hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý - hướng giải quyết các khoản nợ sau cho vay - Pdf 23

LUẬT NGÂN HÀNG
A. MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nên kinh tế nước ta đã phát triển với tốc độ khá cao,
điều này phản ánh tiềm lực của hệ thống Ngân hàng rất mạnh mẽ và các Tổ chức
tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Đồng thời cũng phản ánh nhu cầu vốn cho nền kinh tế nước ta là hết sức lớn. Bên
cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng
những năm qua đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơ
rủi ro thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụng
ngày càng chồng chất. Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải
có hệ thống ngân hàng vững mạnh, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp
luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín
dụng.
Chính vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay theo
hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng , em xin lựa chọn đề tài số 8: “Tìm
hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những
vấn đề thực tiễn pháp lý, đề xuất hướng giải quyết để xử lý đối với các khoản nợ
sau cho vay của tổ chức tín dụng.” làm đề tài cho bài tập học kỳ của mình.
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1. Khái niệm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội loài
người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Trong pháp luật dân sự,
hiểu theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho người
khác được sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có
hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình với người đó.
Theo quy định Điều 17 Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng
12 năm 2001 của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng
và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng

giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo
luật định.
Ba là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ các quy
định chung của pháp luật về hợp đồng, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về
hợp đồng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về Ngân hàng, kể cả tập
quán thương mại về ngân hàng.
3. Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng(HĐTD) của
tổ chức tín dụng (TCTD)
[email protected] - 362612 2
LUẬT NGÂN HÀNG
a) Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng:
Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tính
chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. Để tránh những rủi
ro này, các tổ chức tín dụng ngày nay thường thực hiện việc thẩm định tín dụng với
tám biện pháp thẩm định sau: tính cách người đi vay (character), tư cách của người
đi vay (capacity), khả năng trả nợ (capability), dòng tiền (cashflow), vốn (capital),
điều kiện hoạt động (conditions), tài sản chung (collectability) và tài sản thế chấp
(collateral).
b) Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích:
Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ
bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm
nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự
điều chỉnh theo pháp luật.
c) Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận:
Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp bên vay có
thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp
thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng
thời gian đã gia hạn.
4. Phân loại cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
Với sự phát triển không ngừng và đa dạng hóa nhiều hoạt động ngân hàng

của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín
dụng chấp nhận cho vay.
c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
- Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sử
dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình. Nếu bên vay vi
phạm sử dụng vào những mục đích khác thì bên cho vay có quyền áp dụng các chế
tài thích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thời
hạn…
- Cho vay tiêu dùng: bên tham gia vay cam kết số tiền vay sẽ được sử dụng vào
việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm
nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, hay sử dụng vào mục đích học tập…
c) Căn cứ vào phương thức cho vay:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD làm thủ tục vay vốn
cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. TCTD áp dụng phương thức cho vay này khi
khách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay
vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng
đối với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất
[email protected] - 362612 4
LUẬT NGÂN HÀNG
– kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần
Căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách
hàng, tài sản bảo đảm tiền vay, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận một
hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản
xuất, kinh doanh.
- Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự
án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời
sống.
- Cho vay hợp vốn: Theo phương thức này, một nhóm TCTD cùng thực hiện cho
vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó,

trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời gian nhất định.
Đặc điểm của hợp đồng tín dụng:
• Hợp đồng tín dụng phải được lập dưới hình thức bằng văn bản.
• Nội dung hợp đồng thể hiện sự đồng ý giữa bên cho vay chấp nhận cho bên
vay sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có
hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm.
• Về chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiện luật
định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện vay vốn do pháp
luật quy định. Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền, bao gồm
tiền mặt và bút tệ.
• Hợp đồng tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay.
Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn.
• Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của bên
cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề cho
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay.
2. Chủ thể của hợp đồng tín dụng
a. Bên cho vay:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủ
thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các điều kiện sau:
 Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
 Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
 Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
 Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng
với khách hàng.
Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng (TCTD), muốn trở thành chủ
thể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện
như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
có người đại diện hợp pháp. Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng
[email protected] - 362612 6
LUẬT NGÂN HÀNG

