đổi mới quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam - Pdf 23

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA : Khu vực tự do Thương mại ASEAN
APEC : Hội đồng kinh tế Châu ¸ - Thái Bình Dương
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GNP : Tổng sản phẩm quốc gia
HCTL : Hội trợ triển lãm
LEFASO : Hiệp hội Da giầy
UBHN : Uỷ ban quốc gia về hội nhập kinh tế quốc tế
UBND : Uỷ ban nhân dân
TSIs : Các tổ chức hỗ trợ thương mại
XNK : Xuất nhập khẩu
XTTM : Xúc tiến thương mại
XTXK : Xúc tiến xuất khẩu
VASEP : Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản
VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VIETFOOD : Hiệp hội lương thực
VIETRADE : Cục Xúc tiến thương mại
VITAS : Hiệp hội Dệt - May
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
NXB : Nhà xuất bản
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Hoạt động xúc tiến thương mại của Việt Nam nói chung và hoạt động
xúc tiến xuất khẩu nói riêng đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về
lượng và chất, góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại trong và ngoài
nước ngày càng phát triển. Từ chỗ chỉ có một số tổ chức của Chính phủ và

tiến xuất khẩu ở nước ta hiện nay cũng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả cao
cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, cũng như mang lại cơ
hội cho các doanh nghiệp trong nước khai thác tiềm năng xuất khẩu.
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO) kể từ tháng 01/2007. Cùng với điều đó, các doanh nghiệp
Việt Nam vừa đứng trước những cơ hội, vừa đứng trước những thách thức to
lớn trong việc mở rộng phạm vi thương mại và tăng cường quy mô thương
mại cả ở trong nền kinh tế và trên toàn cầu. Đồng thời, từ khi thực hiện quá
trình cải cách nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Chủ trương này đã tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX và đặc biệt là Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X vừa qua. Chính vì vậy, hoạt động xúc tiến thương mại trong nền kinh tế n-
ước ta với vai trò chủ thể của nền kinh tế cần làm gì để phát huy vai trò của
các hoạt động xúc tiến thương mại, đặc biệt là xúc tiến xuất khẩu?
Xuất phát từ vấn đề trên đây, “Đổi mới quản lý nhà nước về xúc tiến
thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam (Lấy ví dụ
ở thành phố Hải Phòng)” được chọn làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc
sỹ kinh tế.
2
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Từ trước tới nay, đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề xúc tiến
thương mại ở một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh nhưng chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu trên góc độ địa
phương và đặt ra một số giải pháp cho xúc tiến thương mại ở thị trường nội
địa và thị trường xúc tiến xuất khẩu cấp độ thành phố và tỉnh, chưa đề cập sâu
rộng trên phạm vi quốc gia, nhất là thời điểm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO). Hơn nữa, các nghiên cứu mới chủ yếu tập trung vào
chính các hoạt động xúc tiến thương mại, mà chưa đề cập sâu về phương diện
quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Vì vậy, luận văn muốn đi sâu vào vấn đề

xúc tiến thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu giai đoạn từ năm 2001 đến nay.
+ Về mặt lý luận và những vấn đề chung trong quản lý nhà nước về xúc
tiến thương mại luận văn đề cập trên phạm vi cả nước, nhưng về mặt thực tiễn
luận văn tập trung vào tình hình cụ thể của thành phố Hải Phòng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các
phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng
hợp, thống kê, so sánh và kết hợp lý luận với thực tiễn để nghiên cứu.
6. Dự kiến những đóng góp của Luận văn
- Về lý luận, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức
đang thực hiện chức năng quản lý các hoạt động xúc tiến thương mại để tiến
hành (thực hiện) đổi mới công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao vai trò và
hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại trong nền kinh tế, đặc biệt là hoạt
động xúc tiến xuất khẩu trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và mục tiêu
xuất khẩu đã đề ra.
- Về thực tiễn, luận văn sẽ có những đóng góp cụ thể vào thực tiễn quản
lý các hoạt động xúc tiến thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng thông
qua những đề xuất giải pháp, kiến nghị cụ thể về hình thức tổ chức, cách thức
4
quản lý và các chính sách hỗ trợ của nhà nước trong hoạt động xúc tiến
thương mại cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia xuất khẩu của thành
phố Hải Phòng.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới quản lý nhà nước về
xúc tiến thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (Trường hợp cụ thể: ở thành phố
Hải Phòng).

