Lời giới thiệu
1. Bối cảnh nghiên cứu
Bớc sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một bức
tranh tổng thể là thế giới với gần một nửa số dân sống dới 2USD
*
/ngày và cứ 8
trong số 100 trẻ em không sống đợc đến 5 tuổi. Vì vậy một phong trào sôi nổi
và rộng khắp trên thế giới là phải làm nh thế nào để đẩy lùi nghèo đói. Còn Việt
Nam thì sao? Trong những năm gần đây, Việt Nam đợc đánh giá là một trong
những nớc có công tác xoá đói giảm nghèo tốt nhất theo tiêu chuẩn và phơng
pháp xác định đờng nghèo khổ của WB, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam giảm từ 58,1%
năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 và hiện nay còn khoảng 30%. Theo tiêu
chuẩn quốc gia tỷ lệ nghèo đói của nớc ta giảm từ 30,01% năm 1992 xuống
11% năm 2000. Tuy quy mô đói nghèo toàn quốc giảm nhanh. Nhng thực trạng
cho thấy, Việt Nam vẫn là một nớc nghèo. Con số các hộ bị tái nghèo là rất lớn
bình quân hàng năm khoảng 50.000 hộ (riêng năm 1996 và 1997 mỗi năm
khoảng gần 100.000 hộ do bão lụt. Nếu so sánh tình trạng đói nghèo của nớc ta
với các nớc trên thế giới thì tính bức xúc của nó là rất lớn, ngỡng nghèo của
Việt Nam vẫn xa với ngỡng nghèo của thế giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Với một tỷ lệ không nhỏ số dân đang sồng trong cảnh cùng cực, Việt Nam
sẽ khó thực hiện đợc tiến trình CNH-HĐH đất nớc. Vấn đề đặt ra là phải làm
sao đẩy lùi đợc tình trạng đói nghèo xuống. Nhng muốn có những chính sách,
biện pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả thì nhất thiết phải hiểu đợc những
nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng nghèo đói của Việt Nam. Nhận thức đợc yêu
cầu bức thiết đó, nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào thực trạng nghèo đói ở
Việt Nam, các nguyên nhân làm cho một số ngời rời vào cảnh khối cùng, các
mối quan hệ giữa nghèo đói với công bằng xã hội, sự phân hoá giàu nghèo giữa
các vùng khác nhau. Nghiên cứu này còn giúp ta hiểu thêm mức độ, tầm ảnh h-
ởng của nghèo đói ở Việt Nam cũng nh nhiều nớc trên thế giới. Nó ảnh hởng
nh thế nào, tác động ra sao đến chất lợng cuộc sống của ngời dân, cũng nh sự
nhau.
6. Kết cấu của đề tài:
Đề tài sẽ đợc chia làm 3 phần:
Chơng 1: Đói nghèo - các nguyên nhân dẫn tới đói nghèo.
Chơng 2: Những nhân tố tác động đến đói nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Chơng 3: Một số biện pháp nhằm xoá đói giảm nghèo.
Do phạm vi nghiên cứu rộng, năng lực và kinh nghiệm bản thân có hạn, đề
tài không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em mong nhận đợc sự chỉ
dẫn, gợi ý, nhận xét của thầy cô để bổ sung và hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên: Nguyễn Vũ Phúc
Lớp K35-F1 trờng Đại học Thơng mại
Chơng 1: Tổng quan của đói nghèo
1.1. Khái niệm về đói nghèo
1.1.1. Định nghĩa về đói nghèo
Đói nghèo từ tiếng nói của chính ngời nghèo.
Tiếng nói của ngời nghèo cho ta những cảm nhận cụ thể, rõ ràng nhất về
các khía cạnh của nghèo đói (nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật
chất mà còn là sự thụ hởng thiếu thốn về giáo dục và y tế. Một ngời nghèo ở
Kênia đã nói về sự nghèo đói: Hãy quan sát ngôi nhà và đếm xem có bao nhiêu
lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo tôi đang mặc trên
ngời. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông thấy. Cái mà ông thấy chính là
nghèo đói. Một nhóm thảo luận Braxin đã định nghĩa về đói nghèo là: Tiền l-
ơng thấp và thiếu việc làm, và cũng có nghĩa là không đợc hởng thụ về y tế,
không có thức ăn và quần áo. Ngoài ra, khái niệm đói nghèo còn đợc mở rộng
để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thơng, không có tiếng nó và quyền lực. Từ
tiếng nói của ngời nghèo, các nhà nghiên cứu đã đa ra các khái niệm về đói
nghèo. Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh
tế của một quốc gia mà ta có các quan điểm khác nhau về nghèo đói.
