nghiên cứu và tìm hiểu công cuộc cải cách tài chính công ở nước ta trong thời gian qua - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Cải cách hành chính là một quá trình tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang
tính cơ bản và có hệ thống đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Tuỳ
theo điều kiện cụ thể của mỗi nước và trong từng thời kỳ, nội dung của cải cách hành
chính có phạm vi và mức độ khác nhau Ở nước ta, công cuộc cải cách hành chính
bắt đầu được triển khai từ khoảng giữa những năm 90 thế kỷ XX với sự ra đời của
Nghị quyết 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ. Thực tế cho thấy chỉ có thể thực
hiện cải cách hành chính thành công khi tiến hành đồng thời với việc cải cách tài
chính công.
Mối quan hệ khăng khít giữa cải cách hành chính và cải cách tài chính công thể
hiện ở các mặt sau: việc thực thi hoạt động của bộ máy nhà nước gắn liền với cơ chế
tài chính hỗ trợ cho các hoạt động đó; việc phân cấp quản lý hành chính phải tương
ứng với sự phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo kinh phí cho hoạt động
có hiệu quả ở mỗi cấp; các cấp chính quyền trong bộ máy hành chính đều có trách
nhiệm và quyền hạn có ý nghĩa quyết định trong quản lý tài chính công ở phạm vi
quản lý của mình; các thể chế về tài chính công có tác dụng chi phối hoạt động của các
cơ quan nhà nước chủ trương của Chính phủ; tỷ trọng và cơ chế chi tiêu kinh phí ngân
sách để trả lương cho đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước có tác động
quan trọng đến việc phát huy năng lực của cán bộ, công chức trong công tác; thông
qua tài chính công, nhà nước thực hiện giám sát bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động
của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Với những luận điểm như trên, việc nghiên cứu và tìm hiểu công cuộc cải cách
tài chính công ở nước ta trong thời gian qua thông qua đề tài tiểu luận “ “ nhằm làm rõ
những thành quả đạt được cũng như những mặt tồn tại của đề án. Qua đó, chúng em đi
đến những kết luận và đề xuất dựa trên chiến lược tài chính quốc gia đến năm 2020, đề
ra những giải pháp khắc phục các tồn tại, những kiến nghị đối với các cơ quan hữu
trách nhằm góp một phần công sức đưa đề án cải cách hành chính nói chung và đề án
cải cách tài chính công nói riêng được thực hiện một cách thành công nhất.
Do thời gian và khả năng nghiên cứu của nhóm còn hạn chế, bài tiểu luận chưa
thể đề cập hết đến các khía cạnh của vấn đề và còn nhiều sơ sót nhất định, các giải
pháp đưa ra chưa đầy đủ và mang tính chủ quan, rất mong được sự đóng góp ý kiến

trò quản lý kinh tế của nhà nước, có thể nói, đã phát huy đến mức độ cao
 Thu chi của tài chính công chủ yếu là thông qua các đạo luật về ngân sách quốc
gia, đạo luật thuế, đạo luật hiệp ước tài chính tiền tệ vừa mang tính chất cưỡng chế vừa
mang tính chất tự nguyện.
 Tài chính công mang tính chất hiệu quả và công bằng nhằm bù đắp tổn thất và
sửa chửa khuyết tật của kinh tế thị trường
1.2.
1. Giới thiệu về đề án cải cách tài chính công ở nước ta
1.2.1 Sự cần thiết phải cải cách Tài chính công
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cải cách tài chính công là một đòi hỏi khách
quan và phù hợp với các điều kiện đảm bảo tính khả thi của cải cách.
Đối với thực trạng tài chính công hiện nay, bên cạnh một số kết quả bước đầu đạt
được, tài chính công vẫn còn những hạn chế cần sớm khắc phục, đó là:
 Đối với lĩnh vực NSNN: bố trí ngân sách còn bị động, co kéo với các mục tiêu
ngắn hạn, cơ cấu chi ngân sách còn bất hợp lý. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân
sách còn kém hiệu quả, sử dụng lãng phí.
 Đối với tài chính của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: định mức, chế
độ chi tiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ. Chưa tạo động lực khuyến khích sử
dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến.
 Xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính Nhà Nước và những thể chế mới về
NSNN cũng đặt ra yêu cầu cải cách tài chính công một cách cấp thiết.
1.2.2 Mục tiêu cải cách tài chính công
Với tư cách là một công cụ của chính sách tài chính quốc gia, liên quan đến việc
thực hiện phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính công, nên vấn đề xuyên suốt của
đề án cải cách tài chính công phải thực hiện 3 mục tiêu chiến lược:
3
 Thứ nhất, tăng cường tiềm lực tài chính công; đồng thời tôn trọng kỳ luật tài
chính tổng thể trong chi tiêu công để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế bền vững và đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo. Theo chiến lược phát triển tài chính giai
đoạn 2001 – 2020, trong sự cân đối với các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì quy

