MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trung gian tài chính, một kênh dẫn vốn quan trọng của nền
kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc hoàn thiện và mở
rộng các hoạt động là hướng đi và phương châm cho các ngân hàng tồn tại và phát
triển. Trong các hoạt động của ngân hàng có hoạt động cho vay mà đối tượng khách
hàng bao gồm cả doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình. Trước đây, các ngân hàng
quan tâm chủ yếu tới đối tượng khách hàng là doanh nghiệp nhưng trong những
thập kỉ gần đây, ngân hàng lại nổi lên trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng với tư cách
là một tổ chức cho vay chủ yếu. Một phần nào đó khiến các ngân hàng chiếm vị trí
quan trọng như vậy trong lĩnh vực tiêu dùng là vì khách hàng cá nhân luôn là những
người có nguồn tiền gửi tiết kiệm quan trọng đối với ngân hàng. Thật vậy, nhiều hộ
gia đình sẽ cân nhắc lại việc gửi tiết kiệm vào một ngân hàng nếu như họ không thể
vay tiền từ ngân hàng đó. Ngoài ra, những nghiên cứu còn cho thấy những món vay
trong lĩnh vực này luôn nằm trong những món vay có lợi tức cao nhất mà ngân hàng
có thể nhận được. Với những lí do trên, các ngân hàng lớn với những ưu thế về
mạng lưới chi nhánh rộng khắp của mình đã tăng nhanh thị phần huy động các
nguồn vốn của mình thông qua nghiệp vụ cho vay đối với người tiêu dùng.
Sau một thời gian thực tập, tìm tòi và học hỏi tại Ngân hàng TMCP Việt
Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Hà Nội, em nhận thấy ngân hàng đã chú trọng phát
triển tới cho vay tiêu dùng nhưng hoạt động này chưa thực sự trở thành hoạt động
lớn của ngân hàng. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu thực trạng hoạt động và
đưa ra các giải pháp để phát triển nghiệp vụ cho vay tiêu dùng sẽ có ý nghĩa cả trên
phương diện lí luận và thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu “Trở thành ngân hàng bán
lẻ hàng đầu Việt Nam” của ngân hàng. Do đó, em đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp
phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – chi
nhánh Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1
định hoạt động chủ yếu và phương án thực hiện. Mặt khác, cuộc sống con người đã
không ngừng được cải thiện và họ có nhu cầu cao hơn về sinh hoạt, hưởng thụ các
tiện ích xã hội. Do đó, hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM ra đời nhằm đáp
ứng các nhu cầu ấy.
Trong phạm vi chương I: “ Tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng của
NHTM”, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu khái quát về hoạt động tín dụng của NHTM, sau
đó sẽ đi sâu hơn nghiên cứu loại hình tín dụng tiêu dùng.
1.1 Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế
cần một lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có
hoặc số tiền hiện chưa đủ, họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu
cầu. Có hai cách vay mượn: vay chính loại hàng háo đang có nhu cầu hoặc vay tiền
để mua loại hàng hóa đó. Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất và cũng là hoạt động mang lại
lợi nhuận khá lớn cho NHTM. Trong hoạt động tín dụng bao gồm những hoạt động
như cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án và đầu tư.
3
Cho vay thương mại là hoạt động xuất hiện sớm nhất trong buổi đầu ra đời
các NHTM. Khi ấy, các ngân hàng đã thực hiện chiết khấu thương phiếu và thực tế
là cho vay đối với người bán (người bán phải chuyển các khoản phải thu cho ngân
hàng để lấy tiền trước). Sau này, NHTM đã chuyển từ chiết khấu thương phiếu sang
cho vay trực tiếp đối với khách hàng (người mua), giúp họ thực hiện các kế hoạch
nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
Sau một thời gian dài phát triển cho vay thương mại, thêm vào đó sự gia tăng
thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh gay gắt đã khiến các NHTM bắt đầu
chú ý tới cho vay tiêu dùng. Thực tế, trong giai đoạn đầu các ngân hàng không tích
cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì những món vay tiêu dùng này thường
có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao. Hiện nay, cho vay tiêu dùng đang ngày càng phát
triển với mức tăng trưởng nhanh, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển.
Bên cạnh hoạt động cho vay thì tài trợ dự án là một trong số các hoạt động
Hay quan niệm: “ Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng
giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử
dụng với một thời gian nhất định và khi đến hạn, người sử dụng phải thanh toán cho
người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn gọi là lợi tức”.
Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng cũng được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau tùy theo bối cảnh sử dụng; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng
hoàn cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Xét một quan hệ tài
chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ
thể; xét trên khía cạnh chuyển dịch quỹ cho vay: tín dụng được coi là phương pháp
chuyển dịch từ quỹ cho vay sang người đi vay… Trong một số ngữ cảnh cụ thể,
thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Ví dụ, tín dụng ngắn hạn có
thể hiểu là cho vay ngắn hạn.
Khi gắn thuật ngữ tín dụng với chủ thể ngân hàng, chúng ta có thể gọi là tín
dụng ngân hàng. Tín dụng được xem như là chức năng cơ bản của ngân hàng nên có
thể hiểu tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp
và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Còn Luật các tổ chức tín dụng 2010 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam lại quy định rằng: “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng
nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc thỏa
5
thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng
một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín
dụng khác”.
Rõ ràng, dự được định nghĩa như thế nào thì bản chất tín dụng là một giao
dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả. Vì vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn
theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa ngân hàng
mấu chốt nhằm tạo ra hiệu quả.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở hoàn trả
vô điều kiện. Về mặt pháp lí, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp
đồng tín dụng, khế ước nhận nợ … hoạt động như những tờ lệnh phiếu, cho thấy
cam kết của bên đi vay sẽ hoàn trả vô điều kiện số tiền đã vay cộng một phần lãi
cho bên cho vay (ngân hàng) khi đến hạn thanh toán.
Thực tế, tín dụng ngân hàng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
cơ cấu tài sản của các NHTM, đem lại rủi ro và thu nhập từ lãi lớn nhất cho
ngân hàng. Nhiều ngân hàng, khoản mục tín dụng chiếm đến hơn 50% tổng tài sản.
Đây cũng là hoạt động đem lại rủi ro nhiều nhất cho các ngân hàng. Có nhiều
nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng của ngân hàng: những nguyên nhân bất khả
kháng (thiên tai, chiến tranh, những nguyên nhân ở tầm vĩ mô…) vượt qua tầm
kiểm soát của ngân hàng lẫn người đi vay, làm cho người đi vay mất khả năng
thanh toán, không trả được nợ cho ngân hàng; những nguyên nhân chủ quan thuộc
về người vay (trình độ yếu kém trong quản lí sản xuất kinh doanh, chủ định lừa đảo
ngân hàng, chây ì, không muốn trả nợ, cố tình sử dụng vốn vay sai mục đích, kinh
doanh mạo hiểm…) ; hoặc những nguyên nhân thuộc về ngân hàng (chất lượng cán
bộ kém, năng lực đánh giá khách hàng thấp…). Tất cả những nguyên nhân đó đều
gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng, thậm chí để lại nhiều hiệu quả
xấu hơn nữa nếu không kịp thời xử lí. Tuy nhiên, chính vì rủi ro nhất, tín dụng được
đánh giá là hoạt động đem lại thu nhập từ lãi lớn nhất cho ngân hàng. Lãi suất cho
vay ngân hàng đặt ra phải bao gồm những chi phí cho vay mà ngân hàng bỏ ra cũng
như những rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu. Ngoài ra, trong hoạt động tín dụng,
ngân hàng cũng tìm cách giảm thiểu rủi ro thông qua hình thức tài sản đảm bảo, một
điều kiện thúc đẩy người đi vay trả nợ và là nguồn thu nợ thứ hai trong trường hợp
khách hàng không hoàn lại được gốc vay cho ngân hàng.
7
1.1.3 Phân loại tín dụng NHTM
Hiện nay có khá nhiều loại hình tín dụng khác nhau được NHTM khai thác
triệt để. Tuy nhiên, để quản lí hoạt động tín dụng có hiệu quả, các ngân hàng đã tiến
8
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời gian
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ đã quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất
kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
1.1.3.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Cho vay không bảo đảm: đây là khoản vay không có tài sản cầm cố, thế
chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Khoản vay được ngân hàng chấp nhận nhờ
vào uy tín của chính khách hàng đó mà không cần nguồn bổ sung nợ thứ hai. Loại
hình tín dụng này được sử dụng đối với khách hàng tốt, trung thực trong kinh
doanh, có khả năng tài chính lành mạnh …
Cho vay có bảo đảm: là loại hình cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như:
thế chấp, cầm cố tài sản hoặc có người thứ ba đồng ý bảo lãnh. Loại hình tín dụng
này giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro vì khi khách hàng không trả được nợ, ngân
hàng có thể thu hồi một phần nhờ bán các tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh sẽ
phải trả hộ.