cho thấy, có nhiều trường hợp bên chủ động giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là
tổ chức tín dụng chứ không phải là khách hàng, nhằm tăng cường khả năng cạnh
tranh và mở rộng thị trường tín dụng. Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên
phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngân hàng cổ phần, ngân
[email protected] - 362612 7
LUẬT NGÂN HÀNG
hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong trường hợp
này, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho tổ chức, cá
nhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vay
vốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựa
chọn là bên đối tác. Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thường
đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những ước khoản cụ
thể để cho bên kia xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, do một thư chào mời có thể
không nhất thiết phải là một văn bản dự thảo hợp đồng nên trong thực tế, nếu bên
tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung của thư chào mời đó
thì không vì thế mà hợp đồng tín dụng được coi là đã hình thành.
Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng:
Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ –
pháp lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với
bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không. Do tính đặc biệt quan
trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi
hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính
độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu
thẩm định và khâu quyết định cho vay. Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của
khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho
vay. Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách
hàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho vay. Việc từ chối cho vay
không có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đối
kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên

bản viết và văn bản điện tử. Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua phương
tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.
Các hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và
có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch.
5. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với
pháp luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làm
phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng
tín dụng.
Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng
tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
[email protected] - 362612 9
LUẬT NGÂN HÀNG
 Điều khoản về điều kiện vay vốn. Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên cần
ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa
mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực.
 Điều khoản về đối tượng hợp đồng. Trong điều khoản này, các bên phải thỏa
thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín
dụng đáo hạn.
 Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng
tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày
ký hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về
khả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏa
thuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
 Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay. Đây là một điều khoản rất
quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế,
các bên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng
(trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay
được thỏa thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu

bồi thường thiệt hại (nếu có).
b) Quyền và nghĩa vụ của bên vay:
- Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi ký kết, thực
hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng.
- Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc các vi
phạm hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng.
- Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng.
- Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả và đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng.
- Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm hợp đồng tín dụng
và tiền bồi thường thiệt hại cho bên cho vay (nếu có).
7. Vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng
a) Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng
 Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng phải có đủ năng lực pháp luật và năng
lực hành vi dân sự
 Mục đích và nội dung của HĐTD không trái pháp luật đạo đức và xã hội.
 Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng và tự do ý chí.
 Hình thức của HĐTD phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân hàng.
b) Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ đó
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh. Trên
thực tế, pháp luật của từng nước có những quy định rất khác nhau về thời điểm
[email protected] - 362612 11
LUẬT NGÂN HÀNG
phát sinh hiệu lực của HĐTD. Còn ở Việt Nam, theo Đ405 BLDS 2005 ta có thể lý
giải rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểm các bên đã thỏa
thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản
HĐTD.

LUẬT NGÂN HÀNG
Tùy thuộc vào mức độ hậu quả thực tế xảy ra mà có 2 loại trách nhiệm pháp
lý phát sinh khi có việc vi phạm HĐTD:
- Trách nhiệm nộp phạt vi phạm HĐTD: nhằm để nâng cao tính kỷ luật hợp đồng
nên không cần phải chứng minh có thiệt hại vật chất xảy ra. Loại trách nhiệm
này do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định pháp luật.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD: được áp dụng khi có thiệt
hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm. Số tiền
bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ
quan tài phán có thẩm quyền.
b) Tranh chấp phát sinh từ HĐTD và cơ chế giải quyết tranh chấp
- Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình trạng pháp lý của quan hệ HĐTD, trong
đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và
nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD.
- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải qua trung
gian.
- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán.
III.THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Trong những năm qua, pháp luật về hoạt động cho vay theo HĐTD của các
TCTD đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tế hoạt động
cho vay của ngân hàng cho thấy, đã phát sinh nhiều bất cập trong các chính sách
của Nhà nước, thực tiễn pháp lý về hoạt động này vẫn còn tồn tại không ít những
vấn đề bất cập.
• Thứ nhất, một số quy định cho vay chưa phù hợp với thực tiễn của hoạt động tín
dụng ngân hàng. Điều 126 Luật TCTD 2010 hay Điều 19 của Quy chế cho vay của
TCTD ban hành kèm theo Quyết định 1627/2011/QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12
năm 2001 quy định về những trường hợp không được cho vay. Quy định này còn
hơi cứng nhắc, nếu họ có tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng một cách hợp
pháp và muốn sử dụng để cầm cố thế chấp tại ngân hàng họ đang quản lý hoặc làm

