giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín – chi nhánh long biên - Pdf 23

MỤC LỤC
B ng 2.8: Tình hình huy ng v n t dân cả độ ố ừ ư 29
Xây d ng k ho ch huy ng v n rõ r ng cho t ng giai ự ế ạ độ ố à ừ
o nđ ạ 51
Phát tri n v m r ng m ng l i giao d chể à ở ộ ạ ướ ị 52
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
NHTƯ Ngân hàng Trung Ương
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHTM Ngân hàng Thương mại
TCKT Tổ chức kinh tế
NHNN Ngân hàng Nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
GTCG Giấy tờ có giá
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

1. Bảng 2.1: Bộ máy lãnh đạo của Chi nhánh Long Biên.
2. Bảng 2.2: Tổng vốn huy động đựơc của Chi nhánh trong các năm gần
đây.
3. Bảng 2.3: Tổng dư nợ và cho vay của Chi nhánh trong các năm gần đây.
4. Bảng 2.4: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Chi nhánh các năm gần
đây.
5. Bảng 2.5: Báo cáo hoạt động kinh doanh các năm gần đây.
6. Bảng 2.6: Biến động của nguồn vốn huy động.
7. Bảng 2.7: Tình hình huy động vốn từ Doanh nghiệp.
8. Bảng 2.8: Tình hình huy động vốn từ dân cư.
9. Bảng 2.9: Kết cấu tiền gửi dân cư .
10. Bảng 2.10: Tình hình phát hành giấy tờ có giá.
11. Biểu đồ số 1: Tình hình huy động vốn từ doanh nghiệp.
12. Biểu đồ số 2: Tình hình huy động vốn từ dân cư.
13. Biểu đồ số 3: Tình hình huy động vốn thông qua phát hành GTCG.

đó em mong muốn góp phần nhỏ bé phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam và
cơ cấu lại nguồn vốn trong nền kinh tế.
Trong chuyên đề, em đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu kết hợp
với nhau: so sánh, phân tích, luận giải dựa trên số liệu và các hình ảnh trực
quan mà em thu thập được.
1
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, chú, anh, chị tại
Chi nhánh Long Biên và đặc biệt là sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của cô giáo
Trần Tố Linh đã giúp em hoàn thành được chuyên đề tốt nghiệp này.
Kết cấu chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn trong hoạt động kinh doanh
của NHTM
Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn
Thương Tín - Chi nhánh Long Biên
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
huy động vốn tại Chi nhánh Long Biên
2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường
1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một định nghĩa chính xác về ngân hàng thương mại, người
ta thường phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài
chính và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Với
mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM.
Theo Luật của các TCTD 2010 tại Việt Nam:
“Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng theo quy định của luật này”.
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các

sách của Nhà nước. Loại ngân hàng này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
- Ngân hàng hợp tác: là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể được
các thành viên tự nguyện lập nên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục
tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn và dịch vụ ngân hàng.
1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại
 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế. NHTM chính là chủ thể đứng ra tiến
hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần
kinh tế Thông qua hình thức cấp tín dụng, ngân hàng đã tạo điều kiện cho
doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới
qui trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế, cũng
có nghĩa là đưa doanh nghiệp lên những nấc thang cạnh tranh cao hơn. Cạnh
tranh càng mạnh mẽ, kinh tế càng phát triển. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM
đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc
gia.
 NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường, giúp cho các nhà kinh
doanh trong xây dựng chiến lược quản lý doanh nghiệp
Thị trường ở đây được hiểu ở hai góc độ, thị trường đầu vào và thị trường
đầu ra của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh
nào, doanh nghiệp cần phải tham gia vào thị trường đầu vào rồi từ đó tiếp cận thị
trường đầu ra nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Quá trình đó chỉ bắt đầu khi
doanh nghiệp trang bị được đầy đủ lượng vốn cần thiết. Tuy nhiên, không phải
doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng tự cung cấp về tài chính. Do vậy, buộc họ
phải tìm kiếm vốn từ bên ngoài. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp các
doanh nghiệp giải quyết những khó khăn đó, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả
năng thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường trên mọi phương diện: giá cả, chủng
loại, chất lượng, thời gian, địa điểm Vì thế, NHTM chính là cầu nối quan trọng
giữa doanh nghiệp và thị trường.
4

doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Đây cũng là công cụ chính đối với các hoạt động kinh doanh của các
NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mặc dù
bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguốn vốn
này thì không những nguồn lợi của ngân hàng được tăng lên mà còn tạo cho ngân
5
hàng uy tín ngày càng cao. Qua đó ngân hàng có thể mở rộng được vốn và mở
rộng qui mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng chủ yếu xuất phát từ: tiền gửi doanh
nghiệp, tiền gửi dân cư, phát hành giấy tờ có giá.
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
 Nghiệp vụ tiền gửi
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động ngân hàng nhận các khoản tiền gửi
từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ
đó NHTM có thể huy động được. Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động các
khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với
mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
 Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có
tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng
cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế. Hơn
nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn
định vốn trong hoạt động kinh doanh.
 Nghiệp vụ đi vay
Đối với nghiệp vụ này các NHTM tiến hành tạo vốn cho mình bằng cách
vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ và NHTƯ dưới hình thức tái chiết khấu
hay vay có bảo đảm, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân
NHTM khi mà họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Thực tế

Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục
đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận.
 Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với
mục đích nhằm đảm bảo khả năng thanh toán hiện thời, khả năng thanh toán
nhanh của NHTM và thực hiện quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân hàng
Nhà nước đề ra.
 Nghiệp vụ cho vay
Là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và tạo khả năng sinh lời cao cho ngân
hàng. Trong tổng tài sản có thì nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Nghiệp vụ cho vay bao gồm cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn:
- Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay nhằm giải quyết thiếu hụt vốn
tạm thời trong kinh doanh của khách hàng. Cho vay ngắn hạn chủ yếu đầu tư vào
tài sản lưu động. ở Việt Nam hiện nay thường cho vay ngắn hạn theo hai phương
thức:
+ Cho vay theo hạn mức: áp dụng cho những khách hàng vay trả thường
xuyên có vòng quay vốn nhanh.
+ Cho vay từng lần: áp dụng cho những khách hàng vay trả thường xuyên
và có vòng quay vốn chậm.
7
- Cho vay trung - dài hạn: là hình thức cho vay mà tiền vay được cấu tạo
vào tài sản cố định. Đây là loại cho vay có thể nhận trức tiếp bằng tiền hoặc cho
vay thông qua tài sản - nghiệp vụ cho thuê tài chính.
 Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được
từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình
thức như: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực
tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu tư đó.
• Nghiệp vụ trung gian khác
Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản trên ngân hàng còn thực hiện một số nghiệp

thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng. Đây chính là
họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả
hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ
việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay,
bảo lãnh, cho thuê Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết
định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng thương mại.
Về cơ bản vốn của các NHTM bao gồm:
 Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập
được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Nó mang tính ổn định và căn cứ để quyết
định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng.
 Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền
sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến
động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của ngân
hàng.
 Vốn đi vay là phần vốn các ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn hoạt
động của mình trong trường hợp tạm thiếu vốn khả dụng. Nó có chi phí tương
đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
 Vốn khác là phần vốn phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp
vụ thanh toán…
2.2. Vai trò của vốn huy động
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì
phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh
doanh. Riêng đối với ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng
hoá đặc biệt là “tiền tệ” với đặc thù hoạt động kinh doanh là đi vay để cho vay
nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại càng có vai trò
hết sức quan trọng.
• Vốn là cơ sở để tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng. Ngoài vốn

• Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện
để các ngân hàng tham gia cạnh tranh. Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô
hoạt động, tăng cường quan hệ với các đối tác. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng
mới, giữ chân các khách hàng truyền thống. Doanh số của ngân hàng tăng lên
đồng thời làm tăng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn của ngân hàng lớn giúp cho
ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác:
hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi Các dịch vụ ngân
hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn.
10
2.3. Các hình thức huy động vốn
2.3.1. Tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi của khách hàng đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, doanh
nghiệp cơ quan Nhà nước và các định chế tài chính trung gian cùng cá nhân
trong và ngoài nước có quan hệ gửi tiền tại ngân hàng.
Tiền gửi của khách hàng được chia làm hai bộ phận: tiền gửi của doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
 Tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân
hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, thực chất đó là khoản tiền gửi
dùng để đảm bảo trong thanh toán.
Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong
tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh
nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh
nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần. Chu
kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Vì vậy
ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một
cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều
vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các