Quan niệm trớc đây
+ Sự nghèo khổ của con ngời: thiếu những quyền cơ bản của con ngời nh
biết đọc, biết viết, đợc tham gia vào các quyết định cộng dồng và đợc nuôi dỡng
tạm đủ.
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi
tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn đợc xác định
nh sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lơng thực và phí lơng thực
chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi đợc xác định khác nhau ở nớc này hoặc nớc
khác.
Quan niệm của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng:
ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân c chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phơng diện.
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân c nghèo có mức sống dới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là các hộ dân c hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thờng vay mợn
cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể,
nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dới 13kg gạo/ngời/tháng (tơng
đơng 45.000VND).
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đa ra định nghĩa chung về nghèo đói:
Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không có những điều kiện về cuộc
sống nh ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền đợc tham gia vào các
quyết định của cộng đồng
Qua các cách tiếp cận trên đã giúp chúng ta nâng cao sự hiểu về các
nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phơng hớng cách thức hành động
sản vật chất ở đây nh nhà ở, phơng tiện sản xuất - ngời nghèo có rất ít hoặc hầu
nh không có các phơng tiện sản xuất. Điều này đã hạn chế khả năng lao động
của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so với những ngời có đủ phơng tiện sản xuất
nó cũng làm giảm thu nhập của họ. Còn về nhà ở, đại đa số ngời nghèo sống
trong những căn nhà tạm bợ, dột nát, chật chội. Nhiều căn nhà không đủ đảm
bảo an toàn, không bảo đảm sức khoẻ cho những ngời sống trong đó. Do không
có những tài sản giá trị để bảo đảm nên ngời nghèo cũng có rất ít khả năng tiếp
cận với các tổ chức cho vay vốn, do thu nhập thấp nên ngời nghèo cũng không
có khả năng tiết kiệm nhiều. Đó chính là thiếu hụt tài sản tài chính. Còn tài sản
xã hội, nh các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ
cậy và ảnh hởng chính trị đối với các nguồn lực, đối với ngời nghèo điều này
cũng rất hạn chế, do thu nhập thấp, lúc nào cũng phải lo chạy ăn đủ bữa nên ng-
ời nghèo không quan tâm hoặc không có khả năng tham gia nhiều vào các mối
quan hệ xã hội. Một điều cản trở nữa là, hầu hết khi tham gia vào các nhóm, tổ
chức nào đó cũng đều phải đóng một khoản phí nhất định, ngời nghèo lo ăn còn
cha đủ, nói gì đến việc bỏ tiền tham gia nhóm, hội nào đó. Điều này đã làm cho
ngời nghèo dần bị cô lập và do đó khó nhận đợc sự giúp đỡ từ các nhóm, hội khi
gặp khó khăn.
Y tế - giáo dục
Những ngời nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thờng cao nh ốm
đau, các bệnh về đờng giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không đợc tốt do ăn uống
không đảm bảo, lao động cực nhọc. Ngời nghèo thờng sống ở những vùng có
điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không đợc sử
dụng nguồn nớc sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làm
giảm đáng kể sức khoẻ của họ. Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ chết của trẻ sơ
sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dỡng và số bà mẹ mang thai thiếu
máu rất cao. Có điều này là do ngời nghèo có thu nhập thấp, không đủ trả khoản
tiền viện phí lớn cũng nh các chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối
xử bất bình đẳng trong xã hội, ngời nghèo không đợc quan tâm chữa trị bằng
ngời giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế của ngời nghèo là rất thấp. Bên
cuộc sống. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thơng và rất khó vợt qua đ-
ợc các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những ngời có nhiều
tài sản hơn dễ dàng vợt qua đợc. Do thu nhập thấp, ngời nghèo có rất ít khả
năng tiếp cận với các cơ hội tăng trởng kinh tế, vì thế họ thờng phải bỏ thêm các
chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập. ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra
nh mất cắp hay có ngời bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng,
làm đảo lộn cuộc sống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể
phục hồi đợc. Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể
làm trầm trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn. Chẳng hạn, ví dụ trên,
do thiếu tài sản nên để chạy chữa cho một ngời bị ốm, gia đình đã buộc phải
quyết định cho một đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa... những
phơng tiện lao động cần thiết của gia đình. Cũng có thể ngời bệnh thì không
khỏi đợc còn gia đình từ cảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng. Nh vậy, nếu có
thêm một vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là
điều khó tránh khỏi với ngời nghèo.