sách phân phối (Place), Chính sách xúc tiến thương mại (Promotion).
6
Bốn yếu tố này luôn luôn kết hợp với nhau, tương tác lẫn nhau và giúp
nhau cùng phát triển. Hoạt động marketing của một doanh nghiệp không thể
thành công nếu thiếu một trong bốn yếu tố này nhất là yếu tố XTTM. Trong
marketing hỗn hợp XTTM là một P vô cùng quan trọng của 4Ps, điều này dẫn
đến nhiều quan niệm nhầm lẫn cho rằng marketing là tuyên truyền quảng cáo,
triển lãm, xúc tiến bán hàng, hội nghị khách hàng, truyền tin, khảo sát thị
trường Đó chính là các biện pháp XTTM (một P) chứ không phải của toàn
bộ hoạt động marketing.
Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về XTTM theo quan điểm
truyền thống:
- Trong cuốn "Essentials of marketing" Jerome và William định nghĩa
như sau: "XTTM là việc truyền tin giữa người bán và người mua hay những
khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi và quan điểm mua
hàng. Chức năng XTTM chính của nhà quản trị marketing là mách bảo cho
khách hàng mục tiêu biết đúng sản phẩm, đúng chỗ và đúng giá".
- Hiệp hội Marketing của Mỹ định nghĩa: "Xúc tiến bán hàng là bất kỳ
hay toàn bộ các hoạt động không bao gồm các phương tiện thông tin đại
chúng được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định nhằm bán hàng
hoá và hoặc dịch vụ có hiệu quả, năng suất và lợi nhuận".
- Philip Kotler, một chuyên gia Marketing nổi tiếng của Mỹ quan niệm
rằng: "Xúc tiến là hoạt động chuyển tải tới khách hàng tiềm năng thông tin
cần thiết về doanh nghiệp, sản phẩm doanh nghiệp, phương thức phục vụ và
những lợi ích khác mà khách hàng có thể có được từ việc mua sản phẩm hay
dịch vụ của doanh nghiệp, đồng thời thu thập thông tin phản hồi từ phía
khách hàng để từ đó doanh nghiệp có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng
một cách tốt nhất".
- Theo Điều 3 của Luật Thương mại Việt Nam (sửa đổi) được Quốc hội
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/5/2005 " XTTM

chỉ được nhìn nhận dưới góc độ môi trường kinh doanh vi mô của các doanh
nghiệp. Chính vì vậy, trong xu hướng toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại
đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên toàn thế giới, quan niệm hẹp về XTTM
sẽ không giải quyết được những vấn đề như thương mại điện tử, sự tăng
trưởng bền vững của thương mại làm động lực cho phát triển kinh tế, việc các
Chính phủ tham gia hoạch định các chiến lược XTTM quốc tế
* Theo nghĩa rộng (quan niệm hiện đại)
Trong bối cảnh tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá kinh tế, để có thể
thâm nhập và giữ vững thị trường, các doanh nghiệp không thể chỉ tiến hành
các hoạt động XTTM truyền thống (tức là chỉ xúc tiến bán những cái mà họ
có thể sản xuất được, chứ chưa chắc thị trường đã cần), mà phải tiến hành tất
cả các hoạt động nhằm tạo ra đúng sản phẩm mà thị trường có nhu cầu, bán
đúng kênh khách hàng, vào đúng thời điểm, với đúng giá và các hình thức xúc
tiến bán hàng phù hợp. Nói cách khác là xúc tiến bán những gì mà thị trường
cần, chứ không phải những cái mà doanh nghiệp có khả năng sản xuất, "làm
những cái có thể bán được thay vì tìm cách bán những cái có thể làm được".
Đó chính là khái niệm hiện đại hay khái niệm rộng về XTTM gắn liền với lý
thuyết Marketing hiện đại vốn đã và đang được các nước phát triển áp dụng.
Hơn thế nữa, ngoài các doanh nghiệp, các Chính phủ và các tổ chức
XTTM của các nước cũng tham gia hỗ trợ hoạt động này ở cấp vĩ mô. Chính
vì vậy, Trung tâm thương mại quốc tế - ITC cho rằng hoạt động XTTM được
thực hiện cả ở tầm vi mô (các doanh nghiệp) và tầm vĩ mô (các Chính phủ và
các tổ chức XTTM) trong thời gian ngắn hạn và dài hạn. Có thể nói đây là
một khái niệm rất rộng về XTTM và phù hợp với những biến đổi sâu sắc của
môi trường thương mại quốc tế hiện nay.
Thực chất, hoạt động XTTM của các doanh nghiệp (tầm vi mô) là hoạt
động Marketing và hoạt động XTTM ở cấp các tổ chức XTTM (tầm vĩ mô) là
những hoạt động của Chính phủ nhằm hỗ trợ cho hoạt động Marketing của
9
doanh nghiệp cũng như phát triển hoạt động thương mại của đất nước. Nói một