chế nhằm tạo ra một khu vực công năng động, bao gồm tăng cường xây dựng các thể
chế về chính sách, chính quyền có khả năng xây dựng và phối hợp chính sách trong
việc lựa chọn mục tiêu chiến lược; phân bổ nguồn lực gắn kết với kế hoạch và chính
sách; thực hiện kiểm soát và đánh giá các kết quả hoạt động; công chức phải có động
cơ và năng lực quản lý tốt; ngắn chặn nạn tham nhũng….
Có thể mô tả mối quan hệ giữa quản lý chi tiêu công và quản lý của nhà nước qua
sơ đồ sau:

• Đổi mới chính sách tài chính công phải dựa trên hệ thống các nguyên lý quản lý
tài chính tốt, bao gồm:
- Tính tổng thể và tính kỷ luật tài chính
Tính tổng thể đòi hỏi chính phủ phải nắm bắt toàn diện những vấn đề đang tồn tại
của quản lý chi tiêu công, hiểu biết tất cả những mối liên kết và đánh giá những trở lực
thuộc về định chế, sau đó tìm ra những điểm tiếp cận thích hợp để đẩy mạnh quá trình
cải cách chi tiêu công theo từng giai đoạn phát triển. Trong chi tiêu công, các quyết
định chi tiêu được đưa ra phải dựa vào cơ sở kỷ luật tài chính và có sự cạnh tranh,
đánh đổi giữa các nhu cầu với nhau. Để kiểm soát tài chính có kết quả, yêu cầu trong
5
Thiết lập
chính sách
(1)
Đánh giá chính
sách (6)
ánh giá k t Đ ế
quả
(5)
Kiểm soát sự
tiến triển (4)
Phân bổ nguồn
lực (2)

non kém, chưa tương xứng với tiềm lực to lớn của xã hội, các tổ chức kinh tế trong và
ngoài nước. Như vậy, nếu không đẩy mạnh cải cách khu vực công một cách kiên
quyết, sẽ làm suy yếu vai trò của nhà nước, không khơi dậy đuơc nguồn lực của khu
vực tư nhân phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế.
6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH TÀI CHÍNH
CÔNG Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2011
2.1. Lộ trình cải cách Thuế
 Cải cách Thuế bước 1 (giai đoạn 1990-1995).
Cải cách thuế bước 1 của Việt Nam có thể được coi là bắt đầu kể từ năm 1989
cùng với cuộc cải cách giá cả nhưng trên thực tế nhiều công trình nghiên cứu đồng ý
lấy thời điểm năm 1990 làm năm bắt đầu cải cách. Điều này do những chuyển biến
thực về mặt tư duy thực hiện trong việc thay thế những sắc thuế không còn phù hợp
bằng các sắc thuế mới, chỉ được tiến hành từ năm 1990 trở đi.
 Sự cần thiết phải cải cách thuế.
Những sắc thuế cũ không còn phù hợp, tồn tại một số cơ chế mang tính phân
biệt đối xử. Những tồn tại này của hệ thống thuế ngày càng ảnh hưởng đến sự phát
triển của nền kinh tế đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa, sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó cần thiết phải thay đổi hệ thống
sắc thuế cũ nhằm phù hợp với nền kinh tế đa thành phần bằng việc thiết lập nền tảng
cơ bản cho khối kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là khuyến khích cá nhân bỏ vốn
kinh doanh.
 Mục tiêu cải cách thuế.
- Phải làm cho thuế trở thành công cụ chủ yếu của Nhà nước trong quản lý và
điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Thuế phải là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
- Thuế phải đảm bảo sự bình đẳng giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh
cũng như các thành phần kinh tế khác, điều tiết thu nhập, góp phần thực hiện công
bằng xã hội giữa các tầng lớp dân cư.
- Thuế phải có tính pháp lý cao.