Nguy cơ dễ bị tổn thơng đã tạo nên một tâm lý chung của ngời nghèo là sợ
phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi
ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví
dụ đầu t vào giống lúa mới, áp dụng phơng thức sản xuất mới...) chính điều này
đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng quay của thị trờng
và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn.
Không có tiếng nói và quyền lực
Những ngời nghèo thờng bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã
hội do vậy họ thờng không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung
của cộng đồng cũng nh các công việc liên quan đến chính bản thân họ. Trong
cuộc sống những ngời nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu
sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tớc đi những quyền mà những ngời bình thờng khác
nghiễm nhiên đợc hởng. Ngời nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn
nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát đợc cuộc sống của mình.
Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại.
bị coi là nghèo. Cách làm này xem ra rất tiện dụng khi đa ra các con số tổng
hợp đói nghèo trên phạm vi toàn cầu. WB đa ngỡng nghèo là 1USD/ngời/ngày
và 2USD/ngời/ngày
*
bị coi là nghèo đói. Bên cạnh các u điểm nêu trên, phơng
pháp này còn có một số hạn chế. Đó là, các cách điều tra khác nhau giữa các
thời kỳ, giữa các vùng, khu vực, giữa các quốc gia làm cho việc so sánh gặp
nhiều khó khăn, số liệu thu thập từ các hộ gia đình thờng không đầy đủ và chính
xác, không phản ánh hết tình trạng bất bình đẳng chung của đói nghèo.
Y tế và giáo dục
Ngoài cách tiếp cận dựa vào thu nhập WB còn sử dụng thớc đo y tế và giáo
dục để đo lờng sự khốn cùng của ngời dân. Nó bao gồm các chỉ tiêu:
* Về y tế:
- = x 100
- =x100
- = x100
- = x100
- = x 100
- =
- =
- Tuổi thọ bình quân là số năm trung bình một ngời có thể sống đợc.
- Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là tỷ lệ phụ nữ đang thực hiện hay
bạn đời của họ đang thực hiện bất kỳ hình thức tránh thai nào.
+ Về giáo dục:
- = x 100
- = x 100
- = x 100
Đo lờng nghèo đói dựa vào các chỉ số trên cho phép phản ánh đầy đủ các
khía cạnh của ngời nghèo. Nó giúp ta có một bức tranh đầy đủ hơn về chất lợng
cuộc sống của ngời dân, nó thuận lợi cho việc so sánh nghèo đói ở những nơi có
hoảng, từ các nhóm hay hiệp hội mà họ là thành viên.
- Tham gia mạng lới an sinh chính thức: Nguy cơ tổn thơng của hộ gia
đình sẽ giảm bớt nếu hộ đủ tiêu chuẩn nhận đợc sự trợ giúp xã hội bảo hiểm
thất nghiệp, lơng hu và các khoản trợ cấp khác do nhà nớc cấp.
- Tiếp cận thị trờng tín dụng. Tơng tự, nguy cơ tổn thơng của hộ gia đình
sẽ giảm nếu hộ tiếp cận đợc nguồn tín dụng một cách nhẹ nhàng.
Kết hợp tất cả góc độ này với nhau ta sẽ có đợc một bức tranh tổng thể về
nguy cơ dễ bị tổn thơng của những ngời nghèo, nó cho biết khả năng chống
chọi của hộ khi có những biến động trong cuộc sống.
