TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA VÀ VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA PHÁP GIA VÀ VẬN
DỤNG TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. BÙI BÁ LINH
HỌC VIÊN THỰC HIỆN: LÊ MINH TÙNG
LỚP: CAO HỌC K19 - NGÀY 1
THÁNG 12/09
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
A TÍNH CẤP BÁCH CỦA ĐỀ TÀI:
Tư tưởng và quan điểm trị nước luôn là một vấn đề quan trọng trong đời sống
chính trị của nhân loại kể từ khi nhà nước và giai cấp xuất hiện đến nay. Trong lịch
sử xã hội cổ đại, đã có nhiều hệ thống quan điểm, tư tưởng chính trị về phương thức
trị nước, trong đó nổi bật là các nhà tư tưởng Hy Lạp và Trung Quốc cổ đại. Đặc biệt
là các nhà tư tưởng chính trị của Trung Quốc cổ đại, trong đó có thể kể đến tư tưởng
của Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia đã mang lại sự phong phú về phương thức
trị nước cho nhà cầm quyền.
Tuy nhiên, không phải cách trị nước nào cũng hoàn hảo và có thể được sử
dụng. Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, mặc dù những tư tưởng về cách trị nước của
Khổng Tử, Lão Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử đã có những giá trị nhất định
trong lịch sử, song sự thành công mà nó mang lại không được như ý muốn trong một
xã hội loạn lạc và luôn xảy ra chiến tranh như xã hội Trung Quốc cổ đại. Trong bối
cảnh đó, tư tưởng Pháp trị của Pháp gia, đặc biệt là tư tưởng của Hàn Phi đã được
Tần Thủy Hoàng sử dụng có hiệu quả trong việc thống nhất Trung Quốc và có vai
trò nhất định trong việc trị nước trong những năm sau đó.
Những giá trị của tư tưởng pháp trị có tác dụng thiết lập pháp luật nhằm ổn
định chính trị và xã hội. Chính vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng

hai nội dung lễ và hình trị dân.
Quản Trọng (thế kỷ VI TCN): sau thời kỳ nhà Chu thì Quản Trọng là người
đưa ra tư tưởng luật pháp đầu tiên. Vốn xuất thân từ trường phái Nho gia khác với
nhà nho chủ trương trị nước bằng đức trị thì Quản Trọng chủ trương chuyển phương
pháp trị nước bằng đức trị bằng lễ nghĩa, bằng luân lý bằng đạo đức sang phương
pháp trị nước bằng pháp luật. Đóng góp của Quản Trọng về tư tưởng hình pháp có 3
điểm:
*Yêu cầu chung của phương pháp trị nước:
- Tôn quân: tôn quân không phải vì vua hiền, mà vì vua là người đặt ra pháp luật
vua có quyền bắt dân sống phải sống dân chết phải chết, nếu không tôn quân thì
nước sẽ không yên, cái thế nó phải thuộc như vậy.
Trang 3
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
- Yêu dân không phải là vì dân mà vì vua tại vì yêu dân, dân sẽ qui thuận đông,
nghe theo lời vua như vậy vua sẽ mạnh mà vua mạnh vua sẽ cai trị được thiên hạ.
*Trong phương pháp trị nước Quản Trọng đề cao “luật, lệnh, hình, chính”
- Luật: để phân phận sự cho dân, để cho dân không tranh giành nhau nữa
- Lệnh: để dân biết việc mà làm
- Hình: trừ trị những kẻ làm trái luật và lệnh
Quản Trọng đưa ra mấy cách trừ trị: một tội chết, hai tội bị đày có thời hạn, ba tội
giam, bốn tội đày không thời hạn, năm phạt tiền
- Chính: là để sửa cho dân theo đường ngay lẻ phải.
*Các nguyên tắc trong hành pháp và lập pháp: bên cạnh yêu cầu chung của
phương pháp trị nước bằng “luật lệnh, hình, chính” Quản Trọng còn đưa ra năm
nguyên tắc hành pháp và lập pháp như sau:
- Luật pháp phải rõ ràng, minh bạch tùy theo thiên thời địa lợi, nhân hòa;
- Phải dạy cho dân hiểu rõ pháp luật rồi mới thi hành;
- Thủ tín: pháp luật phải nghiêm minh đối với người trên kẻ dưới;
- Không được tư lợi, mọi người phải công bằng trước pháp luật
- Lệnh trong hình pháp quý hơn châu báo, xã tắc quý hơn người thân, vi trọng

cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi, kẻ
bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng, do đó mà
xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà quyền thế và địa vị đủ
khuất phục được người hiền".
Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu cao tư tưởng Pháp trị, đó là
Thương Ưởng. Ông đề cao pháp “luật hay quy tắc, luật lệ” là hình phạt nghiêm khắc
đối hình phạt đã ban ra chủ trương chỉ có phạt không có thưởng. Vì việc thực hiện
luật là bổ phận công dân. Ngoài cải cách về luật pháp ông còn đưa ra cải cách về
kinh tế. chính nhờ cải cách về luật pháp và kinh tế làm nước Tần từ nước yếu trở
thành nước mạnh thôn tính bảy nước còn lại thống nất đất nước Trung Quốc thiết lập
thành công nhà nước Trung ương tập quyền.
Về kinh tế ông đưa ra những cải cách như sau:
- Ông xóa bỏ chế độ công hữu vê ruộng đất công xã nông thôn, thừa nhận chế
độ tư hữu về ruông đất, cho tư do mua bán ruộng đất khuyến khích khai hoang phát
triển sản xuất nông nghiệp nhà nước trực tiếp thu thuế, tô của nông dân.
- Lập ra hộ tịch: lệnh cho bá tính cứ năm nhà lập thành một ngũ, hai ngũ lập
thành thập, để trong coi lẫn nhau nếu có kẻ gian thì tố cáo, giết kẻ loạn thì được
Trang 5
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
thưởng như nhau nếu giấu thì phạt như nhau, một nhà giấu chín nhà kia chịu vạ lây,
nhà có hai tráng đinh phải ở riêng để phát triển sức lao động nếu không ở riêng thì
đóng thuế gấp đôi.
- Khuyến khích nông dân cày cấy, nuôi tằm dệt vải kéo tơ, nhà nào sản xuất ra
nhiều được miễn lưu dịch, bỏ ruộng đất đi buôn làm gia đình nghèo khổ thì bị bắt
làm nô lệ.
- Xóa các đặc quyền, đặt lợi của giai cấp quý tộc đặc ra các tước quân, bất cứ
ai có quân công thì được ban tước vị, được cấp đất, công càng to thì chức vị càng
cao. Tùy theo chức vị cao thấp mà chiếm được nhiều ruộng đất và nô lệ.
- Hợp nhất nhiều làng thành phủ huyện, đặt ra tước huyện lệnh để cai trị, tổ
chức lại hệ thống hành chính, thống nhất các đơn vị đo lường.

nguyên tắc và khuôn mẫu. Kế thừa và phát triển tư tưởng Pháp trị của pháp gia thời
trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay
phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ
phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo Pháp". Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên
cơ sở chủ trương của Pháp gia, là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy
quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên
những nguyên tắc chính như:
1- Pháp luật phải hợp thời;
2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ thi hành;
3- Pháp luật phải công bằng;
4- Pháp luật có tính cách phổ biến.
Với Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh
phận, phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một
mối, đều lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
Cùng với "Pháp", "Thế", là yếu tố không thể thiếu được trong pháp trị. Pháp
gia cho rằng muốn có luật pháp rõ ràng minh bạch và được dân tuyệt đối tôn trọng
thi hành thì nhà vua phải có "Thế". Trọng Thế tức trọng sự cưỡng chế, cho nên chủ
trương:
1- Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là
vua;
Trang 7
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
2- Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để: dân không được quyền làm cách
mạng, không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là bất trung.
Điều này gần với tư tưởng Trung quân của Nho gia, Hàn Phi chê việc vua Nghiêu
nhường ngôi cho vua Thuấn là trái đạo quân thần, ý này trái hẳn chủ trương của
Khổng;
3- Đưa sự thưởng phạt lên hàng quốc sách vì thưởng và phạt là phương tiện
hiệu nghiệm nhất để cưỡng chế. Muốn trị nước thì vua chỉ cần dùng thưởng phạt chứ
không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc.