đồng thời thiết lập và cung cấp các dịch vụ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp
xuất khẩu hay những nhà xuất khẩu "tiềm năng". Hiểu theo cách đó thì XTXK
có thể chia thành 3 loại chính: (1) các chính sách để nâng cao nhận thức và
khích lệ các doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu (motivation); (2) những
biện pháp chính sách làm thuận lợi hoá chu trình tác nghiệp trong hoạt động
sản xuất - xuất khẩu, marketing hàng nhập khẩu, marketing hàng xuất khẩu
(operation); và (3) các hỗ trợ và dịch vụ cung cấp cho DN để thúc đẩy hoạt
động xuất khẩu (information).
Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) đưa ra cách hiểu về XTXK dưới góc
độ là một bộ phận của chiến lược phát triển xuất khẩu của một quốc gia. XTXK
theo cách hiểu này bao gồm việc hình thành và cung cấp các dịch vụ XTXK và
việc thiết lập một cơ chế, mạng lưới thích hợp để dẫn truyền những chính sách
này đến các nhà xuất khẩu hiện tại và tiềm năng. Việc XTXK ở đây được hiểu
theo nghĩa rộng, chính sách và biện pháp XTXK là một bộ phận không tách rời
của chiến lược phát triển xuất khẩu (Export development strategy) .
Từ các quan điểm trên, có thể thấy rằng chính sách XTXK có những đặc
điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, XTXK là một bộ phận của chiến lược phát triển xuất khẩu, do
vậy nó mang tính chiến lược. XTXK sẽ không thể có tác động tích cực đến
hoạt động xuất khẩu nếu nó không được tiến hành một cách có hệ thống, và
có chiến lược cụ thể.
Thứ hai, các hoạt động XTXK gồm việc đào tạo và nâng cao nhận thức
cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm cụ thể trên
một thị trường cụ thể. Vì thế XTXK phải cụ thể và phục vụ cho mục đích đó.
Mục tiêu của các chương trình XTXK là nâng cao năng lực của các doanh
nghiệp, cung cấp cho họ những dịch vụ cần thiết, làm chất xúc tác, "thuận lợi
11
hoá" cho các hoạt động xuất khẩu của họ, chứ không phải là thay doanh
nghiệp làm những công tác đó.
Thứ ba, XTXK không chỉ đơn thuần là việc tìm kiếm và khuyếch

Nguồn: JETRO,
Hình 1.1: Ý nghĩa của xúc tiến xuất khẩu
1.1.1.1.2. Bản chất của xúc tiến thương mại:
Từ khi marketing ra đời, nó đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ
marketing truyền thống vốn đặc biệt chú trọng tới sản xuất và bán hàng, tìm
thị trường cho những hàng hoá đã được sản xuất ra, đến marketing hiện đại
hướng tới nhu cầu ước muốn của người tiêu dùng, bán cái thị trường cần chứ
không phải cái doanh nghiệp có, sản xuất ra sản phẩm cho những thị trường
đã được nghiên cứu, và marketing đạo đức xã hội, một xu hướng mới hiện
nay mà rất nhiều doanh nghiệp đang theo đuổi với đặc điểm nhấn mạnh khía
cạnh đạo đức và tính xã hội trong hoạt động marketing. Cùng với sự phát
triển này, hoạt động XTTM cũng đã có những bước phát triển và đột phá vượt
bậc với các hình thức ngày càng đa dạng và phong phú. Ngày nay, hoạt động
XTTM ngoài khuôn khổ năm thành phần cơ bản truyền thống: quảng cáo, hội
trợ triển lãm, quan hệ với công chúng, bán hàng trực tiếp, xúc tiến bán hàng
còn phát triển thêm nhiều hình thức mới. Một trong những hình thức mới phát
13
Sắp xếp sản xuất
trong nước
Sắp xếp sản xuất
trong nước
Tạo nguồn thu
ngoại tệ
Tạo nguồn thu
ngoại tệ
Xúc tiến
xuất khẩu
Xúc tiến
xuất khẩu
Tạo công