hàng, đồng thời lợi nhuận thu về từ nguồn vốn này cũng ngày càng tăng.
- Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp, chưa
sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà khoảng thời gian này được xác
định trước. Do đó các doanh nghiệp thường gửi vào ngân hàng dưới hình thức
tiền gửi có kỳ hạn. Phần lớn các nguồn tiền gửi này xuất phát từ nguồn tích luỹ
của các doanh nghiệp mà có. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi
đến hạn và được hưởng số tiền lãi trên số tiền gửi đó. Nhưng trong thực tế ở
nước ta hiện nay để khuyến khích người gửi tiền các NHTM vẫn cho khách hàng
rút ra trước thời hạn và được hưởng lãi suất thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn
(thông thường bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn).
Do tính chất của loại tiền vốn tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử
dụng phần lớn số dư loại nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn. Nếu nguồn
vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động sẽ tạo điều kiện
thuận lợi, chủ động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Các NHTM
thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi của khách hàng.
Hiện tại các NHTM có các loại tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6
tháng 9 tháng, 1 năm. Với mỗi một kỳ hạn khác nhau thì ngân hàng áp dụng một
loại lãi suất khác nhau. Thông thường thì thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
12
Tiền gửi tiết kiệm dân cư
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi các nhân được gửi vào
ngân hàng, nhằm hưởng lãi suất theo qui định. Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu
nhập bằng tiền gửi của cá nhân chưa sử dụng được gửi vào tổ chức tín dụng. Nó
là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân. Khi gửi tiền vào
ngân hàng người gửi tiền được giao một sổ tiết kiệm coi như một giấy chứng
nhận tiền gửi vào Ngân hàng. Đến thời hạn khách hàng rút tiền ra được nhận một
khoản tiền lãi trên tổng số tiền gửi tiết kiệm.
Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư có số lượng lớn thứ
hai trong tổng số các loại tiền gửi vào ngân hàng và nó phục thuộc rất lớn vào thu

Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng
nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không
phải trả lãi. Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch
vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp
ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta. Người
gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 3 tháng, 6
tháng Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt. Đây là
những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả khách hàng với
lãi suất gần như là cao nhất. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh
tranh, thu hút được vốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút
ra trước thời hạn. Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ
hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế
2.3.2. Tạo vốn qua phát hành công cụ nợ
Vốn phát hành của ngân hàng, đây là hình thức huy động vốn thông qua
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu… Đó là các công cụ nợ của ngân hàng.
Đặc điểm của loại vốn này là lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
Mục đích huy động dùng để đáp ứng cho các dự án đầu tư lớn. Nguồn vốn này
được huy động theo nhiều thời hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Hiện nay ở Việt nam các NHTM thường
huy động nguồn vốn này dưới hình thức phát hành kỳ phiếu có mục đích và trái
phiếu trung, dài hạn.
• Phát hành kỳ phiếu có mục đích
Khi các NHTM có nguồn vốn tài chính dồi dào để tài trợ cho các nguồn
vốn có qui mô lớn, nhằm phát triển kinh tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế hoặc liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế mà các nguồn vốn tự có chưa
đáp ứng được, NHTM trình Ngân hàng Nhà nước xin phép phát hành kỳ phiếu để
tạo nguồn vốn tín dụng tương đối lâu dài cho các hoạt động này.
Như vậy kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do

Hoạt động của thị trường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả năng sẵn
có một cách triệt để của các tổ chức tín dụng, trước khi có nhu cầu vay vốn của
Ngân hàng Trung Ương.
Việc thực hiện quan hệ tín dụng giữa các NHTM phải được tiến hành theo
nguyên tắc đi vay cho vay và phải được thoả thuận trên cơ sở hợp đồng tín dụng,
vốn vay phải đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố (tiền mặt tại quĩ và các chứng từ có
giá trị), hay NHTM đi vay có thể xin ngân hàng Nhà nước bảo lãnh để vay vốn
các ngân hàng khác. Các ngân hàng đi vay phải chấp hành đầy đủ các quy chế dự
trữ bắt buộc và an toàn vốn, phải có tài khoản tiền gửi thanh toán hoạt động
thường xuyên tại NHTW.
15
• Vay từ Ngân hàng Trung Ương
Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay
mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là
Ngân hàng Trung Ương. Ngân hàng Trung Ương cho vay dưới hình thức tái chiết
khấu thương phiếu. Các ngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên
Ngân hàng Trung Ương để vay. Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn
do Ngân hàng Trung Ương chỉ cho ngân hàng thương mại một hạn mức tái chiết
khấu và việc cho vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc
gia Việc Ngân hàng Trung Ương cho các NHTM vay đã làm tăng khả năng
thanh toán cho các NHTM. Nếu như thiếu nguồn vốn này thì sẽ xuất hiện các
cuộc khủng hoảng tài chính khi các NHTM mất khả năng thanh toán.
Các nguồn vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ Ngân hàng Trung
Ương để đảm bảo khả năng thanh toán trong những trường hợp cần thiết. Cho
nên thời hạn vay thường ngắn, lãi suất thường cao hơn các hình thức huy động
vốn khác của NHTM.
2.3.4. Tạo vốn từ nguồn vốn khác
Ngoài các nguồn vốn huy động trên các NHTM cũng có thể khai thác
nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, đây là nguồn vốn lớn, có thời hạn
tương đối dài từ 5 đến 50 năm với lãi suất tương đối ưu đãi. Khi các NHTM nhận

