Kết hợp đức trị và pháp trị trong quản lý nhà nước ở việt nam hiện nay - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

- - - - -/- - - - -

- - -/- - -

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ MẠNH QUÂN

KẾT HỢP ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP TRỊ TRONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

- - - - -/- - - - -

- - -/- - -

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VŨ MẠNH QUÂN

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tác giả đã
nhận được nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ, sự động viên từ các tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
đến Thầy giáo PGS.TS.Trương Quốc Chính, người đã tận tình hướng dẫn và
có những gợi ý quý báu, cũng như luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả Quý thầy, cô giáo Học viện Hành chính
Quốc gia tại Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ Học viên
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, cũng như thực hiện chương trình
đào tạo Thạc sĩ quản lý công.
Xin được ghi nhận sự giúp đỡ và chia sẽ thành quả lao động của bản thân
đến PGS.TS. Bùi Huy Khiên giảng viên HVHCQG; GS Vũ Khiêu, AHLĐ Danh nhân văn hóa Việt Nam; PGS.TS. Luật sư Chu Hồng Thanh; Ngài Nguyễn
Mạnh Cầm , Nguyên uỷ viên Bộ Chính trị - Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao VN; Ngài Vũ Trọng Kim, Nguyên UVTW
Đảng - Nguyên phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung
ương MTTQVN - Chủ tịch Hội cựu thanh niên xung phong Việt Nam - Đại biểu
QH nước CHXHCHVN và không quên gửi lời tri ân sâu sắc tới thầy giáo Chủ
nhiệm Lê Như Phong; thầy giáo Trưởng khoa Sau đại học, Nguyễn Bá Chiến đã
hết lòng nhiệt tình quan tâm, hướng dẫn, cũng như cung cấp tài liệu và đóng góp
ý kiến quý báu để học viên hoàn thành luận văn. Tác giả học viên cũng xin tri ân
những tác giả, dịch giả đang còn hiện hữu hoặc đã vắng bóng nơi cuộc đời này
đã đóng góp những nguồn tài liệu hữu ích để người viết hoàn thành luận văn
này. Về phía tác giả, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong học tập và nghiên cứu.
Song, luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, khiếm
khuyết bởi những lý do chủ quan và khách quan. Tác giả luôn cầu thị và kính
mong nhận được sự chỉ bảo của Quý thầy cô, các chuyên gia và những người
quan tâm đóng góp ý kiến để luận văn này có thể tiếp tục trở thành công trình
nghiên cứu khoa học hoàn thiện hơn./.
Xin trân trọng cảm ơn!



QL

Quản lý

MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UVTW

Ủy viên Trung ương

CSVN

Cộng sản Việt Nam

CNXH

Chủ nghĩa xã hội


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỰ KẾT HỢP ĐỨC TRỊ VÀ PHÁP
TRỊ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC........................................................ 10
1.1. Những vấn đề chung về quản lý nhà nước ...................................... 10
1.1.2. Nội dung quản lý nhà nước........................................................... 12
1.1.3. Công cụ quản lý nhà nước............................................................. 15
1.2. Quan hệ giữa đức trị và pháp trị và sự cần thiết khách quan phải
kết hợp đức trị và pháp trị trong quản lý nhà nước.............................. 20
1.2.1. Đức trị và pháp trị ......................................................................... 20
1.2.2. Sự tương đồng giữa đức trị và pháp trị ......................................... 27