Việc đo lờng nguy cơ dễ bị tổn thơng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do
nó là một khía niệm động nên việc đo lờng rất phức tạp, tốn nhiều tiền của và
công sức. Không thể đo lờng nó bằng cách quan sát các hộ gia đình mà phải có
cuộc điều tra, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt đợc những thông tin
cơ bản và tính biến động và nguy cơ dễ bị tổn thơng mà ngời nghèo là rất quan
trọng.
Không có tiếng nói và quyền lực
Không có tiếng nói và quyền lực có thể đợc đo lờng bằng cách sử dụng kết
hợp các biện pháp có sụ tham gia của ngời dân, phỏng vấn và điều tra quốc gia
về các vấn đề nh mức tự do dân sự, tự do chính trị. Không có tiếng nói và quyền
lực thể hiện ở chính mức độ đợc trao quyền của ngời dân. Tức là, xem xét khả
năng tham gia vào các quyết định của gia đình, của cộng đồng vì những ngời
nghèo thờng bị khinh miệt, đối xử và thậm chí còn bị hạn chế một số quyền mà
những ngời bình thờng khác nghiễm nhiên đợc hởng. đo lờng mức độ không có
tiếng nói và quyền lực nó phản ánh nỗi khổ đau mà những ngời nghèo cam lòng
gánh chịu. Họ không có cả những quyền tham gia vào những vấn đề ảnh hởng
trực tiếp đến phúc lợi của họ. Việc đo lờng đói nghèo dựa theo tiêu chí này đợc
ngời nghèo cho là rất quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện gặp nhiều khó khăn,
tốn kém nhiều tiền của và công sức, nó phải đợc thực hiện bằng các cuộc điều
tra, phỏng vấn, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt đợc những thông
tin chính xác về vấn đề này.
dụng cho giai đoạn 2001-2005. Theo tiêu chuẩn này thì có hai phơng án để lựa
chọn:
Khu vực áp dụng Chuẩn nghèo (đồng/ngời/tháng)
Phơng án 1 (thấp) Phơng án 2 (cao)
Thành thị 135.000 150.000
Nông thôn đồng bằng 70.000 100.000
Nông thôn miền núi 45.000 80.000
Các chuẩn mực trên có thể đúng trên tổng thể song không thể áp dụng cho
từng đối tợng, từng vùng cụ thể đợc. Nếu lấy mức bình quân
800.000đồng/khẩu/năm là hộ nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì có thể lại là
hộ giàu ở vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Vì vậy để chọn và phân loại hộ
đói nghèo ở Việt Nam có thể phải xem xét các đặc trng cơ bản có nó nh: Thiếu
ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lợng khoán, nợ thuế triền miền, vay
nặng lãi, con em không có điều kiện đến trờng (mù chữ hoặc bỏ học), thậm chí
phải cho con hoặc tự bản thân đi làm thuê cuốc mớn để kiếm sống qua ngày
hoặc đi ăn xin... Nếu đa các chuẩn mực này ra để xác định thì rất dễ biết hộ đói
nghèo ở nông thôn...
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo cấp hộ gia đình
Lĩnh vực Chỉ tiêu
I. Nhu cầu ăn 1. Số lợng gạo tối thiểu (12kg/ngời/tháng)
2. giá trị khẩu phần ăn tối thiểu một ngày (...đ/ngời/tháng)
II. Nhu cầu mặc 3. Không đủ quần áo, chăn ấm trong mùa rét
4. Không đủ màn chống muỗi
III. Nhà ở 5. Hộ gia đình ở lều, lán và nhà tạm bợ
IV. Việc làm 6. Thiếu việc làm (thiếu trên tháng/năm)
V. Sức khoẻ 7. Trẻ em từ 1 - 3 tuổi suy dinh dỡng thể thiếu ăn (dới 80%
trọng lợng cần có của độ tuổi)
8. Ngời lớn 15-60 tuổi ốm đau kinh niên (trên 30 ngày/năm)
9. Không có khả năng chữa bệnh khi ốm đau.
VI. Giáo dục 10. Ngời lớn trong độ tuổi lao động (15-60) mù chữ
Để đánh giá các vùng nghèo, ở nớc ta thờng dùng hai chỉ tiêu chính:
- Tỷ lệ các hộ nghèo tuyệt đối trên tổng số hộ của vùng.