Như vậy, môi trường pháp lí là nhân tố khách quan có tác động rất lớn tới
quá trình huy động vốn của NHTM.
3.1.2. Môi trường kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước cũng có tác động không
nhỏ đến quá trình huy động vốn của ngân hàng. Khi nền kinh tế tăng trưởng hay
suy thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM. Mọi biến động
của nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc tăng, giảm nguồn vốn
huy động từ bên ngoài của ngân hàng. Nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát
triển, từ đó tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu
hút vốn của NHTM thuận lợi. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát
tăng, người dân không gửi tiền vào ngân hàng mà giữ tiền để mua hàng hoá, việc
thu hút vốn gặp khó khăn. Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài nước có tác
động rất rõ. Các cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình
trạng huy động vốn của ngân hàng bị trì trệ bởi người dân không còn tin tưởng.
Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh tế, không
riêng gì ngân hàng. Ngược lại, sự đồng tâm, nhất trí, ổn định trong bộ máy lãnh
đạo sẽ làm cho các ngân hàng thương mại huy động vốn được dễ dàng.
3.1.3. Tâm lí khách hàng
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân
hàng và những đối tượng sử dụng vốn đó. Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai
yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền. Thu
nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huy động trong
tương lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn
17
tiền. Sự tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng
tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong
tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt sẽ gây ra sự phá sản các
ngân hàng. Và mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng
càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn.
Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối

18
dich vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân
hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách
hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng được thể hiện rõ nét ở các mặt như: công
nghệ ngân hàng, sự đa dạng của các hình thức huy động vốn, hay sự chuyên
nghiệp của nhân viên ngân hàng cũng như điều kiện cơ sở vật chất của ngân
hàng. Công nghệ ngân hàng ngày càng tiên tiến, hệ thống tin học ngày càng hiện
đại, đã giúp ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường tốt.
Từ đó, có thể hoạch định ra các hình thức huy động, thời gian huy động, hình
thức trả lãi Ngoài ra con giúp khách hàng thuận tiện hơn trong các giao dịch
với phía ngân hàng. Khi cung cấp bất kì một sản phẩm nào đến khách hàng, nếu
số lượng càng nhiều khách hàng càng có nhiều lựa chọn và điều này sẽ làm hài
lòng khách hàng. Sự chuyên nghiệp của nhân viên ngân hàng mang lại sự tin
tưởng tuyệt đối và sự gắn bó của khách hàng và ngân hàng. Sự chuyên nghiệp
này thể hiện qua việc thực hiện nhanh chóng và chính xác các nghiệp vụ ngân
hàng với thái độ coi khách hàng là thượng đế. Bên cạnh đó cơ sở vật chất cũng sẽ
tác động tới cảm giác của khách hàng, tăng lòng tin vào ngân hàng. Trong điều
kiện thiếu bãi đậu xe như hiện nay, ngân hàng có bãi đậu xe rộng rãi chính là một
lợi thế hoặc có giao dịch mặt đường trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự
động làm việc ngày đêm, có cán bộ giao dịch niềm nở, có trách nhiệm, tạo được
niềm tin cho khách hàng cũng là lợi thế đáng quan tâm của các NHTM. Khác về
cạnh tranh, về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng không giới hạn, do vậy
đây chính là điểm mạnh để các ngân hàng giành thắng lợi trong cạnh tranh.
3.2.3. Tên tuổi, thâm niên hoạt động và uy tín của ngân hàng
Đối với các khách hàng khi cần giao dịch với một ngân hàng thì bao giờ
họ cũng dành phần ưu ái đối với một ngân hàng có thâm niên hơn là một ngân
hàng mới thành lập. Bởi vì, theo họ thì một ngân hàng thâm niên là một ngân
hàng có uy tín, vững vàng trong nghiệp vụ, có nguồn vốn và có khả năng thanh
toán cao. Do vậy, mức độ thâm niên về một khía cạnh nào đó cũng tạo ra được