3.2. Giải pháp đảm bảo kết hợp đức trị và pháp trị trong quản lý nhà
nước ở Việt Nam hiện nay ........................................................................ 89
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của pháp luật, của đạo đức
cũng như ý nghĩa của sự kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà
nước......................................................................................................... 89
3.2.2. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với củng cố
và phát triển các giá trị đạo đức tiến bộ trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam...................................... 93
3.2.3. Đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức, pháp luật trong gia đình, nhà
trường và xã hội ...................................................................................... 98
3.2.4. Xử lý vi phạm pháp luật phải gắn liền với việc củng cố các giá trị
đạo đức truyền thống và các giá trị đạo đức mới xã hội chủ nghĩa ...... 104
Tiểu kết Chương 3....................................................................................... 108
KẾT LUẬN .................................................................................................. 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài Luận văn
Dùng pháp luật hoặc đạo đức hoặc cả pháp luật và đạo đức để cai trị đã
trở thành thuật trị nước, an dân từ ngàn xưa của các nhà nước. Dưới mỗi triều
đại, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù của mình mà các
giai cấp cầm quyền lựa chọn một phương thức quản lý nhà nước thích hợp,
nhằm mang lại hiệu quả cho đại cục Chính trị. Đó có thể là đức trị (quản lý xã
hội bằng đạo đức), là pháp trị (quản lý xã hội bằng hình thức thực hiện một
cách nghiêm khắc nhất, thậm chí là tàn khốc chiểu theo pháp luật) hoặc kết
hợp cả hai phương thức đó. Ngoài đức trị, pháp trị còn có “nhân trị”, “kỹ
trị”…nhưng hai phạm trù chủ yếu thường được bàn đến và sử dụng phổ biến

nghiêm đến nhường nào, không sơ hở, không bỏ lọt dù chân tơ kẽ tóc.
Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam ta, nhà nước Lê sơ, nhất là
triều vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497) đã kết hợp khá nhuần nhuyễn đạo đức
với pháp luật trong thuật trị nước và đã mang lại nhiều thành quả to lớn. Có
câu đồng dao: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông; Con bế con dắt, con bồng, con
mang…Đời vua Thái Tổ, Thái Tông; Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”
[*] (trích dẫn https:vi.m.wikipedia.org). Qua đó, ai cũng có thể thấy được sự
phồn thịnh của quốc gia - xã hội Việt Nam thời bấy giờ.
Song, bàn về vấn đề pháp luật, nói đến Luật là nói đến sự hà khắc, là
đồng nghĩa với xử phạt, vì thế gây nên tâm lý sợ Luật, cho đến nay tâm lý này
xa luật hơn, sợ luật nhiều hơn bởi sự bóc lột thuộc địa và khai thác kiệt quệ
sức người, sức của, bởi sự bất bình đẳng giữa địa vị của người mất nước và kẻ
cướp nước. Đó là thứ pháp luật thống trị thực dân, xa rời những giá trị nhân
văn bảo vệ quyền con người, ngăn cản thực hành dân chủ.
Bước ngoặt có tính lịch sử của thuật dựng nước, giữ nước vì tự do và
hạnh phúc của nhân dân, xây dựng đất nước phồn thịnh bằng pháp luật gắn liền
với công lao và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở
Người, Hồ Chí Minh đi tìm con đường giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân


3
cũng đồng thời là quá trình nhận thức, khẳng định vai trò, giá trị của pháp luật
trong quá trình dựng nước và giữ nước. Song, chính Người cũng là điển hình
mẫu mực trong việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa pháp luật và đạo đức, quản lý
nhà nước bằng pháp luật, phát huy tối đa vai trò của đạo đức trong xây dựng
đời sống mới. Đạo đức công dân giúp cho mỗi người tự giác nhận thức, tôn
trọng và thực hiện pháp luật. Cùng với, đạo đức công chức góp phần ngăn chặn
sự thoái hoá biến chất của người thực thi quyền lực nhà nước. Đặc biệt, đạo
đức chính là cơ sở xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân, và vì dân, nó
phù hợp với bản sắc văn hóa Việt Nam... Tư tưởng pháp trị kết hợp với đức trị

dụng thuật trị nước hiệu quả: gắn đức trị và pháp trị trong quản lý nhà nước.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Kết hợp giữa đức
trị và pháp trị trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay” để làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Bằng nhiều giác độ khác nhau, sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức
trong QLNN là một vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Hầu
hết các tác giả chủ yếu tập trung xem xét sự giống và khác nhau giữa đức trị
và pháp trị; sự tác động qua lại giữa chúng khi điều chỉnh các quan hệ xã hội
hoặc nghiên cứu mối quan hệ đức trị và pháp trị, giữa pháp luật với đạo đức
trong sinh hoạt xã hội hay trong tổ chức quản lý xã hội nói chung. Ở giác độ
này có thể kể ra một số công trình nghiên cứu khoa học sau đây:
- Trần Hậu Thành, “Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật”, Tạp chí
Giáo dục lý luận, số 5-1998.
- Trần Hậu Thành và Lê Thị Hoài Thanh, “Về quan hệ giữa đạo đức và
pháp luật”, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 6-2000.
- Hoàng Thị Kim Quế (chủ nhiệm) “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ, 2002.
- Hoàng Xuân Châu, “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam” Luận văn Thạc sĩ
Luật học Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.