STT Loại thuế Năm ban hành
1
2
3
4
5
6
Thuế doanh thu
Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế lợi tức
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập
cao
1990
1990
1991
1990
1990
1993
8
7
8
9
10
11
12
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thuế nhà đất
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế tài nguyên

Nam vào bước cải cách thuế thứ hai.
 Mục tiêu cải cách thuế.
Một là, cải cách thuế phải nhằm mục tiêu tiếp tục khắc phục cho được những
khiếm khuyết hiện hành, và đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ Công nghiệp hóa-
hiện đại hóa theo chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2010.
9
Hai là, về mục tiêu ngân sách, cải cách thuế không được làm giảm thu ngân sách
hang năm. Điều này đòi hỏi ở một số loại thuế cần có thuế suất hợp lý và diện thu
được mở rộng theo hướng bồi dưỡng nguồn thu, tạo nguồn thu.
Ba là, về mục tiêu chính sách, chính sách thuế mới phải góp phần quan trọng vào
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, đảm bảo
sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế.
Bốn là, về mục tiêu hội nhập, hệ thống thuế Việt Nam phải đảm bảo từng bước phù
hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ hợp tác
giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới.
Năm là, về mặt kỹ thuật, tính đơn giản và rõ rang của hệ thống thuế tiếp tục được
đề cao, đã có sự nhấn mạnh đến vấn đề khả thi của hệ thống thuế: “Chính sách thuế
ban hành là để người dân thực hiện, do vậy phải làm sao để giúp cho các đối tượng
nộp thuế và người thu thuế có thể hiểu được thấu đáo chính sách thuế, từ đó mới góp
phần làm cho họ tuân thủ, thực hiện chính sách thuế một cách đúng đắn và nghiêm
chỉnh. Hệ thống thuế đơn giản sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện dễ dàng, tinh giản
được bộ máy quản lý và tiết kiệm được chi phí quản lý thuế”.
 Lộ trình cải cách thuế.
Thực hiện theo tinh thần chỉ đạo đã nêu, cải cách thuế bước 2 đã tiến hành một số
bước đi mang tính đột phá. Đáng chú ý là đã xây dựng được một hệ thống luật tương
đối mới mẻ và hoàn thiện, tiến bộ hơn, trình Quốc hội thông qua và Chính phủ ban
hành trong đợt tháng 5/1997, bao gồm:
- Luật thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 thay cho luật thuế doanh
thu.
- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho luật thuế lợi tức.