- Thu nhập bình quân một thành viên trong một hộ gia đình của vùng.
Ngoài ra còn có thể kết hợp với một số chỉ tiêu khác nh:
- Bình quân lơng thực tính trên một nhân khẩu nông nghiệp
- Số kilômét đờng giao thông trên một nhân khẩu nông nghiệp
- Tổng mức hàng hoá lu thông (nhập, xuất) trong vùng tính theo đầu ngời.
- Tỷ lệ ngời biết chữ, tỷ lệ trẻ em đến trờng.
- Tỷ lệ y, bác sĩ, giờng bệnh trên một nghìn ngời dân.
- Tuổi thọ bình quân.
Các chuẩn mực để xác định vùng nghèo:
- Tỷ lệ các hộ nghèo từ 60% trở lên.
*
370USD là tính theo PPP
- Bình quân thu nhập của một thành viên trong hộ gia đình của cả vùng
hơn mức thu nhập trung bình của một thành viên của một hộ gia đình trong cả
nớc.
Ngoài ra cũng có thể dùng thêm một số chỉ tiêu phụ nh:
- Bình quân lơng thực tính trên đầu ngời dân nông nghiệp dới 200kg/năm.
- Số kilômét đờng giao thong trên một kilômét vuông nhỏ hơn 1/3 mức
trung bình của cả nớc.
- Mức trung bình điện năng, tiền vốn trên một lao động nhỏ hơn 1/3 mức
trung bình của cả nớc.
- Tỷ lệ mù chữ cao hơn 1,5 lần mức trung bình của cả nớc.
- Tỷ lệ y, bác sĩ, giờng bệnh trên một nghìn dân thấp hơn 1/3 mức trung
bình của cả nớc.
Nguồn: Bộ Lao động thơng binh - xã hội và Tổng cục thống kê 2000.
Bảng 1.2. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo ở cấp cộng đồng
Lĩnh vực Chỉ tiêu
I. Mức sống nói
17. Tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh
18. Số Kw/h điện tiêu dùng tính trên đầu ngời/tháng
19. Có hay không có công trình văn hoá quan trọng (nhà văn
hoá, th viện, loa truyền thanh)
20. Có hay không có chợ.
21. Số máy điện thoại tính trên 1000 dân
VIII. Sự tham gia
của nhân dân vào
các hoạt động xã
hội.
22. Tỷ lệ số thành viên các tổ chức chính trị, xã hội (Đảng,
Đoàn thanh niên, phụ nữ, mặt trận tổ quốc, các hội nghề
nghiệp) trên 1000 dân.
IX. Đời sống và
địa vị của phụ nữ
23. Tỷ lệ phụ nữ có thai suy dinh dỡng
24. Số phụ nữ tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà nớc
và đoàn thể xã hội tại địa phơng trên 1000 phụ nữ.
Nguồn: Vũ Tuấn Anh Những tiêu chuẩn đánh giá mức nghèo ở nông
thôn, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 4 năm 1997, trang 38.
Những chỉ tiêu về mức thu nhập ở cấp cộng đồng (làng xã) là phản ánh
mức độ đáp ứng những nhu cầu cơ bản về hàng hoá và dịch vụ công cộng, cả
trong tiêu dùng vật chất lẫn hởng thụ văn hoá tinh thần.
Nhìn chung hiện nay nớc ta dùng hệ thống chỉ tiêu này để đánh giá nghèo
cấp cộng đồng là tơng đối hợp lý. Tuy nhiên nó vẫn còn có mặt hạn chế, cha
nêu bật đợc chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu ngời để đánh giá về nghèo. Mặt
khác, sau những trận bão khủng khiếp cuối những năm 90 ở Nam Bộ, nhiều hộ
gia đình không có nhu cầu về nhà ở kiên cố, ngời ta xây dựng nhà nổi để sống
chung với lũ. Hoặc hiện nay nhu cầu về gạo đang có xu hớng giảm, và cũng có
thể rất nhiều hộ gia đình không có nhu cầu về màn nếu họ ở nhà lầu với máy
mang tính bức xúc. Điều này còn đợc thể hiện ở sự bất bình đẳng cao trên thế
giới, theo số liệu của WB, thu nhập trung bình của 20 nớc giàu nhất gấp 37 lần