của mình; nếu không phải việc riêng thì không để họ tự ý hành động, việc gì cũng
phải hỏi mình trước; bắt họ phải theo đúng luật mà chính vua cũng phải theo đúng
pháp luật trong việc thưởng phạt họ; xem hành động của họ có hợp với lời nói của họ
không… Tìm kẻ gian thì khi một việc xảy ra, hại cho nước hoặc cho người khác thì
xét xem ai là kẻ có lợi. Muốn kiềm chế hạng người có địa vị cao, trách nhiệm lớn thì:
1- Nếu là người hiền thì có thể bắt người thân yêu của họ làm con tin;
2- Nếu là kẻ tham lam thì cho họ tước lộc thật hậu để an định họ;
3- Nếu là kẻ gian thì phải làm cho họ khốn khổ bằng cách trừng phạt.
Nếu dùng những cách đó mà vẫn không cảm hóa được họ thì phải trừ họ,
bằng cách mượn tay kẻ thù của họ hoặc đầu độc để mình không bị thương tổn danh
tiếng. Nhưng cách tốt nhất là không nên dùng để khỏi phải đề phòng họ. Hàn Phi cho
biết một số hạng người không nên dùng: hạng người coi khinh tước lộc, dễ dàng bỏ
chức vụ mà đi nơi khác; hạng đặt lời giả dối trái pháp luật; hạng người lánh đời, ở
ẩn, chê bai vua; hạng vì tư lời mà làm thân các chư hầu; hạng vì người thân quen mà
làm việc riêng tư… Tuy nhiên Hàn Phi cũng cho rằng có kẻ rất tài giỏi lại là gian
thần, nếu vua có thuật để khống chế họ thì vẫn có thể dùng
"Thuật" còn thể hiện trong "thuật dùng người". Quy tắc cơ bản của thuật dùng
người theo Pháp gia là thuyết Hình danh. Thuyết này là Pháp gia kế thừa từ Khổng
Tử, và Phái Danh gia. Nhưng Hàn Phi có óc thực tế, không bàn về tri thức luận mà
đem học thuyết của Nho gia vào chính trị, ông chỉ thu hẹp vào việc dùng người, gạt
bỏ những vấn đề về đạo đức, luân lí. Ông không nói đến "Chính danh", mà chỉ nói
đến "Hình danh", hay là "Thực danh". Danh và hình hay thực phải hợp nhau. Ví như
một người hứa đến thăm ta, lời hứa đó là "Danh" và hành động tới thăm là "Hình"
hay "Thực" vậy. Nếu người đó đến thăm thực thì chứng tỏ danh và hình hợp nhau,
nếu không thì chỉ có danh mà không có hình hay không có thực. Nếu pháp luật là
danh thì sự việc là hình, sự việc hợp pháp luật thì danh và thực hợp nhau. Nếu quan
Trang 9
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
vị là danh thì chức vụ là hình, chức vụ không hợp với quan vị thì danh và hình không
hợp nhau. Hàn Phi cho quy tắc hình và danh hợp nhau là quan trọng nhất trong việc

GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau trong một học thuyết duy nhất. Hàn
Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó. Tư tưởng chủ đạo của pháp gia là
muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật làm trọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội
có phức tạp bao nhiêu, nước có đông dân bao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ"
được. Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được vương quốc Tần ra sức vận dụng và
kết cục đã đưa nước Tần đến thành công trong việc kết thúc cục diện phân tán cát cứ,
thống nhất được đất nước Trung Hoa sau những năm dài chiến tranh khốc liệt.
II. Vận dụng tư tưởng pháp trị của Pháp gia vào việc quản lý Nhà nước ở
Việt Nam hiện nay.
1. Hoạt động quản lý nhà nước phải phù hợp với pháp luật
Đây cũng chính là những yêu cầu của nhà nước pháp quyền. Trong việc xây
dựng nhà nước Việt nam hiện nay, những tư tưởng đó rất có ý nghĩa. Trong nhà nước
pháp quyền, mọi hoạt động của nhà nước phải dựa trên các quy định của pháp luật.
Pháp luật do nhà nước đặt ra nhưng chính nhà nước cũng phải quản lý xã hội theo
pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước
phải dựa trên nền tảng pháp lý. Pháp luật là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền
lực công khai, mọi chủ thể trong xã hội trong đó có cả những cơ quan nhà nước bất
kê cương vị nào đều phải tuân theo pháp luật. Mọi đường lối, chính sách và quyết
định của nhà nước đều phải dựa trên cơ sở của pháp luật. Đó chính là yêu cầu về tính
hợp pháp trong hoạt động của chính quyền trong nhà nước pháp quyền.
Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn
quyền lực nhà nước là ở nhân dân. Để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, trong đó nhà nước là của nhân dân chứ không phải nhân dân là của nhà nước,
Nhà nước pháp quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của
nhà nước, nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn nhân dân được
làm tất cả những điều pháp luật không cấm, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự
do tối đa của nhân dân. Vai trò của pháp luật trong việc xây dựng và duy trì một xã
hội trật tự ổn định, trong đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cá nhân, mà bản thân nhà
nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật đã được

Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải phù hợp với thực tiễn. Đây chính là
yêu cầu về tính khách quan của pháp luật. Mỗi một xã hội có một hệ thống pháp luật
tương ứng. Pháp luật là sự ghi nhận những quan hệ xã hội đã ổn định. Do vậy pháp
luật phải thực sự phù hợp với hiện thực khách quan.
Trang 12
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
Một thực tiễn đối với pháp luật Việt Nam hiện nay là có nhiều văn bản pháp
luật ban hành không phù hợp với thực tiễn nên thiếu khả năng đi vào cuộc sống; một
văn bản pháp luật vừa ban hành đã có những điều khoản phải sửa đổi. Cho nên vấn
đề đặt ra là việc ban hành mới hay sửa đổi các văn bản pháp luật phải phù hợp với
nhu cầu thực tiễn. Điều này đòi hỏi việc ban hành các quy định pháp luật phải có sự
hiểu biết đầy đủ về thực tiễn khách quan. Các kế hoạch ban hành văn bản pháp luật
phải dựa vào những thông số về thực tiễn của vấn đề cần điều chỉnh bằng pháp luật.
Pháp luật được ban hành phù hợp với nhu cầu thực tiễn khách quan mới có thể đảm
bảo cho khả năng thực thi cao và sức sống lâu dài của các văn bản pháp luật, sự an
toàn pháp lý của xã hội. Đối với những văn bản pháp luật vấp phải những khúc mắc
khi thực hiện trong thực tiễn thì nên sửa đổi.
Pháp luật phải thống nhất. Pháp luật phải được hiểu và áp dụng thống nhất
trên toàn lãnh thổ, không thể mỗi nơi áp dụng một kiểu. Sự thống nhất của pháp luật
không chỉ là trong sự áp dụng pháp luật mà trong cấu trúc nội tại của pháp luật.
Tính thống nhất của pháp luật của Việt nam hiên nay chưa thực sự đảm bảo.
Việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung qua các văn bản pháp luật của các cấp chính
quyền nhiều khi dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất trong pháp luật.
Văn bản của ngành này lại phủ nhận văn bản của ngành kia.
Trong pháp luật kinh doanh Việt Nam hiện nay tính không nhất quán có thể
nhận thấy rất rõ : mỗi loại hình doanh nghiệp có một loại luật, mỗi loại hợp đồng có
một loại luật, mỗi cách giải quyết tranh chấp kinh doanh có một loại luật và giữa
chúng không có quan hệ gì. Khi một người kinh doanh giao dịch trên thị trường, họ
cần nhiều pháp luật về hợp đồng khác nhau và bối rối không biết dùng hợp đồng nào
cho đúng ( kinh tế, dân sự, thương mại…). Sự thiếu nhất quán làm cho văn bản pháp