• Thứ tư, các quy định khống chế lãi suất trần không phù hợp. Tại Điều 476 Bộ
Luật dân sự quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt
quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay
tương ứng”. Theo phân tích của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, quy định này không
phù hợp bởi các lý do sau:
- Một là, việc khống chế trần lãi suất cho vay như thời gian qua là biện pháp can
thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ
động và linh hoạt của các tổ chức tín dụng trong vấn đề huy động vốn và cho vay,
vì lãi suất hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường.
[email protected] - 362612 14
LUẬT NGÂN HÀNG
- Hai là, việc khống chế trần lãi suất cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các loại
hình tín dụng vì mỗi loại hình tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác
nhau, vì vậy lãi suất cho vay khác nhau. Chính sách lãi suất trần cứng nhắc làm
cho các ngân hàng rất khó đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, mặt khác, cũng làm
hạn chế sự phát triển của các dịch vụ tài chính mới của các ngân hàng như tín dụng
bán lẻ, tín dụng tiêu dùng, đây là những sản phẩm tất yếu của tổ chức tín dụng
hiện đại.
- Ba là, để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ,
ngân hàng nhà nước đã có các công cụ để kiểm soát như lãi suất tái chiết khấu, lãi
suất tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và điều hành khối lượng tiền cung ứng
mà không cần giải pháp hành chính cứng nhắc như Điều 476 Bộ luật dân sự quy
định.
- Bốn là, Nghị quyết số 23/2008/NQ – QH12 ngày 6/11/2008 của Quốc hội khóa
XII, kỳ họp thứ tư, trong đó cho phép “ Các tổ chức tín dụng điều hành lãi suất
cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của
pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản
xuất kinh doanh có hiệu quả cao.” Để thực hiện Nghị quyết trên của Quốc hội,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ – CP ngày 11/12/2008 về
những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, trong đó đã cho phép

đang gặp phải rất nhiều khó khăn, trong đó có rào cản từ chính khuôn khổ pháp lý
về xử lý tài sản bảo đảm.
IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI QUYẾT NHỮNG HẠN CHẾ CỦA
PHÁP LUẬT PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CHO VAY
1. Cần quy định hạn mức cho vay, các hạn chế đảm bảo an toàn phù hợp với
thực tế thị trường
Luật nên nới lỏng hạn mức, đồng thời, tăng cường biện pháp đảm bảo an toàn
khác như chế độ cung cấp thông tin, biện pháp xử lý khi vốn ngân hàng, nên quy
định giới hạn cấp tín dụng đối với ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng là như nhau
nhằm đảm bảo quyền lợi và nâng cao trách nhiệm, tính tự chủ cho các TCTD.
2. Phát triển hệ thống dịch vụ thông tin về khách hàng
Trong quan hệ tín dụng, một bên thường không biết tất cả các thông tin về
bên kia. Sự không cân bằng về thông tin đó gọi là thông tin không đối xứng. Để
giải quyết được tình trạng này, có nhiều bịên pháp đặt ra.Về phía các TCTD, để
thoả mãn các nhu cầu thông tin về khách hàng, thường dựa trên cơ sở giấy tờ, tài
liệu mà khách hàng cung cấp hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
hay sử dụng một số biện pháp khác để thu thập. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động cấp
tín dụng ngày càng mở rộng, các khách hàng của TCTD ngày càng đa dạng và
phong phú, cùng với nó việc nắm bắt các thông tin về khách hàng ngày càng trở
[email protected] - 362612 16
LUẬT NGÂN HÀNG
nên khó khăn hơn. Do nhu cầu thông tin lớn, trong khi bộ phận chuyên môn của
TCTD không thể giải quyết được hết nhu cầu đó, nên hình thành các doanh nghiệp
chuyên thu thập và cung cấp thông tin về khách hàng là giải pháp hữu ích và phù
hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Điều đó góp phần giảm thiểu
những rủi ro về thông tin của TCTD khi có một tổ chức chuyên nghiệp thực hiện.
Việc xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động của loại doanh nghiệp này là rất cần
thiết, sao cho doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về độ trung thực và tính chính
xác của các thông tin mà mình cung cấp, bên cạnh đó cần phải giới hạn các thông
tin mà doanh nghiệp này được phép cung cấp đảm bảo không vi phạm các quy