phong phú, đa dạng và luôn biến động không ngừng. Tuy nhiên, sự vận động
của nhu cầu và sự sẵn có của các sản phẩm được cung ứng không phải lúc nào
cũng khớp nhau. Cái mà người tiêu dùng cần thì đôi khi không có trên thị
trường hoặc người tiêu dùng không biết tìm ở đâu. Trong điều kiện đó,
XTTM là cầu nối giữa cung và cầu. Nhờ có XTTM mà người tiêu dùng biết
được hiện có những sản phẩm gì, được bán ở đâu trên thị trường, hay đối với
sản phẩm mình muốn mua thì nhãn hiệu nào tốt nhất
Thông qua các hoạt động XTTM, những thông tin như vậy không chỉ
đơn thuần được chuyển tới khách hàng mà việc cung cấp những thông tin đó
luôn có mục đích thuyết phục khách hàng. Việc thuyết phục khách hàng
thường nhằm những mục tiêu cụ thể như: nâng cao nhận thức; khơi dậy nhu
cầu và ước muốn; kích thích hành động mua hàng; nhắc nhở khách hàng về sự
tồn tại của sản phẩm
Nhờ có quá trình giao tiếp, các thông tin về hàng hóa được chuyển từ
doanh nghiệp đến các thị trường mục tiêu và giúp người tiêu dùng ở các thị
14
trường mục tiêu hiểu rõ hơn về hàng hóa để đi đến quyết định mua hàng. Vì
vậy, quá trình giao tiếp là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của
hoạt động XTTM, là yếu tố thể hiện bản chất của hoạt động XTTM.
1.1.1.2. Nội dung và các hình thức của xúc tiến thương mại.
1.1.1.2.1. Nội dung của xúc tiến thương mại.
* Phát triển thương mại:
Trong bối cảnh tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế hiện
nay và đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, để mở rộng, thâm nhập và
giữ vững thị trường các doanh nghiệp không thể chỉ tiến hành các hoạt động
XTTM truyền thống như nêu trên mà còn phải tiến hành tất cả các hoạt động
nhằm tạo ra đúng sản phẩm mà thị trường có nhu cầu, bán đúng kênh/khách
hàng, tại đúng nơi, vào đúng thời điểm với đúng giá và bằng các hình thức
xúc tiến bán hàng phù hợp. Những hoạt động này được gọi chung là các hoạt
động phát triển thương mại. Như vậy, phát triển thương mại bao gồm các

hành các biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đơn giản hoá các thủ tục
thương mại. Ví dụ như tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển và giao nhận
hàng hoá, đơn giản hoá thủ tục xuất khẩu và thủ tục hải quan, tiêu chuẩn hoá quy
cách sản phẩm, đơn giản hoá thủ tục thuế (chẳng hạn như thủ tục hoàn thuế giá
trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu, ưu tiên làn xanh không kiểm tra đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu có uy tín của cơ quan Hải quan) Những hoạt động này
được gọi là thuận lợi hoá thương mại. Thuận lợi hoá thương mại chủ yếu là hoạt
động thuộc lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính liên quan tới quản lý Nhà nước
về thương mại và phát triển cơ sở hạ tầng do Chính phủ tiến hành.
1.1.1.2.2. Các hình thức của xúc tiến thương mại.
- Khuyến mại: là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm
xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách
hàng những lợi ích nhất định.
16
Các hình thức khuyến mại:
+ Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử
không phải trả tiền;
+ Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền kèm
theo hoặc không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
+ Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung
ứng dịch vụ trước đó;
+ Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử
dụng dịch vụ;
+ Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thưởng cho khách hàng
để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố;
+ Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên;
+ Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ
thuật, giải trí và các sự kiện khác với mục đích khuyến mại;
+ Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình
khuyến mại mang tính may rủi.

