gia
tăng hay tổng giá trị sản xuất của ngành tạo ra trong một thời gian nhất định.
Quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình phải gắn liền với tính bền
vững và việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao, sự gia tăng liên tục,
có hiệu quả cả về chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển. Hơn thế nữa, quá trình ấy
phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học kỹ thuật, vốn,
nhân lực trong một cơ cấu công nghiệp hợp lý. Đồng thời phải hết sức giảm thiểu
nguy cơ phát triển công nghiệp không bền vững và xu hướng phát triển quá nóng.
Hai là, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình theo hướng hợp lý, hiệu quả.
Trong quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình, phải luôn
chú ý nâng cao dần tỷ trọng các ngành công nghiệp có trình độ khoa học -
công nghệ tiến tiến, có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong cấu thành giá
trị sản phẩm. Đây là nội dung thể hiện chất lượng của quá trình phát triển
ngành công nghiệp ở tỉnh Ninh Bình. Đặc biệt việc phân tích cơ cấu các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status