 Cải cách Thuế bước 3 (giai đoạn 2005-2010).
 Sự cần thiết phải cải cách thuế.
Trước hết, do đất nước đang đẩy mạnh CNH-HĐH, nền kinh tế sẽ được xây dựng
trên nền tảng sản xuất công nghiệp hiện đại, quản lý theo yêu cầu hiện đại hoá: tin học
hoá, tự động hoá. Quản lý hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như quản lý của
Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ cũng phải sử dụng các công cụ hiện đại và
phương pháp quản lý hiện đại.
Thứ hai, trong giai đoạn tới, yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao đòi hỏi chính
sách thuế phải tương đồng với quốc tế, cách thức quản lý phù hợp với các chuẩn mực
quản lý thuế quốc tế nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
11
và các nhà đầu tư trong nước ra nước ngoài. Sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước
tiên tiến cả về chính sách thuế và nhất là cách quản lý thuế hiện nay còn có khoảng
cách rất xa, bắt buộc ngành Thuế phải cải cách để tránh tụt hậu so với các nước trong
khu vực và nhằm nâng cao vị thế công tác quản lý thuế Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, mặc dù đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong thời kỳ đổi mới, nhưng
công tác quản lý thuế vẫn còn nhiều bất cập trên tất cả các lĩnh vực từ thể chế đến cách
thức quản lý; quản lý thuế hầu hết dựa trên kinh nghiệm, chưa khoa học, chưa hợp lí.
 Mục tiêu cải cách thuế
 Mục tiêu tổng quát
Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu hợp lý phù hợp với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hoá công tác quản lý
thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn lực tài
chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện
bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế.
 Định hướng
Mục tiêu ngân sách:
-Hệ thống thuế và phí tiếp tục chiếm khoảng 75-80% tổng thu NSNN hằng năm,
điều này còn phụ thuộc vào các nguồn thu khác
-Tổng thu NSNN hằng năm phấn đấu đạt trên 25% GDP, góp phần tăng tiềm lực

- Huy động đầy đủ các nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước, đảm bảo nhu cầu chi
tiêu thường xuyên của Nhà nước và dành một phần cho tích luỹ phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảm bảo tỷ lệ động viên về thuế vào Ngân
sách Nhà nước bình quân hàng năm đạt từ 20% - 21% GDP.
- Thể hiện và tạo ra những nội dung cụ thể phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, đồng thời bảo đảm được yêu cầu về bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn, có điều
kiện một cách hợp lý, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển,
bảo đảm lợi ích quốc gia.
- Tạo môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng. Áp dụng hệ thống thuế thống nhất
không phân biệt giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đẩy mạnh cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai;
tách chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế.
13
- Nhanh chóng hiện đại hoá và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý thuế; khắc
phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém làm cho bộ máy quản lý thuế trong sạch, vững
mạnh.
 Lộ trình cải cách một số sắc thuế chủ yếu.
- Thuế giá trị gia tăng: Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng giảm bớt số lượng
nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ
thuế được liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh; áp dụng một
mức thuế suất để đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và đơn giản trong việc tính thuế
giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ; hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới xác
định ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng để thực hiện một phương pháp tính
thuế khấu trừ, phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng mở rộng đối
tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cho phù
hợp với mục tiêu điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng. Tiến tới xoá bỏ miễn,
giảm thuế tiêu thụ đặc biệt để đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế và
nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hoá sản xuất trong nước và nhập khẩu.

 Cải cách chi tiêu công và hệ thống định mức chi tiêu công
• Hoàn thiện cơ chế quản lý, cấp phát, thanh toán chi NSNN
• Hoàn thiện hệ thống định mức chi tiêu công
 Hoàn thiện môi trường pháp lý về tài chính công
2.2. Đánh giá tình hình thực hiện cải cách Thuế
2.2.1. Thành tựu đạt được trong việc cải cách thuế
Có thể nói từ năm 1990 đến nay, khi điều hành cải cách hệ thống thuế, tình hình
trong nước và thế giới có nhiều yếu tố không thuận lợi. Nhằm bảo đảm được những
mục tiêu lớn đặt ra trong quá trình cải cách, toàn ngành thuế đã nỗ lực xây dựng một
hệ thống chính sách, một cơ chế quản lý phù hợp yêu cầu thời kỳ mới.
Ðến nay, đã xây dựng một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các
nguồn thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, từng bước thích ứng
yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Hệ thống
chính sách thuế mới gồm chín sắc thuế cơ bản và một số loại thu dưới hình thức phí và
lệ phí đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, góp phần
15
thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nước, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăng
thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Tổng thu thuế và phí luôn hoàn thành vượt mức dự toán thu hằng năm được Quốc
hội thông qua, đạt tốc độ tăng trưởng cao. Năm 2000 tăng 13,7 lần so với năm 1990.
Số thu về thuế và phí trong tổng thu NSNN năm 1990 chỉ chiếm 76,78%, đến năm
2003 đã chiếm 92,9%. Tỷ lệ động viên qua thuế và phí/GDP đã đạt và vượt mục tiêu
đề ra, đến năm 2003 đạt 21,8% GDP. Hệ thống chính sách thuế mới cũng đã xóa bỏ sự
chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng trong cơ chế thị trường.
16
Quyết toán thu ngân sách Nhà nước
2000 2002 2003 2004
TỔNG THU 90749