hoạt động, mở thêm các phòng giao dịch trong khu vực, nâng cao số trạm
ATM…, không ngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm với mục đích
thu hút khách hàng. Chi nhánh cũng cam kết hoạt động theo đúng khuôn khổ luật
pháp, thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội của mình. Mục tiêu chung của Chi
nhánh Long Biên cũng như tất cả các Chi nhánh của Sacombank trên toàn quốc
là hướng tới việc đưa Sacombank trở thành một trong các ngân hàng hàng đầu tại
khu vực.
Tính đến nay với vai trò là Chi nhánh cấp một Sacombank Long Biên đã
quản lý một hệ thống nhân viên gồm 97 người phân đều về các phòng ban của
Chi nhánh và các phòng giao dịch. Với 4 phòng giao dịch Nguyễn Văn Cừ, Ngô
Gia Tự, Yên Viên, Đông Anh, Chi nhánh Sacombank Long Biên đang ngày một
khẳng định vị thế của mình tại địa bàn quận Long Biên nói riêng và Hà Nội nói
chung.
Về ngành nghề kinh doanh Sacombank Long Biên tham gia các hoạt động
huy động vốn, cho vay, thanh toán quốc tế, giao dịch vàng, các nghiệp vụ ngân
hàng… được quy định trong điều lệ hoạt động của Sacombank đồng thời nằm
trong khuôn khổ mà luật pháp Việt Nam cho phép.
21
1.2. Cơ cấu tổ chức Chi nhánh Long Biên
• Bộ máy lãnh đạo của Chi nhánh
Bảng 2.1: Bộ máy lãnh đạo của Chi nhánh Long Biên
Chức vụ Họ và tên
Giám đốc Chi nhánh Bùi Tú Ngọc
Phó Giám Đốc Nguyễn Thị Bích Diệp
Trưởng phòng doanh nghiệp Nguyễn Thị Mai Oanh
Trưởng phòng hỗ trợ kinh doanh Nguyễn Thị Bích Diệp
Trưởng phòng kế toán hành chính Vũ Thị Thu Hiền
Trưởng phòng cá nhân Nguyễn Thị Mai Oanh
Trưởng phòng xử lý giao dịch Thái Thành Tú
(Nguồn: Phòng kế toán hành chính Chi nhánh Sacombank Long Biên)

nhiều so với năm 2010.
Để đạt được tốc dộ tăng trưởng nguồn vốn trên, cùng với chính sách lãi
suất chủ động, linh hoạt, Chi nhánh Sacombank Long biên luôn phối hợp hài hòa
với nhiều yếu tố tích cực như: hình thức huy động linh hoạt, hấp dẫn, lãi suất tiền
gửi hợp lý cho từng đối tượng khách hàng. Hàng loạt chương trình khuyến mãi
dành cho các khách hàng gửi tiền tại Sacombank ra đời. Đơn cử như các chương
trình “Nhận quà ngay quay trúng lớn” khách hàng có cơ hội nhận được những
phần qua hấp dẫn như nỗi, xong, chảo,… và còn được tham gia vào rút thăm
trúng thưởng số tiền lên tới 2 tỷ VND. Hay như chương trình “Tiết kiệm phù
đổng” dành cho đối tượng khách hàng là các bé từ 0 đến 15 tuổi. Đây là một
chương trình mang đầy tính nhân văn khi mà ngân hàng góp phần cùng với phụ
huynh giáo dục cho bé về bài học tiết kiệm vừa để lại trong lòng khách hàng một
dấu ấn khó quên. Và kết quả của chương trình này đó là hàng ngàn phụ huynh
học sinh từ các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học tham gia mở tài khoản. Bên
cạnh các chương trình khuyến mãi Sacombank Long Biên còn đẩy mạnh việc
cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích song song việc đổi mới phong
cách giao tiếp văn minh, tận tình, chu đáo. Chi nhánh đã tổ chức ra chiến dịch
mang tên “ Bão táp Sa mạc”. Chiến dịch nhằm khuyếch trương hình ảnh của
Sacombank trong lòng khách hàng, đưa Sacombank vào từng ngõ nghách, từng
gia đình. Với chiến dịch trên khách hàng sẽ được làm thẻ thanh toán tận nơi và
mức phí chỉ bằng 50% mức phí thường niên. Chính vì thế nguồn vốn huy động
tại Chi nhánh Sacombank Long Biên luôn chiếm 2% trên tổng nguồn vốn huy
động toàn hệ thống Sacombank, có thời điểm số dư tiền gửi đã lên tới 2000 tỷ
đồng. Với thành tích vượt trội như vậy Sacombank Long Biên đã đáp ứng kịp
thời, đầy đủ nhu cầu vay vốn và thanh toán của mọi đối tượng khách hàng và
23

Trích đoạn Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn Tăng cường công tác thông tin, quảng cáo Sử dụng nguồn vốn có hiệu quả Kiến nghị với Sacombank Chi nhánh Long Biên. Kiến nghị với ngân hàng Sacombank
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status