các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình báo chí đặt biệt
là tình hình phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, pháp luật phải được công bố
rộng rãi trên internet để đảm bảo cho dân tiện lợi trong việc sử dụng pháp luật.
Pháp luật phải đảm bảo tính công bằng. Pháp luật phải là đại lượng của công
lý. Không có những yêu cầu riêng cho pháp luật công lý mà công lý chính là bản
thân vốn có của pháp luật. Một khi pháp luật là công cụ của thiểu số bọn thống trị, áp
bức nhân dân, tham nhũng, vơ vét của cải nhân dân, của nước thì đó không phải pháp
luật đúng với bản chất của nó, đó không là pháp luật chân chính. Pháp luật phải là
công cụ của mọi chủ thể trong xã hội chứ không chỉ đơn thuần là công cụ của nhà
nước. Pháp luật là công cụ tốt nhất được mọi chủ thể trong xã hội tin tưởng, trở
Trang 14
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
thành lá chắn quan trọng có tác dụng bảo vệ mọi chủ thể. Một khi nhà nước của
chúng ta là nhà nước của dân do dân, vì dân thì pháp luật của chúng ta cũng phải là
pháp luật của dân do dân vì dân.
Tính công bằng pháp luật rất cần thiết cho các doanh nghiệp. Trong giai đoạn
hiện nay, pháp luật về kinh doanh của chúng ta nhiều khi chưa thực sự công bằng với
các thành phần kinh tế. Do đó các doanh nghiệp thiếu một môi trường bình đẳng cho
hoạt động của mình. Họ rất cần đến pháp luật để tạo ra một sân chơi bình đẳng. Pháp
luật phải tạo ra một hành lang pháp lý công bằng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp.
Trong hoạt động xét xử của tòa án phải đảm bảo nguyên tắc hiến định “mọi
công dân đều phải bình đẳng trước pháp luật”. Thực hiện sự bình đẳng của pháp luật,
phải xử những quan chức nhà nước phạm tội. Mọi vi phạm đều phải được xử lý theo
đúng pháp luật, không phân biệt đối tượng là quan hay dân. Bất cứ ai vi phạm đều
đưa ra xét xử, không được giữ lại để xử nội bộ. Để đảm bảo được điều này, Tòa án
phải xét xử một cách thực sự độc lập, không thiên vị, không chịu áp lực xã hội.
3. Người quản lý nhà nước phải có sự học hỏi và áp dụng những nghệ
thuật dùng người trong quản lý nhà nước
Hàn Phi đã đề cao vai trò của việc sử dụng các nghệ thuật trong việc tuyển

chế đó bởi điều kiện lịch sử và sự chi phối của lợi ích giai cấp, nó vẫn có những ý
nghĩa và bài học lịch sử bổ ích để vận dụng vào quản lý nhà nước Việt Nam hiện
nay. Ý nghĩa và bài học lịch sử đó là tinh thần thượng tôn pháp luật, đó là tư tưởng
“biến pháp”, đó là tính nghiêm minh trong thi hành pháp luật, đó còn là chính sách
đào tạo sử dụng con người (dụng nhân) trong bộ máy nhà nước.
Những giá trị của tư tưởng pháp trị có tác dụng thiết lập pháp luật nhằm ổn
định chính trị và xã hội. Chính vì vậy, trong điều kiện lịch sử hiện nay, việc nghiên
cứu, tham khảo và sử dụng tư tưởng pháp trị một cách phù hợp là điều rất cần thiết
trong quá trình xây dựng và đổi mới đất nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam và quản
lý xã hội bằng pháp luật.
Trang 16
GVHD: TS. Bùi Bá Linh HVTH: Lê Minh Tùng
TÀI LIỆU KHAM KHẢO

1. Bài giảng “ Triết học cổ đại Trung Quốc”, TS. Bùi Bá Linh
2. Đại cương lịch sử triết học, TS. Nguyễn Ngọc Thu – TS. Bùi Văn Mưa
(đồng chủ biên), Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM
3. Vấn đề quản lý nhà nước trong triết học Trung Quốc cổ đại, Nguyên Anh
Tuấn ( chủ biên ), Nhà xuất bản Đại học quốc gia TPHCM 2002
Trang 17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status