Nguồn: Tổng cục thống kê
Quyết toán thu ngân sách Nhà nước
2005 2006 2007 2008
TỔNG THU 228287 279472
31591
5
416783
Thu trong nước (Không kể thu từ dầu thô)
11982
6
145404
17429
8
229786
Thu từ doanh nghiệp Nhà nước 39079 46344 50371 68490
Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 19081 25838 31388 43848
Thu từ khu vực công, thương nghiệp, dịch vụ
ngoài quốc doanh
16938 22091 31178 43524
Thuế sử dụng đất nông nghiệp 132 111 113 98
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 4234 5179 7422 12940
Lệ phí trước bạ 2797 3363 5690 7404
Thu xổ số kiến thiết 5304 6142
Thu phí xăng dầu 3943 3969 4457 4517
Thu phí, lệ phí 4192 4986 4059 6653
Các khoản thu về nhà đất 17757 20536 33925 38202
Các khoản thu khác 6369 6845 5695 4110
Thu từ dầu thô 66558 83346 76980 88800
Thu từ hải quan 38114 42825 60381 90922
Thuế xuất. nhập khẩu. thuế tiêu thụ đặc biệt

Đối với người nộp thuế (NNT), ngành Thuế đã triển khai và hướng dẫn NNT cài
đặt miễn phí, thực hiện thông suốt các chương trình ứng dụng hỗ trợ trong kê khai thuế
theo công nghệ mã vạch 2 chiều, đăng ký mã số thuế, quyết toán thuế thu nhập cá
nhân qua online, thực hiện thuế hàng tháng qua mạng. Việc tổ chức khai thuế qua
18
mạng thực sự mang lại tiện ích, giảm chi phí đi lại cho DN và đáp ứng yêu cầu hiện
đại hoá của ngành Thuế.
Ngành Thuế đã phối hợp thực hiện kết nối dữ liệu thu nộp NSNN giữa 2 cơ quan
kho bạc và thuế, thực hiện tốt công tác uỷ nhiệm thu thuế qua ngân hàng tạo thuận lợi
cho DN trong việc nộp thuế và cũng như rút ngắn thao tác nội bộ, xoá bỏ trùng lắp
nhập chứng từ nộp cho cơ quan thuế, hạn chế thất thoát chứng từ luân chuyển giữa cơ
quan Kho bạc, Ngân hàng và Thuế. Hiện nay tại Cục Thuế đang trong giai đoạn hoàn
chỉnh cơ sở dữ liệu để triển khai các kios thông tin dữ liệu phục vụ tự tra cứu của NNT
khi có yêu cầu.
2.2.2 Những bất cập và tồn tại trong việc cải cách Thuế
2.2.2.1 Hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập
Trong những năm gần đây, luật thuế của Việt Nam được cải thiện rất nhiều.
Nguyên tắc tự khai, tự nộp tạo ra nhiều tiện lợi cho người nộp thuế, đồng thời cũng
kiểm soát chặt chẽ hơn việc thu, nộp thuế và giảm thất thu ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, các thủ tục hành chính về thuế vẫn còn những vấn đề bất cập mà các
nhà hoạch định chính sách thuế cần phải cân nhắc.
Một là, hệ thống chính sách thuế hiện nay vẫn còn phức tạp và thiếu tính ổn
định, làm cho chi phí quản lý thu thuế lớn, ảnh hưởng tới hiệu quả thu thuế, tạo điều
kiện cho việc trốn thuế và bóp méo hệ thống thuế. Đồng thời, nó có quá nhiều thuế
suất, nhiều chế độ ưu đãi, miễn giảm khác nhau đã cản trở quá trình hội nhập quốc tế
trên các phương diện: khuyến khích xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN
và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Hai là, việc quy định các sắc thuế thiếu tính rõ ràng, còn lẫn lộn trong chức
năng của từng sắc thuế, thể hiện ở phạm vi của đối tượng chịu thuế, các mức thuế
suất quá cao vì gặp nhiều loại thuế trong một sắc thuế. Ví dụ, thuế tiêu thụ đặc biệt,

