ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do
vi rút Dengue gây ra, có thể gây ra dịch lớn làm cho nhiều người mắc và tử
vong. Trung gian truyền bệnh là muỗi Aedesaegypti đã được nghiên cứu kỹ về
sinh lý, sinh thái về đốt hút máu người và truyền bệnh từ người bệnh sang
người lành.
Nhiều thập kỷ qua sốt xuất huyết là một trong những bệnh truyền
nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của con người có số mắc và tỷ lệ
tử vong cao trên Thế giới. Tại Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết được biết năm
1958 do Chu Văn Tường thông báo một vụ dịch nhỏ sốt xuất huyết tại Hà
Nội, ở miền Nam sốt xuất huyết được mô tả vào những năm 1960, những
trường hợp đầu tiên được ghi nhận tại đồng bằng sông Cửu Long, lan nhanh
thành dịch tại nhiều vùng dọc theo hai bên bờ sông.
Theo Tổ chức y tế thế giới bệnh sốt xuất huyết hiện lưu hành trên 100
quốc gia thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới nhiều nhất ở
vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi có số người
mắc sốt xuất huyết cao nhất. Trên thế giới hàng năm có khoảng 2,5-3 tỷ
người có nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết, mỗi năm có khoảng 80-100 triệu
người mắc bệnh trong đó 500 ngàn người phải nhập viện chiếm 90% trẻ em
dưới 15 tuổi có tỷ lệ tử vong cao từ 1-5%.
Ở Việt Nam, sốt xuất huyết ngày càng trở nên nghiêm trọng, mỗi năm
có hàng trăm ngàn người mắc và hàng trăm người chết. Năm 1998 có
234.920 người mắc và 377 người chết, tỷ lệ chết đứng thứ 2 trong 10 bệnh
truyền nhiễm phổ biến. Năm 2008, các tỉnh phía Nam trường hợp mắc 78.414
trường hợp chết 85, tại Tỉnh Thừa Thiên Huế có số mắc 8.284 tử vong 08
trường hợp
Hiện nay công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết rất được quan tâm
nhưng hiệu quả chưa cao do đặc điểm địa lý, thời tiết môi sinh, tập tục mỗi
1
vùng khác nhau nên áp dụng một mô hình phòng chống sốt xuất huyết có thể
thành công nơi này nhưng thất bại nơi khác. Việc phòng chống sốt xuất huyết
-Đánh giá thái độ, thực hành của người dân về các biện pháp phòng
chống bệnh sốt xuất huyết tạiThị xã Thủy Phương-Tỉnh Thừa Thiên Huế năm
2013 sau 3 tháng điều tra
3
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về lịch sử bệnh SXH
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây dịch do vi
rút Dengue gây nên, bệnh lan truyền chủ yếu do muỗi Aedesaegypti. Theo Tổ
chức Y tế Thế giới, bệnh sốt xuất huyết Dengue hiện đang lan truyền ở nhiều
nước trên thế giới với khảng 20 triệu người bị nhiễm vi rút Dengue và khoảng
500.000 trường hợp bị sốt xuất huyết Dengue phải nhập viện, trong đó chủ
yếu là trẻ em. Tỷ lệ tử vong đến 5%, thậm chí cao hơn nếu không được chẩn
đoán và điều trị thích hợp.
Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue được du nhập vào Việt Nam từ
những năm 1960, cho đến nay đã trở thành một bệnh dịch lưu hành. Riêng
năm 1998, số mắc trên toàn quốc lên tới 234.920 người và chết 377 người.
Sốt xuất huyết dengue có thể gây bệnh cảnh nguy kịch, hội chứng sốc Dengue
nhanh chóng dẫn tới tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời
1. 2 Tình dịch bệnh sốt xuất huyết trên thế giới và trong khu vực :
Cũng theo TCYTTG (1998), trong vòng 10 năm gần đây, bệnh SD/SXHD trở
nên trầm trọng, có trên 100 nước ở châu Phi, châu Mỹ, vùng ÐôngÐịa Trung
Hải, các nước Ðông Nam Á và Tây Thái Bình Dương đều báo cáo có bệnh
này. Trong vòng 9 năm từ 1990 đến 1998, số trường hợp trung bình hằng năm
mắc SD/SXHD khoảng 514.139.000 người.