của pháp luật đều được tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở trong nước
hoặc ở nước ngoài.
Những hàng hóa, dịch vụ nằm trong danh mục cấm tham gia hội chợ
triển lãm thương mại bao gồm:
+ Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh,
chưa được phép lưu thông theo quy định của pháp luật.
+ Hàng hóa, dịch vụ do thương nhân ở nước ngoài cung ứng thuộc diện
cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
+ Hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Riêng đối với những hàng hóa, dịch vụ tham gia hội chợ triển lãm
thương mại ở nước ngoài còn phải thêm điều kiện là không thuộc diện cấm
xuất khẩu theo quy định của pháp luật.
18
1.1.1.3. Vai trò của xúc tiến thương mại đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thúc đẩy nhanh sự phát triển của kinh tế thị trường.
XTTM là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Ở cấp
doanh nghiệp, thực tế không một doanh nghiệp nào không tiến hành các hoạt
động phát triển thương mại nói chung và các hoạt động XTTM nói riêng dưới
hình thức này hay hình thức khác và ở mức độ này hay mức độ khác. Để có thể
tồn tại và phát triển trong cơ chế cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn luôn phải
nghiên cứu phát triển cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thay đổi ngày càng
nhanh chóng của thị trường cũng như tiến hành các hoạt động tuyên truyền
quảng cáo và khuyến mại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Trong bối cảnh tự do
hoá thương mại hiện nay, khi mà hàng hoá dịch vụ được chào bán trên thị
trường rất dồi dào và phong phú và người mua là "vua" thì hàng hoá và dịch vụ
dù tốt và rẻ đến mấy nhưng nếu không được ngưòi tiêu dùng biết đến thì cũng
không thể bán được. Cũng chính vì vậy mà các doanh nghiệp phải chi phí
marketing trung bình chiếm khoảng 50% trị giá tiêu dùng. Đối với một số hàng
hoá và dịch vụ tỷ lệ này còn cao hơn. Ở Việt Nam, tuy không biết con số chính

Đối với Việt Nam hoạt động XTTM, đặc biệt là xúc tiến xuất khẩu trong
giai đoạn hiện nay đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu nói riêng.
Hiện nay nước ta đang chuyển dần từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang một nền kinh tế đa thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và
mở cửa hội nhập với thế giới. Sự chuyển đổi và mở cửa hội nhập này đang và
sẽ tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội to lớn để phát triển
kinh doanh, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu. Đồng thời, chính sự
chuyển đổi và mở cửa này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các
doanh nghiệp Việt Nam bởi họ đang và sẽ phải cạnh tranh gay gắt, bình đẳng
20
với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài mạnh hơn gấp nhiều lần không
những trong xuất khẩu mà còn ngay cả trên thị trường nội địa. Do vậy, hoạt
động XTTM đang và sẽ đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp.
Trên phương diện quốc gia, nước ta có tận dụng được những cơ hội và
hạn chế được thách thức mới nói trên hay không chủ yếu phụ thuộc vào hàng
hoá dịch vụ của chúng ta có thâm nhập được thị trường thế giới và đứng vững
được trên thị trường nội dịa hay không. Do vậy, phát triển thương mại (hiểu
theo khái niệm mới là nhằm nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của các doanh
nghiệp) trong đó có hoạt động xúc tiến thương mại sẽ đóng một vai trò rất quan
trọng trong sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Đối với Việt Nam, ngoài những hoạt động phát triển xuất khẩu, thì hoạt động
xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài hướng về xuất khẩu và xúc tiến nhập khẩu
nhằm giúp cho doanh nghiệp nhập được đúng công nghệ, máy móc, thiết bị,
nguyên phụ liệu… với giá cạnh tranh cũng rất quan trọng để nâng cao sức cạnh
tranh của cả nền kinh tế cũng như của từng doanh nghiệp cụ thể.
Mặt khác, trong quá trình đổi mới và mở của nói trên của Việt Nam mới
chỉ được thực hiện trong hơn mười năm trở lại đây, cho nên trên thế giới cũng
còn không ít người chưa biết đến những thay đổi và phát triển gần đây ở nước

chức hỗ trợ thương mại phi Chính phủ. Đây chính là một trong những nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến sự yếu kém hiện nay của các doanh nghiệp trong hoạt
động XTTM và do vậy, đòi hỏi sự hỗ trợ nhiều hơn của Chính phủ.
Sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân trong những năm gần đây
nhất là kể từ khi thực hiện luật doanh nghiệp, cùng với những chính sách khuyến
khích xuất nhập khẩu của Chính phủ trong đó có việc cho phép tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế xuất khẩu tất cả các hàng hoá và dịch vụ trừ
một số ít hàng cấm xuất khẩu hoặc xuất khẩu có điều kiện đã làm cho số doanh
22

Trích đoạn Hoàn thiện mụi trường kinhtế và mụi trường phỏp lý thuận lợi cho hoạt động XTTM. Nõng cao hiệu quả của cỏc hoạt động XTTM. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật phỏp quản lý hoạt động xỳc tiến thương mại: Phỏt huy vai trũ lónh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn của cỏc tổ chức xỳc tiến thương mại nhà nước trong một mạng lưới XTTM thống nhất Đào tạo nõng cao năng lực XTTM và quản lý nhà nước về XTTM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status