Phân tích chiến lược Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu - Pdf 23

Môn : Quản trị chiến lược Nhóm 06
BÀI THẢO LUẬN
Môn: Quản trị chiến lược
Đề tài: Phân tích chiến lược Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)
I. Giới thiệu về NHTM ACB
 Logo:
 Tên pháp định : Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu
 Tên quốc tế : Asia Commercial Bank
 Tên viết tắt : ACB
 Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Tp. HCM
 Điện thoại : : 84.8.3929 0999
 Fax : 84.8.3839 9885
 Webside : www.acb.com.vn
 Email : [email protected]
 Ngân hàng TMCP Á Châu đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do
NHNNVN cấp ngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP. Hồ
Chí Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động. Với
ngành nghề kinh doanh chính (SBU):
 Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi
thanh toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận vốn từ các tổ chức tín
dụng trong và ngoài nước; Cho vay ngắn, trungvà dài hạn; chiết khấu thương phiếu, công
trái và giấy tờ có giá; đầu tư vào chứng khoán và các tổ chức kinh tế;
 Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
 Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc;
 Thanh toán quốc tế, bao thanh toán;
 Môi giới và đầu tư chứng khoán; lưu ký, tư vấn tài chính doanh nghiệp và bào lãnh
phát hành;
 Cung cấp các dịch vụ về đầu tư, quản lý nợ và khai thác tài sản, cho thuê tài chính
và các dịch vụ ngân hàng khác.
 Tầm nhìn chiến lược:
- Ngay từ ngày đầu hoạt động, ACB đã xác định tầm nhìn là trở thành ngân hàng

ROE(LN trước thuế/Vốn
CSH bình quân)
36,7% 31,8%
ROA( LN trước thuế/TTS
bình quân)
2,6% 2,1%
(Nguồn : Báo cáo tài chính hợp nhất ACB năm 2008,2009,và đến 30/9/2010)
Nhận xét: Qua kết quả hoạt động của ACB trong 3 năm, ta thấy ACB có sự phát triển bùng
nổ, vượt bậc qua từng năm :
Lớp: L1005SMGM0111
2
Môn : Quản trị chiến lược Nhóm 06
- Tổng tài sản không ngừng tăng lên với tốc độ tăng đáng nể: Năm 2009 tổng tài sản
tăng 59,5% so với năm 2008. Trong 9 tháng đầu năm 2010 tổng tài sản tăng 5,9% so
với cả năm 2009
- Huy động vốn là một hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ACB.Tốc độ tăng
trưởng huy động vốn ở mức cao. Trong 9 tháng đầu năm 2010 tổng vốn huy động
tăng 13,7% so với cả năm 2009
- Các chỉ tiêu: vốn điều lệ, tổng dư nợ cũng tăng lên qua từng năm
- Trong năm 2009 tổng lợi nhuận trước thuế tăng 10,8% so với năm 2008 tuy nhiên
lợi nhuận sau thuế lại giảm do ACB đã hết thời hạn được giảm 50% thuế suất.
Với các chỉ số tài chính trên ta có thể thấy phần nào vị thế của ngân hàng ACB trong
ngành ngân hàng Việt Nam.
II.Phân tích môi trường kinh doanh của NHTM ACB
2.1 Phân tích môi trường bên ngoài :
2.1.1 Ngành kinh doanh của ACB
Năm 2006, 2007 tốc độ tăng trưởng của các ngân hàng thương mại đang trong giai đoạn
phát triển với tốc độ cao thì khủng hoảng kinh tế xảy ra, nên năm 2008, 2009 các ngân
hàng đều gặp khó khăn lớn.
Hai mảng hoạt động chính là tín dụng và huy động vốn của ngành ngân hàng tăng trưởng