1.3 Tình hình SXH ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế
Bệnh SD/SXHD trở thành một bệnh dịch lưu hành ở nước ta. Bệnh
không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi vectơ truyền
bệnh. Dịch lớn SD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ khoảng 3-5 năm. Năm 1998,
trên toàn quốc bùng nổ vụ dịch lớn, số mắc bệnh và tử vong cao (mắc:
234.920 người, tử vong 377) (số liệu của Viện VSDT).
thanh chứng tỏ bệnh nhân đang bị nhiễm virusDengue cấp tính hoặc vừa mới
khỏi bệnh.
5
Kháng thể lgG kháng Dengue xuất hiện muộn hơn và tồn tại nhiều năm
hoặc suốt đời và có miễn dịch với típ Dengue gây bệnh. Khi bị bệnh do một
típ huyết thanh nào đó của virusDengue thì sẽ có miễn dịch suốt đời với típ
Dengue đó, nhưng không có miễn dịch với các típ khác. Do đó, nhiễm
virusDengue có thể bị mắc tới lần thứ 2 do típ huyết thanh khác gây bệnh.
Nước ta có 2 loại muỗi Aedes gây bệnh chủ yếu
là Aedesaegypti và Aedesalbopictus. Muỗi Aedes hút máu ban ngày và
thường hút máu nhiều nhất vào sáng sớm và chiều tối.
Muỗi Aedesaegypti mình nhỏ, đen, có khoang trắng thường gọi là muỗi vằn,
đậu ở nơi tối trong nhà, thường sống ở các đô thị. Muỗi Aedesalbopictusthích
sống ở lùm cây, ngọn cỏ, phần lớn sống ở vùng nông thôn. Sau khi hút máu
người bệnh, muỗi cái có thể truyền bệnh ngay nếu hút máu người lành hoặc
virus nhân lên ở tuyến nước bọt của muỗi sau đó 8-10 ngày hút máu người
lành có thể truyền bệnh. Người ta thấy muỗi bị nhiễm virusDengue có thể
truyền bệnh suốt vòng đời của muỗi khoảng 174 ngày (5-6 tháng).
Muỗi Aedes đẻ trứng, sau đó sinh ra bọ gậy (cung quăng) ở các dụng cụ chứa
nước trong gia đình như chum, vại, bể nước, lọ hoa, chậu cảnh hoặc ở ngoài
nhà như hốc cây có nước, máng nước, vỏ đồ hộp, vỏ chai hoặc ở rãnh nước,
ao hồ. Chu kỳ phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành khoảng 11-18 ngày,
khi nhiệt độ 29-31
o
C. Mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa, do đó, muốn
phòng bệnh tốt cần phải loại bỏ được những dụng cụ chứa nước nơi muỗi đẻ
trứng, hoặc thả cá ăn bọ gậy.
Sự lan truyền dịch xảy ra ở những vùng có nhiều muỗi Aedes, vệ sinh
môi trường kém, dân cư sống chen chúc và số người bị cảm thụ cao. Hiện
nay, người ta chưa xác định được chính xác mật độ muỗi Aedes cần thiết để duy
- Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm.
- Số lượng bạch cầu thường giảm.
7
2. Sốt xuất huyết Dengue
a. Lâm sàng
- Sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 đến 7 ngày.
- Biểu hiện xuất huyết: Thường xảy ra từ ngày thứ 2, thứ 3 của bệnh
dưới nhiều hình thái:
+ Dấu hiệu dây thắt dương tính.
+ Xuất huyết tự nhiên ở da hoặc niêm mạc.
. Xuất huyết ở da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường
ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn
hoặc mảng bầm tím.
. Xuất huyết ở niêm mạc: Chảy máu mũi, lợi, đôi khi xuất huyết ở kết
mạc, tiểu ra máu. Kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn.
Xuất huyết nội tạng như tiêu hoá, phổi, não … là biểu hiện nặng.
- Gan to
- Có biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, biểu
hiện: Tăng dung tích hồng cầu (haematocrit) ³ 20% so với giá trị bình thường,
tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi (có thể dùng siêu âm để phát hiện)
và hạ protein máu. Trong trường hợp nặng có thể suy tuần hoàn cấp, thường
xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh, biểu hiện bởi các triệu chứng
như: vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ,
huyết áp hạ hoặc huyết áp kẹt (hiệu số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu £ 20
mmHg), tiểu ít.
b. Cận lâm sàng
- Biểu hiện cô đặc máu do sự thoát huyết tương: haematocrit tăng ³
20% so với giá trị bình thường (bình thường từ 36%-40%); hoặc bằng chứng
của thất thoát huyết tương: protein máu giảm, tràn dịch màng phổi, tràn dịch
màng bụng.