1.1.3.4 Căn cứ vào mục đích cho vay
Cho vay bất động sản: là loại cho vay nhằm mục đích mua sắm và xây dựng
bất động sản như nhà ở, đất đai hoặc các bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại và dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…
Cho vay các định chế tài chính : là hoạt động cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm…
Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu như
mua sắm các vật dụng đắt tiền, đi du lịch, du học, mua nhà ở…
Cho thuê: bao gồm hai loại là cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài
sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản mà chủ yếu là máy móc, thiết bị.
hàng. Về mặt hiệu quả, quy trình tín dụng hợp lí góp phần nâng cao chất lượng và
giảm thiểu rủi ro tín dụng. Về mặt quản trị, quy trình tín dụng có tác dụng: Làm cơ
sở cho việc phân định trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận liên quan trong
10
hoạt động tín dụng; làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ tục vay vốn về
mặt hành chính và chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan trong hoạt động
tín dụng.
Mỗi ngân hàng, mỗi loại hình cho vay đều có một quy trình tín dụng riêng.
Tuy nhiên, một quy trình tín dụng hợp lí phải bao gồm các giai đoạn cơ bản sau:
Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ và
thanh lí tín dụng. Mỗi giai đoạn của quy trình tín dụng đều có các phương pháp
quản trị, các thủ tục, chứng từ thích ứng với loại cho vay và điều kiện cụ thể của
mỗi ngân hàng. Quy trình tín dụng tổng quát được mô tả qua bảng sau:
Bảng 1.1 Quy trình tín dụng tổng quát
Các giai
đoạn của
quy trình tín
dụng.
Nguồn và nơi cung
cấp thông tin.
Nhiệm vụ của ngân
hàng ở mỗi giai đoạn.
Kết quả sau khi kết
thúc một giai đoạn.
1. Lập hồ sơ
đề nghị cấp
tín dụng.
-Khách hàng đi vay
cung cấp thông tin về
năng lực pháp lí, năng
thực hiện.
-Báo cáo kết quả
thẩm định để
chuyển sang bộ
phận có thẩm quyền
và quyết định cho
vay.
11
3. Quyết
định tín
dụng.
-Các tài liệu và thông
tin từ giai đoạn 2
chuyển sang và báo
cáo kết quả thẩm định.
-Các thông tin bổ sung.
-Quyết định cho vay hoặc
từ chối của cá nhân hoặc
hộ được giao quyền phân
quyết.
-Quyết định cho vay
hoặc từ chối.
-Tiến hành các thủ
tục pháp lý như ký
hợp đồng tín dụng,
hợp đồng công
chứng và các hợp
đồng khác.
4. Giải ngân. -Quyết định cho vay và
các hợp đồng liên
vay và giám sát qua các
thông tin thu thập khác…
- Tái xét và xếp hạng.
- Thanh lý tín dụng: thu
nợ gốc và lãi; tái xét hợp
đồng tín dụng và thanh lí
hợp đồng tín dụng
-Báo cáo kết quả
giám sát và đưa ra
các giải pháp xử lý.
-Lập các thủ tục để
thanh lý tín dụng.
Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy rằng, năm giai đoạn của quá trình tín dụng có
mối tương quan mật thiết với nhau, giai đoạn trước là tiền đề để thực hiện các công
12
việc của giai đoạn sau. Đối với những hồ sơ cho vay phức tạp, việc trao đổi thông tin
và thực hiện các công việc bổ sung giữa các giai đoạn được diến ra nhiều lần.
1.2 Cho vay tiêu dùng tại NHTM
1.2.1 Cơ sở hình thành việc cho vay tiêu dùng tại NHTM
Cho vay tiêu dùng đã có một lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện từ thời
phong kiến tại nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có những bước
tiến đáng kể và mạnh mẽ trong khoảng thời gian gần đây.
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, hệ thống NHTM của Mỹ phải tiến hành
cải cách trước sự cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghiệp vụ
của NHTM. Trong thực tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi to lớn
trong lĩnh vực công nghệ, luật pháp… Và chính những sự thay đổi đó đã tạo ra sự
thay đổi về các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng, đồng thời vai trò của NHTM trong
hệ thống tài chính cũng không còn duy trì được như trước, từ đó đã dẫn đến sự thay
đổi cơ cấu trong các NHTM. Môi trường cạnh tranh thay đổi một cách nhanh chóng
và mạnh mẽ khiến các NHTM nếu không tiến hành đổi mới thì không thể tham gia
động được một thời gian, các ngân hàng tỏ ra rất lung túng trong việc cấp tín dụng
theo hình thức này.