Tuy nhiên, nếu nhân mức thấp nhất này với số doanh nghiệp đang nộp thuế hiện
nay là 320.000, thì thời gian doanh nghiệp phải dành ra lo các thủ tục thuế đã lên tới
14 triệu ngày hoặc 42 triệu ngày công doanh nghiệp phải trả cho nhân viên (ngày làm
việc tám giờ). Con số nếu nói riêng thì không lớn nhưng nếu tính chung toàn thể doanh
nghiệp đã gây ra một sự lãng phí không nhỏ cả về thời gian và tiền bạc.
Thêm vào đó, về mặt thủ tục ngành thuế lại có con số “khổng lồ” về các thủ tục
hành chính, trong số 338 thủ tục có 5 thủ tục cấp Tổng cục, 172 thủ cục cấp Cục và
gần 160 thủ tục cấp chi Cục,
20
Hơn thế nữa, chúng ta điều biết “Nộp thuế là quyền và nghĩa vụ của công dân”.
Thế nhưng để nộp thuế, hàng ngàn người đã phải xếp hàng và chờ đợi trong nhiều giờ
liền để nộp thuế gây nên cảnh chen chúc tại nơi nộp thuế, thậm chí không ít doanh
nghiệp còn mệt mỏi, bức xúc, lo lắng và bị ảnh hưởng đến kinh doanh vì thuế.
2.2.2.3. Hệ thống thông tin yếu kém, nghèo nàn về cơ sở dữ liệu
Hiện tại, ngành Thuế mới đưa ứng dụng CNTT vào công tác đăng ký mã số thuế,
xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế, kế toán sổ thuế, kế toán ngân sách, lập báo cáo
thống kê, quản lý công việc nội bộ.
Mô hình thuế hiện tại mới tự động hóa một số khâu tính thuế và chưa thống nhất
qui trình xử lý thông tin các loại thuế. Về phần hỗ trợ đối tượng nộp thuế mới dừng lại
ở việc cung cấp văn bản, thủ tục thuế trên mạng Internet, còn các dịch cụ điện tử khác
chưa được triển khai (công tác phục vụ đối tượng nộp thuế chủ yếu qua tuyên truyền
và phục vụ thủ công đơn lẻ).
Bên cạnh đó, công tác thanh tra vẫn chưa liên kết thông tin chặt chẽ với hệ thống
quản lý thu thuế, các chức năng nghiệp vụ trong hệ thống cũng chưa được tích hợp
thông tin (quản lý dữ liệu còn phân tán).
Mô hình hiện nay cũng vẫn chưa chuẩn hóa chế độ hạch toán số thuế phải nộp, đã
nộp giữa cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế và gặp rất nhiều khó khăn khi phải bổ
sung các loại thuế mới do quy định hành thu khác nhau.
Việc kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và với các cơ quan bên ngoài vẫn
còn rất sơ khai, việc kết nối thông tin giữa cơ quan Thuế, Hải quan và Kho bạc chưa