- Dấu hiệu “ấn ngón tay” (hay gọi là thời gian hồi phục màu da) kéo dài
³ 2 giây. Vị trí thường làm là đầu ngón tay hoặc mặt trong cẳng tay.
- Xuất huyết niêm mạc
- Tiểu ít
9
Nếu có điều kiện làm xét nghiệm thì thấy:
- Haematocrit tăng cao.
- Tiểu cầu giảm nhanh chóng
Ở những người bệnh có dấu hiệu tiền sốc phải theo dõi sát mạch, huyết
áp, số lượng nước tiểu và làm xét nghiệm haematocrit, tiểu cầu để điều trị
ngay như một trường hợp sốc.
b. Hội chứng sốc Dengue (sốc thoát huyết tương – cô đặc máu)
Bao gồm tất cả triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue kèm
theo các triệu chứng:
- Nhiệt độ hạ đột ngột, da ở các chi lạnh, ẩm
- Mạch nhanh, nhỏ
- Huyết áp hạ hoặc huyết áp kẹt
- Hematocrit tăng
- Tiểu ít
Triệu chứng sốc thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh.
Chú ý: Nguyên nhân của tử vong là sốc và xuất huyết nặng đặc biệt là
xuất huyết não.
5. Chẩn đoán xác định sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue
a. Huyết thanh chẩn đoán
- Mac ELISA: tìm kháng thể IgM
- Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu (HI)
b. Phân lập virut
Các xét nghiệm hiện đại mới chỉ làm được ở nơi có điều kiện như tại Labo
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương,ViệnPasteur Thành phố Hồ Chí Minh,
B . Điều trị
b. Cách thức truyền
Phải thay thế nhanh chóng lượng plasma mất đi bằng Ringerlactat hoặc
dung dịch mặn đẳng trương, truyền tĩnh mạch nhanh chóng với tốc độ 15 đến
20 ml/kg cân nặng/giờ.
Truyền sau 2 giờ phải kiểm tra lại haematocrit.
11
- Nếu sau 1 giờ người bệnh ra khỏi tình trạng sốc, huyết áp hết kẹt,
mạch quay rõ và trở về bình thường, chân tay ấm, nước tiểu nhiều hơn, thì
giảm tốc độ truyền xuống 10 ml/kg cân nặng/giờ, truyền trong 1- 2 giờ; sau
đó giảm dần tốc độ truyền xuống 7,5ml/kg cân nặng/ giờ, truyền 1 – 2 giờ;
đến 5ml/kg cân nặng/ giờ, truyền 4 – 5 giờ; và 3ml/kg cân nặng/ giờ, truyền 4
– 6 giờ tuỳ theo đáp ứng lâm sàng và haematocrit.
- Nếu sau 1 giờ truyền dịch mà tình trạng sốc không cải thiện (mạch
nhanh, huyết áp hạ hay kẹt, tiểu vẫn ít) thì phải thay thế dịch truyền bằng
dung dịch cao phân tử. Truyền với tốc độ 15-20 ml/kg cân nặng/giờ, truyền
trong 1 giờ. Sau đó đánh giá lại:
+ Nếu sốc cải thiện, haematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền cao phân
tử xuống 10 ml/kg cân nặng/giờ, truyền trong 1 - 2 giờ; Sau đó nếu tình trạng
sốc tiếp tục cải thiện và haematocrit giảm, thì giảm tốc độ truyền cao phân tử
xuống 7,5ml/kg cân nặng/giờ rồi đến 5 ml/kg cân nặng/ giờ , truyền trong 2 –
3 giờ.
Theo dõi tình trạng người bệnh, nếu ổn định thì chuyển truyền tĩnh
mạch dung dịch điện giải theo cách thức truyền tại điểm (a) ở trên.
+ Nếu sốc vẫn chưa cải thiện, thì đo áp lực tĩnh mạch trung ương
(CVP) để quyết định cách thức xử trí.
Nếu CVP bình thường thì dùng thêm thuốc vận mạch.
Nếu sốc vẫn chưa cải thiện mà haematocrit giảm xuống nhanh (mặc dù
còn trên 35%) thì cần phải thăm khám để phát hiện xuất huyết nội tạng và
xem xét chỉ định truyền máu (xem phần truyền máu). Tốc độ truyền máu
10ml/kg/ 1 giờ.
- Cần chú ý đến sự tái hấp thu huyết tương từ ngoài lòng mạch trở lại
lòng mạch (biểu hiện bằng huyết áp, mạch bình thường mà haematocrit giảm
sau khi ngừng truyền). Cần theo dõi triệu chứng phù phổi cấp, nếu cứ tiếp tục
13
truyền dịch sẽ gây tăng thể tích máu, dư thừa nước dẫn đến suy tim và phù
phổi cấp.