2.2.3 Tác động của môi trường vĩ mô
Nhân tố kinh tế :
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới tiếp tục được thực hiện toàn diện và
sâu sắc hơn. Kinh tế tăng trưởng nhanh, năm năm qua GDP tăng bình quân 7.5%, kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội năm năm tới đã được Quốc hội thông qua, phấn đấu sớm đưa nước
ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Về kinh tế, dự kiến tốc độ tăng GDP trung bình giai
đoạn 2011-2015 là 7 - 7.5%/ năm. Với tốc độ tăng trưởng đó, tới năm 2015 GDP bình quân
trên đầu người của Việt nam sẽ đạt gần 2.000 USD, tăng 1,7 lần năm 2010. Khi đó nước ta
sẽ vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp để ghi tên mình vào nhóm nước
có thu nhập trung bình. Với GDP đầu người đó nước ta đồng thời đã taọ được điều kiện để
bước vào giai đoạn “cất cánh” – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm 2008 đã tác động đến tất cả các lĩnh vực
kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động của các Ngân hàng thương mại (NHTM). Đối với
các NHTM, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảm
xuống, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các
dich vụ ngân hàng.
Việt Nam hiện vẫn còn là một nền kinh tế có quy mô không lớn. Tỷ lệ tiết kiệm trong
thu nhập còn thấp. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển lớn trong khi khả năng cung tiền vẫn hạn
chế từ hoạt động tiền gửi, 75% số tiền gửi đều ngắn hạn trong khi số còn lại có thời gian
chỉ từ 1-5 năm. Điều này tạo nên sự phụ thuộc vào nguồn cung tiền của ngân hàng nhà
Lớp: L1005SMGM0111
4
Môn : Quản trị chiến lược Nhóm 06
nước và quy mô của bản thân ngân hàng. Như vậy để tăng khả năng chủ động và đảm bảo
khả năng phát triển đòi hỏi ngân hàng phải lựa chọn giữa các chính sách như ra tăng quy
mô thông qua các đợt tăng vốn hay tập trung thu hút nguồn tiền gửi bằng việc tăng cường
dịch vụ khách hàng.
Cho đến nay thị trường tài chính hiện vẫn chưa hoàn thiện. Quá trình mở cửa tạo ra
những phân khúc thị trường mới, những dịch vụ và sản phẩm tài chính mới nhưng cùng lúc
đó thì vẫn thiếu các chế tài và luật lệ chi tiết khiến sự kiểm soát của chính phủ trong ngành

Môn : Quản trị chiến lược Nhóm 06
tại Australia phối hợp với Đơn vị tình báo kinh tế thực hiện - xếp hạng 144 quốc gia về
mức độ yên bình - theo định nghĩa là không có bạo lực.
Các yếu tố thể chế - luật pháp là yếu tố có ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh.
Các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ
ngành nào. Như vậy, ngành ngân hàng Việt Nam, tất nhiên, sẽ phải bắt buộc tuân theo chế
độ luật pháp tại Việt Nam. Nó sẽ phải tuân theo chính sách thuế, các đạo luật liên quan và
đặt biệt chịu sự điều tiết trực tiếp của NHNN Việt Nam.
Việc Việt Nam gia nhập, ký hết các hiệp định với WTO, đã tạo ra không ít những cơ
hội và thách thức to lớn cho các ngân hàng. Hội nhập quốc tế sẽ nâng cao tính cạnh tranh
và kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng sẽ khuyến khích tạo ra những ngân hàng có
quy mô lớn, tài chính lành mạnh và kinh doanh hiệu quả, các ngân hàng kinh doanh yếu
kém sẽ bị đào thải hoặc phải vươn lên, nếu muốn tồn tại. Hội nhập cũng tạo điều kiện thuận
lợi cho các ngân hàng trong nước thâm nhập vào thị trường quốc tế, mở cơ hội cho ngành
ngân hàng thực hiện các cuộc trao đổi, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực hoạch định chính
sách tiền tệ, quản lý ngoại hối, thanh tra, giám sát phòng ngừa rủi ro, lĩnh vực thanh toán và
phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới. Vì thế uy tín và vị thế của hệ thống NHVN
sẽ được nâng lên, ít nhất là trên thị trường khu vực. Điều này thực sự tạo cho hệ thống
NHVN nói chung và các NHTMCP nói riêng nhiều cơ hội để từng bước nâng cao hiệu quả
điều hành và phát triển vững mạnh.
Nhân tố văn hoá – xã hộ i: .
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hoá và các yếu tố xã hội đặc
trưng, và những yếu tố này là đặc điểm cho người tiêu dùng tại cá khu vực đó. Các doanh
nghiệp phải hiểu rõ các đặc điểm này để khai thác và sử dụng phù hợp các vấn đề văn hoá -
xã hội, về các nhóm khách hàng, quy mô, tỷ lệ tăng dân số, cấu trúc độ tuổi, tôn giáo và
ngôn ngữ… của quốc gia đó trong các chiến lược kinh doanh doanh của công ty.
Về văn hóa, Việt Nam có một nền văn hóa rất đa dạng, phong phú và giàu bản sắc bởi
đó là sự giao thoa văn hóa của 54 sắc tộc cùng tồn tại trên lãnh thổ. Bên cạnh đó, văn hóa
Việt Nam còn chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc cùng với nền văn minh
lúa nước của người dân Đông Nam Á.