5
- Nguyễn Văn Năm, “Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt
Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học Đại học Luật Hà Nội, 2003.
- Chu Hồng Thanh “Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về đức trị và pháp
trị ”, Đời sống & Pháp luật số 8/2013.
Các công trình nghiên cứu về vai trò và những ảnh hưởng, tác động của
đạo đức trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật giai đoạn hiện nay bao gồm:

giả trước đó về chủ đề đức trị và pháp trị. Song, các công trình nghiên cứu
trên đây mới nghiên cứu đức trị và pháp trị trong các quan hệ xã hội, dưới
giác độ xã hội học và quản lý xã hội, về ngành, lĩnh vực riêng lẻ hoặc dưới
giác độ Chính trị học, Triết học, Luật học, CNXH Khoa học, Tư tưởng Hồ
Chí Minh.... tác giả tìm kiếm tất cả các nguồn, nhưng chưa có một công trình
nào nghiên cứu chuyên sâu về sự kết hợp và tương quan giữa đức trị và pháp
trị trong lĩnh vực quản lý nhà nước ở Việt Nam. Chính vì vậy, luận văn này
của tác giả là sự triển khai nghiên cứu quản lý nhà nước bằng đức trị và pháp
tri là sự kết hợp liên minh giằng buộc, dưới giác độ đề tài Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành quản lý công.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nhiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm kết hợp tốt hơn và thực chất hơn nữa giữa
đức trị và pháp trị trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
Một là, hệ thống lại một số vấn đề chung về quản lý nhà nước, đức trị
và pháp trị, mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị, sự cần thiết khách quan phải
kết hợp giữa đức trị và pháp trị để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng việc kết hợp giữa đức trị và pháp
trị trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay, những kết quả đã đạt được,
những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.


7
Ba là, trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của nhà nước, đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp tốt hơn và thực chất hơn
đức trị với pháp trị trong quản lý nhà nước ở Việt Nam trong những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

đánh giá thực trạng kết hợp đức trị với pháp trị trong quản lý nhà nước ở
nước ta hiện nay, để từ đó chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân của những tồn
tại làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất những giải pháp được tác giả đặt
tại chương 3.
- Phương pháp so sánh: Kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong quản lý
nhà nước đã được nhiều triều đại phong kiến ở Việt Nam thực hiện với những
mức độ thành công khác nhau. Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đối
chiếu phương thức kết hợp giữa đức trị và pháp trị ở một số triều đại phong
kiến so với ở Việt Nam hiện nay để tìm ra những sự khác biệt. Các phương
pháp so sánh, đối chiếu, bảng biểu, khảo sát và phân tích thực tiễn cũng được
Luận văn quan tâm sử dụng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hoá cũng như phân tích những nội dung lý
luận cơ bản về quản lý nhà nước trên quan điểm kết hợp những yếu tố tích cực
và ưu điểm vượt trội về đức trị và pháp trị trong thực tiễn quản lý nhà nước.
6.2. Về ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần khẳng định sự cần thiết của việc kết hợp đức trị và
pháp trị trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, luận văn
này có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu về quan hệ đức trị và pháp
trị cho người dạy, người học, cho giảng viên, nghiên cứu viên và học viên
Học viện Hành chính Quốc gia và những người nghiên cứu về khoa học hành
chính hoặc nhà nước nói chung, trong đó có những người tu hành nơi Phật
môn đang đồng hành cùng đất nước trong thời kỳ đổi mới.