(Lưu ý trong trường hợp sau khi sốc hồi phục mà huyết áp kẹt nếu
haematocrite còn giảm nhưng chi ấm mạch chậm, rõ, tiểu nhiều thì không
truyền dịch).
Khi bình phục, giảm haematocrit không có nghĩa là do xuất huyết nội
tạng vì huyết áp bình thường, mạch bình thường, tiểu nhiều, mà haematocrit
giảm là do sự tái hấp thu huyết tương từ ngoài vào lòng mạch.
Khi có hiện tượng bù dịch quá tải gây suy tim hoặc phù phổi cấp cần
phải dùng thuốc lợi tiểu như furosemid khoảng 0,5 – 1 mg/kg /1 lần dùng
(tiêm bắp hoặc tĩnh mạch).
5. Khi điều trị sốc, cần phải chú ý đến điều chỉnh rối loạn điện giải
và thăng bằng kiềm toan
Hạ Natri máu thường xảy ra ở hầu hết các trường hợp sốc nặng kéo dài
và đôi khi có toan chuyển hoá. Do đó cần phải xác định mức độ rối loạn điện
giải và nếu có điều kiện thì đo các khí trong máu ở người bệnh sốc nặng và
người bệnh sốc không đáp ứng nhanh chóng với điều trị.
6. Truyền máu
Khi người bệnh có sốc cần phải tiến hành làm nhóm máu và phản ứng
chéo thường quy. Chỉ định truyền máu trong những trường hợp sau:
- Truyền tiểu cầu: khi số lượng tiểu cầu xuống nhanh dưới
50.000/mm3 và có biểu hiện xuất huyết tăng lên để tránh khả năng xuất huyết não
- Tình trạng sốc không cải thiện, haematocrit giảm xuống nhanh (mặc
dù còn trên 35%) thì cần phải thăm khám để phát hiện xuất huyết nội và xem
xét chỉ định truyền máu.
7. Thở oxy
Phương là một xã trực thuộc và cách thành phố Huế 6km nằm phía Tây thị xã
Hương Thủy ở vị trí trung tâm thành phố Huế và phường Phú Bài với tổng
diện tích là 28,25km2 và dân số là 13.728 người năm 2012 .
Trạm y tế xã Thủy Phương gồm các cán bộ y tế ngoài nhiệm vụ chăm
sóc sức khỏe cho người dân thì thường xuyên kết hợp với ủy ban nhân dân xã
thực hiên các chương trình giáo dục sức khỏe , trong đó có chương trình phòng
chống SXH từ nhiều năm nay Và đã có nhiều kết quả nổi bật là đông lực để thúc
đẩy các hoạt đông diễn ra liên tục và không có dịch xảy ra trên địa bàn .
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu n = 60
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
+ Chọn hộ gia đình :
Tổ 8 có 120 hộ gia đình ,chúng ta lập danh sách các hộ gia đình theo
thứ tự từ 001 đến 120 . Dùng bảng số ngẫu nhiên để chọn các hộ gia đình theo
danh sách Và đủ số lượng theo yêu cầu
+ Chọn người điều tra trong hộ gia đình :
Mỗi hộ gia đình chọn một người để phỏng vấn , chọn đúng người trong
mẫu nghiên cứu đã xác định từ trước , chọn đủ số người đã quy định
+ Thời gian nghiên cứu từ ngày 2 tháng 1 năm 2014 đến ngày 10 tháng
1 năm 2014
+ Kỉ thuật thu thập thông tin
16
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi để thu thấp
các thông tin về hiểu biết và thực hành phòng chống SXH
3.3 Các thông tin cần thu thập
3.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
+ Tuổi : Tính theo năm dương lịch , phân nhóm tuổi 15- 19 , 20-29, 30-
Giới tính Nam 34 57
Nữ 26 43