gia nhập ngành của các đối thủ cạnh trạnh tiềm ẩn phụ thuộc phẩn lớn vào hàng rào lối vào
một ngành kinh doanh. Nếu các ngân hàng mới gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh
sẽ càng lúc càng gia tăng. Tuy nhiên rào cản gia nhập mới của ngành cũng đang bắt đầu ra
tăng, chủ yếu gồm yêu cầu vốn tối thiểu (trên 3000 tỉ đồng), các quy định thành lập ngân
hàng mới và kiểm soát thành lập từ phía chính phủ. Yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu sẽ hạn
chế sự hình thành các ngân hàng quy mô nhỏ, một loại hình khá phát triển khi mà thị
trường mới hình thành. Các quy định thành lập hiện nay cũng đang được hoàn thiện theo
chiều hướng chặt chẽ nghiêm ngặt hơn
Theo cam kết WTO thì lộ trình mở cửa ngành ngân hàng là 7 năm. Và tất yếu là ngành
ngân hàng sẽ có sự thay đổi cơ bản khi mà các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ
cổ phần của các ngân hàng Việt Nam hay sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước
ngoài. Với những lợi thế như cơ sở hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên
nghiệp, công nghệ tốt hơn, có mạng lưới rộng khắp toàn cầu và có nhiều lựa chọn hơn do
được làm từ đầu các ngân hàng này sẽ tạo ra một áp lực lớn đến với các ngân hàng trong
Lớp: L1005SMGM0111
7
Môn : Quản trị chiến lược Nhóm 06
nước. Trong khi đó theo đánh giá thì các ngân hàng Việt Nam chưa tạo được điểm khác
biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ. Như vậy sự thâm nhập của các ngân hàng mới trong
tương lai có thể gây ảnh hưởng lớn tới bản thân các ngân hàng hiện tại nếu không có một
chính sách phù hợp.
Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ
(AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về
khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài
từ năm 2008.
Khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và
các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân
hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai.
Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của cá ngân hàng có nguồn gốc
nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngừng cấp phép thành lập ngân hàng

nếu nhà đầu tư khôn ngoan trong quyết định đầu tư của mình.
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối
tượng khách hàng này cần sự rõ ràng các chứng từ, hoá đơn trong các gói sản phẩm và dịch
vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối
tượng khách hang này thường chuyển sang ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm
tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.
Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt tại nhà hoặc nếu
có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng. Các cơ quan chính phủ và doanh
nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán
không dùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân. Nhưng các địa
điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng,
những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm.
Quyền lực của các nhà cung cấp.
Nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những khách hàng đầu
tư cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo
trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam, các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn
cho mình những nhà cung cấp riêng tuỳ theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực
của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải
cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào
đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này
lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã trúng thầu.
Việc sống còn của các ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng.
Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào
thảỉ. Trong khi đó nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu
dùng là khá cao. Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu
muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư ở một nơi khác.
.
Quyền lực của khách hàng.
Lớp: L1005SMGM0111
9