9
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được kết cấu thành 3 chương:

- Xây dựng các quy chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các
doanh nghiệp và với công dân.
Sáu là, hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý nhà nước. Nội dung
này bao gồm các công việc sau:
- Mở rộng hợp tác quốc tế trong các hoạt động giao lưu, trao đổi, học
tập, chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động QLNN;


15
- Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, thông tin về những chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong quản lý
các lĩnh vực đến bạn bè quốc tế;
- Hợp tác với các nước trong hoạt động ĐTBD cán bộ, công chức
nhà nước;
- Hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế trong việc phòng, chống
tội phạm xâm hại đến an ninh, trật tự của đất nước.
Bảy là, thanh tra, kiểm tra và giải quyết những khiếu nại, tố cáo, xử lý
những vi phạm pháp luật. Nội dung này bao gồm các công việc sau:
- Thanh tra, kiểm tra việc thực thi chủ trương, đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng và nhà nước của các cơ quan nhà nước và đội ngũ CBCC;
- Tiếp nhận đơn, thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ
chức và công dân đối với các cơ quan nhà nước;
- Xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật theo những quy định của
pháp luật.
1.1.3. Công cụ quản lý nhà nước
Trải qua chiều dài của lịch sử xã hội, đã có rất nhiều công cụ quản lý
được các nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt đến
một trật tự mà giai cấp thống trị mong muốn. Trong các công cụ đó, nổi bật
lên hai loại công cụ đặc biệt mà nhân loại đã sử dụng như những phương thức
quan trọng để duy trì và củng cố quyền lực, đó là pháp luật và đạo đức hay

cưỡng chế của nhà nước. Vì vậy pháp luật là công cụ có vai trò quan trọng để
tổ chức và quản lý đời sống xã hội. Pháp luật đảm bảo cho xã hội tồn tại và
phát triển trong ổn định, trật tự. Nhờ có pháp luật, các hành vi xâm hại trật tự,
an toàn xã hội được hạn chế và từng bước bị loại bỏ khỏi đời sống xã hội.
Nhờ có pháp luật, giai cấp thống trị có thể củng cố, duy trì địa vị thống trị xã
hội, bảo vệ và phát triển các lợi ích của mình, trấn áp sự phản kháng của các
giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Bằng pháp luật, nhà nước có thể quản lý
các mặt khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Nhờ có pháp luật, nhà nước


17
có cơ sở để phát huy quyền lực của mình, kiểm tra, giám sát các hoạt động
của con người, tổ chức trong xã hội. Pháp luật là cơ sở để nhà nước quy định
chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và phương pháp hoạt động của các cơ
quan, nhân viên trong bộ máy nhà nước. Cũng nhờ có pháp luật mà bộ máy
nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả. Pháp luật
cũng là công cụ để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện với sự kiểm
soát chặt chẽ. Do vậy, các hiện tượng lộng quyền, lạm quyền, yếm quyền, thái
độ thờ ơ, vô trách nhiệm bị hạn chế và loại trừ.
Pháp luật còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ và bảo đảm các quyền tự
do dân chủ, quyền con người, quyền công dân, là cơ sở để thiết lập mối quan
hệ ngoại giao với các quốc gia khác nhau trên thế giới.
1.1.3.2. Công cụ đạo đức
Đạo đức là sản phẩm của xã hội loài người, được hình thành, phát triển
và tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
“Chân lý đạo đức cũng như mọi chân lý mang tính chất tương đối. Nó
là sự phản ánh của tồn tại xã hội nên tất nhiên sẽ thay đổi theo sự thay đổi
của xã hội ngày mai. Nhân dân ta, con người trong xã hội ngày mai sẽ xuất
phát từ yêu cầu cụ thể của hoàn cảnh lúc ấy mà quy định hành vi đạo đức của
mình. Hồ Chí Minh không ghi sẵn cho chúng ta những giải pháp cụ thể,

trong xã hội. Một hành vi nào đó có thể được cộng đồng khen hay chê, được
coi là ưu điểm hay khuyết điểm, được đánh giá là thiện hay ác, chân hay giả,
tốt hay xấu... Sự đánh giá này được biểu hiện tập trung nhất thành dư luận xã
hội. Bên cạnh sự đánh giá từ phía cộng đồng xã hội thì chính bản thân các
thành viên cũng tự đánh giá về hành vi của mình. Xuất phát từ nhận thức và
lương tâm mà mỗi cá nhân nhận thấy tinh thần của mình thanh thản hay bị
day dứt, đau khổ... từ đó mà hình thành cảm xúc, tình cảm trong mỗi người.
Từ nhận thức và lương tâm, người ta thương cảm với những nạn nhân của cái



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status