Nhóm tuổi
15- 19 4 5.7
20- 29 8 13.7
30- 39 16 27.3
40- 49 14 24.3
50- 60 18 29
Trình độ học vấn Mù chữ,cấpI 19 30
CấpII 27 44.7
CấpIII,> III 14 25.3
Nghề nghiệp
Làm ruộng 24 39.3
Buôn bán 8 14.3
CBCC 6 8.7
HSSV 5 7.7
Nội trợ, 6 9.0
Nghề khác 11 11.0
• Nhận xét :
+ Giới tính : Nam chiếm 57% , Nữ chiếm tỷ lệ ít hơn là 43%
+ Nhóm tuổi : Tỉ lệ cao nhất là nhóm tuổi từ 50- 60 chiếm 29% , 30- 39
chiếm 27.3% , 40- 49 chiếm 24.3% , 20- 29 chiếm 13.7% ,15- 19 chiếm 5.7%
+ Trình độ học vấn : Cấp II chiếm tỷ lệ cao nhất là 44.7% tiếp đến là
mù chữ và cấp I chiếm 30% , cấp III Trên cấp III chiếm 25.3%
+ Nghề nghiệp : Làm ruộng chiếm tỉ lệ cao nhất với 39.3% , tiếp đến là
buôn bán chiếm 14.3%, CBCC chiếm 8.7% , HSSV chiếm 7.7% , nôi trợ
9.0% , nghề khác chiếm 11,0%
18
Bảng 3.2 : Nguồn nước được người dân sử dụng
Nguồn nước n= 60 Tỉ lệ phần trăm (%)
Không biết 7 4 11.7 6,7
Nhận xét : Sau 3 tháng điều tra , tỉ lệ người dân biết bệnh SXH đã tăng
lên khá rõ rệt từ 88.3% lên 93,3%
20
Bảng 3.5 : Nguồn cung cấp thông tin
Nguồn cung cấp thông tin n=60 Tỉ lệ ( %)
Tivi 48 80.0
Loa đài 24 40.0
Cán bộ y tế 19 31.7
Tờ rơi 16 26.7
Sinh hoạt tuyên truyền 12 20.0
Hình ảnh băng rôn áp phích 8 13.3
• Nhận xét : Nguồn cung cấp thông tin là ti vi chiếm tỉ lệ cao nhất
là 80.0% ,đứng thứ hai là loa đài chiếm tỷ lệ 40.0% , tiếp đến là qua cán bộ y
tế chiếm 31.7% , tờ rơi chiếm 26.7% , sinh hoạt tuyên truyền chiếm 20.0%,
hình ảnh băng rôn, áp phích chiếm 13.3%
21
Bảng 3.6 : Tỷ lệ người dân hiểu biết về triệu chứng bệnh SXH
Tại thời
điểm ĐT
Sau3
tháng
Tại thời
điểm ĐT
Sau 3
tháng
Triệu chứng n=60 Tỉ lệ (%)
Sốt 52 54 86.6 90.0
Chấm xuất huyết 33 36 55.0 60.0
Chảy máu cam, chân răng 17 23 28.3 38.3
Bảng 3.8 : Tỉ lệ người dân biết về loại muỗi truyền bệnh SXH
Tại thời điểm
ĐT
Sau 3 tháng Tại thời
điểm ĐT
Sau 3
tháng
Loại muỗi n=60 Tỉ lệ(%)
Muỗi vắn 41 52 68.3 86.7
Muối khác 12 6 20.0 10.0
Không biết 7 2 11.7 3.3
• Nhận xét :Sau 3tháng điều tra, tỉ lệ người dân biết loại muỗi truyền
bệnh SXH đã tăng lên đáng kể cụ thể như,muỗi vằn tăng từ 68.3% lên 86.7%:muỗi
khác giảm mạnh từ 20% xuống 10%:không biết giảm từ 11.7% xuống 3.3%
Bảng 3.9 : Hiểu biết của người dân về đặc tính của muỗi truyền bệnh SXH
Tại thời
điểm ĐT
Sau 3
tháng
Tại thời
điểm ĐT
Sau 3
tháng
Đặc tính n=60 Tỉ lệ(%)
Thời gian Ngày 25 36 41.7 60
Đêm 10 7 16.7 11.7
Ngày và Đêm 19 14 31.7 23.3
Không biết 6 3 10 5
Nơi sinh sản
và phát triển
điểm ĐT
Sau 3
tháng
Xữ trí n= 60 Tỉ lệ (%)
Đến các cơ sở y tế 41 51 68.3 85.0
Dùng phương pháp
dân gian
4 2 6.7 3.3
Tự mua thuốc uống 12 5 20 8.3
Không điều trị gì 3 2 5 3.4
• Nhận xét : Sau 3 tháng điều tra tỉ lệ về cách xữ trí của người dân
khi có bệnh SXH xảy ra đã có sự chuyển biến theo xu hướng tích cực cụ thể :
Đến cơ sở y tế tăng từ 68.3% đến 85.0%. Dùng phương pháp dân gian từ
6.7% xuống 3.3%. Tự mua thuốc uống giảm mạnh từ 20% xuống còn 8.3%
25