tốc độ phát triển kinh tế hàng năm bình quân khoảng 7% (thuộc hàng cao nhất châu Á).
Mặc dù, qui mô GDP còn nhỏ, đa số người dân sống ở vùng nông thôn, mức sống còn
thấp… nhưng tiềm năng cho ngành ngân hàng Việt nam là vô cùng to lớn và chưa được
khai thác hết.
Ngoài ra để đánh giá áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng hiện hữu, thì ta cần xem xét
nhiều yếu tố trong đó gồm: quy mô giữa các ngân hàng, xem xét các ngân hàng có quy mô
tương đối ngang nhau hay không; vấn đề tăng trưởng của nền kinh tế, nền kinh tế tăng
trưởng thấp gây áp lực cạnh tranh giành giật thị phần..v.v…
Lớp: L1005SMGM0111
10
Môn : Quản trị chiến lược Nhóm 06
Sau gần 20 năm hoạt động, số lượng và quy mô các ngân hàng thương mại đã tăng lên đáng
kể, mạng lưới chi nhánh các ngân hàng rộng khắp đất nước. Cuộc chậy đua giành thị phần
huy động và thị phần tín dụng diễn ra bao năm nay với ưu thế vẫn thuộc về khối ngân hàng
TMQD. Tuy nhiên, xét về hiệu quả hoạt động, các ngân hàng TMQD chưa thể bì kịp các
đối thủ NH TMCP. Cuối năm 2008, ROE trung bình các NH TMCP ở khoảng 20%, ROA
2% trong khi các NH TMQD có ROA thường dưới 1% và ROE 8 – 15 %. (Nguồn: theo
MHBS).
Về thị phần tiền gửi và cho vay
Từ việc xem xét thị phần tiền gửi, cho vay cũng như quy mô tổng tài sản, vốn điều lệ, ta
thấy số lượng các ngân hàng là khá lớn song có sự chênh lệch rõ ràng về quy mô giữa các
ngân hàng, có thể nhận định một điều rằng: áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng hiện hữu
là ổn định, song có xu hướng gia tăng giữa khối NH TMQD và Nh TMCP. Các ngân hàng
TMCP với khả năng tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn sẽ ngày càng chiếm lĩnh thị phần hoạt
động của ngành ngân hàng.
Mặt khác, áp lực cạnh tranh trên thị trường tài hính tăng lên khi các ngân hàng con 100%
vốn nước ngoài đã và đang đẩy mạnh chiến lược phát triển tại Việt Nam. Việc thu hút
nguồn tiền nhàn rỗi vào ngân hàng là không dẽ dàng, chi phí huy động vốn nhiều khả năng
sẽ gia tăng. Các yều tố này sẽ gây áp lực cho những ngân hàng đặt chỉ tiêu lợi nhuận cao.
Các ngân hàng VIệt Nam có ưu thế về số lượng trên thị trường, mạng lưới chi nhánh và

Mỹ, các cam kết WTO sẽ tác động rất
lớn đến thị phần của ngân hàng
0.1 3 0.3
Khoa học công nghệ thông tin có tốc độ
phát triển nhanh chóng
0.1 3 0.3
Thách thức
Cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng 0.1 3 0.3
Thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh
toán phổ biến
0.08 2 0.16
Phát triển nhanh và mạnh mẽ của các
thị trường
0.1 3 0.3
Tỷ lệ tiết kiệm thấp 0.07 3 0.21
Tổng cộng 1 3.27
=> Qua bảng đánh giá các yếu tố môi trường, tổng số điểm qua trọng bằng 3.27 cho thấy
các chiến lược của ACB tận dụng khá hiệu quả các cơ hội hiện có như tiềm năng thị
trường, an ninh ổn định chính trị, nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định và hạn chế khá
tốt các ảnh hưởng tiêu cực của các mối đe dọa bên ngoài.Tuy nhiên, nền kinh tế tiền mặt
vẫn là thách thức lớn cho ACB nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung.
2.3 Phân tích môi trường bên trong:
2.3.1 Sản phẩm chủ yếu :
Danh mục sản phẩm của ACB rất đa dạng: Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu VND và ngoại tệ;
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VND và ngoại tệ; Phát hành thẻ tín dụng, thẻ ATM;
Chuyển tiền trong và ngoài nước; Thanh toán xuất nhập khẩu….
Lớp: L1005SMGM0111
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status