nguy cơ tiềm ẩn đang rình rập và đe doạ ngân hàng đằng sau các khoản nợ quá hạn
đó.
Thứ hai ,về biện pháp xử lý nợ quá hạn: việc TCTD phân tích nợ quá hạn
theo định kỳ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp TCTD nắm được thực trạng chung của
đơn vị và của từng loại cho vay, từng nhóm khách hàng cụ thể, trên cơ sở đó có thể
xử lý nợ một cách thích hợp và có hiệu quả cao. Thông qua phân tích nợ, TCTD
cần đề ra hướng giải quyết hay biện pháp xử lý thích hợp với TCTD, với từng
nhóm khách hàng, và từng món vay cụ thể.
Xử lý quỹ dự phòng bù đắp rủi ro. Đây là một trong những biện pháp quan
trọng để lành mạnh hoá tài chính của các TCTD. Để thực hiện đúng đối tượng và
có hiệu quả biện pháp này, TCTD cần quan tâm: thực hiện nghiêm túc và chính
xác việc phân loại tài sản “có”, trích lập qũy dự phòng theo đúng quy định; rà soát
các khoản nợ khó đòi, có khả năng tổn thất để xác định đúng các khoản nợ thuộc
đối tượng xử lý bù đắp rùi ro; áp dụng triệt để các biện pháp tận thu; lập hồ sơ xử
lý tài sản bảo đảm đầy đủ, chính xác, hợp pháp, hợp lệ, đúng thời gian quy định;
xử lý bù đắp rủi ro theo đúng quy định và thẩm quyền giải quyết của từng cấp.
Khai thác các tài sản bảo đảm tiền vay được coi là biện pháp quan trọng trong
việc xử lý nợ quá hạn của TCTD. Vì tài sản bảo đảm nợ vay là nguồn thu hồi nợ
thứ hai của TCTD khi phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể
thực hiện hoặc thực hiện kém hiệu quả không có khả năng trả nợ. Trong trường
hợp đó, TCTD cần tiến hành rà soát lại toàn bộ hồ sơ, thủ tục bảo đảm tiền vay,
thực hiện biện pháp xử lý tài sản phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Việc xử lý
cần phải tiến hành khẩn trương nhanh chóng, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan hữu
quan.
b) Đối với nợ xấu
• Về phía các TCTD:
Thứ nhất, đối với các TCTD tính thanh khoán chưa đe dọa sự an toàn của cả
hệ thống: Phải tự xử lý thông qua các biện pháp đã và đang làm như: bán nợ, đòi
trực tiếp, thanh lý tài sản thế chấp, sử dụng quỹ dự phòng bù đắp các khoản nợ
[email protected] - 362612 18

trước mắt cũng như lâu dài xử lý và ngăn ngừa nợ xấu.
Thực hiện tái cơ cấu DN Nhà nước (là nhóm khách hàng có số dư nợ lớn nhất
của ngân hàng), mà trọng tâm là tái cơ cấu tài chính DN hiện nay đang tiến hành
theo đề án mà Chính phủ đã phê duyệt, nhằm nâng cao năng lực của các DNNN
[email protected] - 362612 19
LUẬT NGÂN HÀNG
được coi là giải pháp tích cực. Xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các TCTD, các ngân hàng
phải đi đôi với việc tiến hành tái cơ cấu DN. Không thể tồn tại một hệ thống ngân
hàng mạnh trên cơ sở một nền kinh tế có các DN yếu kém.
C.KẾT LUẬN
Từ những phân tích, đánh giá trên. Nhìn chung, bên cạnh những mặt tích cực
trong pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, thì vẫn còn
tồn tại những hạn chế có thể gây ra những rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Vấn đề
đặt ra là cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật để đảm bảo an toàn cho hệ
thống các tổ chức tín dụng, nói rộng ra là sự an toàn cho hệ thống tài chính nước
nhà. Trước những biến động của nền tài chính thế giới ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến
tài chính trong nước và sự điều chỉnh liên tục mức lãi suất cơ bản của ngân hàng
nhà nước sẽ ảnh hưởng mạnh đến chính sách cho vay của các tổ chức tín dụng thì
pháp luật điều chỉnh hoạt động hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng cần thiết
phải hoàn thiện.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách, Giáo trình
[email protected] - 362612 20
LUẬT NGÂN HÀNG
1. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình “Luật Ngân Hàng Việt Nam”, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội – 2012.
2. Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
3. Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001
của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status