thuế, chuyên viên chính, kiểm soát viên chính của cơ quan quản lý thuế được thực hiện
thanh tra thuế. Tuy nhiên hiện nay các địa phương số lượng chuyên viên chính, kiểm
soát viên chính quá ít nên chưa đủ lực lượng để tổ chức các đoàn thanh tra thuế.
Đối với người nộp thuế, đặc biệt là các hộ kinh doanh do kiến thức hạn chế, lại
phân tán rộng trên địa bàn khác nhau nên việc tiếp cận theo phương thức quản lý thuế
mới bước đầu còn nhiều khó khăn.
22
2.
2.1.
2.2.
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI
PHÁP THỰC HIỆN CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG
TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
3.1. Định hướng tiếp tục thực hiện đề án cải cách tài chính công của Nhà nước ta
trong những năm sắp tới theo chiến lược tài chính giai đoạn 2001 – 2020 của
Chính phủ Việt Nam
Xu hướng chung hiện nay, các nước trên thế giới đang thúc đẩy một cách mạnh mẽ
cải cách hoạt động tài chính công. Có nhiều lý do, song chủ yếu vẫn là:
(1) Xét ở góc độ vật chất, tài chính công là một phần của cải của xã hội được
giao cho khu vực công sử dụng. Trên thực tế hiện nay, đa phần của cải đó đang bị khu
vực công sử dụng chưa hiệu quả như mong muốn, trong khi nguồn lực của đất nước có
hạn.
(2) Ở nhiều góc độ, hoạt động của tài chính công có ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nếu hoạt động của tài chính công được
triển khai theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế cải cách hành chính, đáp ứng những
đòi hỏi hợp lý của các lực lượng thị trường sẽ là động lực thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Ngược lại, nếu hoạt động của tài chính công không hiệu
quả, không thích ứng với bối cảnh kinh tế, xã hội mới, sẽ là lực cản cho quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.
(3) Cải cách hoạt động tài chính công là xu hướng phổ biến của các nước có

lĩnh vực tư nhân không thể hoặc chưa thể đảm đương được, từng bước giảm tỷ trọng
đầu tư Nhà nước trong tổng đầu tư xã hội.
(2) Tỷ lệ động viên từ nền kinh tế vào NSNN ở mức hợp lý; cân đối ngân sách tích
cực, giảm dần tỷ lệ bội chi NSNN.
24
(3) Đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia; duy trì dư nợ chính phủ và nợ
quốc gia trong giới hạn an toàn; tăng cường dự trữ Nhà nước đáp ứng kịp thời các nhu
cầu đột xuất của nền kinh tế.
(4) Phát triển đồng bộ các loại thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính và dịch vụ
tài chính tạo điều kiện cho việc huy động và định hướng các nguồn lực trong xã hội
cho đầu tư phát triển.
(5) Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công, đặc biệt nguồn vốn từ
NSNN; tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN; tăng cường đầu tư phát triển con người, cải cách
lĩnh vực giáo dục, y tế; cải cách tiền lương; từng bước xây dựng và củng cố hệ thống
an sinh xã hội.
(6) Cải cách cơ bản thể chế tài chính theo hướng bền vững, đồng bộ, hiện đại, theo
nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo động lực đủ mạnh cho các chủ
thể tham gia lao động, thực hiện tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng lành mạnh; khuyến khích
đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh; thiết lập môi trường kinh tế – xã hội an toàn, ổn
định với hệ thống an sinh xã hội bền vững; đồng thời đảm bảo vai trò chủ đạo của Nhà
nước trong điều tiết, định hướng nền kinh tế.
Trên cơ sở này, theo nhóm chúng tôi, cần cụ thể hóa các mục tiêu về cải cách tài
chính công như sau:
(a) Bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả các khoản chi tài chính của khu vực công.
Các khoản chi này đa phần là do NSNN đảm nhận, có đặc điểm không hoàn trả trực
tiếp, không có tính chất ngang giá, lại có phạm vi rộng, khối lượng chi lớn. Thực tế
của các nước cho thấy các khoản chi này hiệu quả thấp, lãng phí còn lớn.
(b) Cải cách đổi mới tài chính công phải hướng tới mục tiêu thúc đẩy mạnh mẽ
công cuộc cải cách hành chính nhà nước, bảo đảm cho bộ máy hoạt đông tốt hơn,
chuyên nghiệp hơn, điều hành có hiệu quả hơn hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status