Hiện nay, khi một số văn bản pháp luật hướng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực cho
vay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu thế rộ lên, nó đang được xem là thị trường
tiềm năng lớn và có nhiều điều kiện phát triển mạnh cho các NHTM tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các ngân hàng phải chịu sự cạnh tranh lớn vì đây là một thị trường mang
lại nhiều lợi nhuận thu hút không chỉ tất cả các ngân hàng tham gia mà còn hấp dẫn
các tổ chức tài chính khác. Hoạt động của các tổ chức tài chính này cũng tương tự
như NHTM: huy đông các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn để cho vay. Tuy nhiên,
các NHTM là các tổ chức hoạt động hiệu quả nhất vì tính chuyên môn hóa trong
hoạt động tín dụng: nguồn vốn lớn, hoạt động chuyên nghiệp và có lịch sử phát
triển hoạt động cho vay lâu dài.
Hiện nay, đến bất cứ NHTM nào, các cá nhân và hộ gia đình có thể vay tiền
với nhiều mục đích tiêu dùng khác nhau như mua nhà, mua ô tô, chi trả các khoản
phí và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Cho
vay tiêu dùng của NHTM là hoạt động góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống,
thúc đấy sản xuất kinh doanh phát triển, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của
mỗi quốc gia.
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng
14
1.2.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Cho vay tiêu dùng là sản phẩm
tín dụng hỗ trợ nguồn tài chính cho các nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa
chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch,
chữa bệnh,… và các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống”. (Theo
nganhangonline.com).
Cũng có thể định nghĩa: “ Cho vay tiêu dùng là nghiệp vụ trong đó ngân
hàng là người cho vay, người đi vay là các cá nhân, hộ gia đình trên nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định nhằm giúp người tiêu
dùng sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho
- Mức thu nhập và trình độ học vấn của khách hàng là hai biến số có quan hệ
rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng và hạn mức vay. Những người có mức thu
nhập cao hơn mức bình quân thường có xu hướng vay một mức cao hơn tổng thu
nhập hàng năm của họ. Ngược lại, những người có trình độ học vấn cao (thông
thường là những người có nhiều năm đào tạo ở bậc trên phổ thông và đồng thời là
trụ cột trong gia đình) thì lại thường quyết định vay tiền trên cơ sở cân nhắc kĩ
lưỡng thu nhập của mình.
- Chất lượng các thông tin tài chính về khách hàng thường không cao: Hiện
nay, đơn vị duy nhất theo dõi lịch sử tín dụng của các cá nhân và doanh nghiệp vay
vốn là Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước (CIC). Tuy nhiên khả
năng cập nhật của CIC còn chưa cao. Chính vì vậy, ngân hàng thường thiếu thông
tin khi ra quyết định cho vay, hoặc sẽ dẫn đến cho vay chồng chéo trong khi khách
hàng không đủ khả năng trả nợ. Đây vẫn là một hạn chế khó khắc phục đối với
NHTM cũng như các tổ chức tín dụng khác trong khi tư cách của khách hàng lại là
yếu tố rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Về khoản vay:
- Giá trị khoản vay không lớn nhưng số lượng các khoản vay nhiều: với mục
đích đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình nên quy mô của mỗi
khoản vay tiêu dùng thường nhỏ so với giá trị các khoản vay sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, số lượng các khoản vay tiêu dùng lại rất nhiều do nhu cầu chi tiêu của
con người ngày càng tăng lên với mức độ thường xuyên hơn. Hiện nay, khi nền
kinh tế tăng trưởng ổn định và đời sống người dân được cải thiện thì nhu cầu cho
vay tiêu dùng để nâng cao chất lượng cuộc sống là điều dễ hiểu.
- Chi phí quản lí món vay tiêu dùng lớn: do giá trị mỗi khoản vay thường
không lớn nhưng ngân hàng vẫn phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để thực hiện
16
đầy đủ một quy trình tín dụng. Hơn nữa, với số lượng lớn các khoản vay thì việc
quản lí của NHTM cũng không đơn giản. Đây cũng là lí do khiến lãi suất áp dụng
trong cho vay tiêu dùng thường lớn hơn cho vay thương mại.
- Cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro cao: rủi ro trong cho vay tiêu dùng cao
cho vay tiêu dùng là một loại hình rất quan trọng. Tuy còn có nhược điểm là rủi ro
và chi phí cao, nhưng cho vay tiêu dùng mang lại những lợi ích quan trọng là: Giúp
mở rộng mối quan hệ với khách hàng từ đó làm tăng khả năng huy động các loại
tiền gửi cho ngân hàng; Tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhờ vậy
nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Về phía người đi vay:
Cho vay tiêu dùng đặc biệt có tác dụng với người có thu nhập thấp và trung
bình. Thông qua nghiệp vụ này, họ sẽ được hưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có
đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hóa thiết yếu có giá trị cao (nhà, xe
hơi…) hay trong trường hợp cần chi tiêu cấp bách như nhu cầu y tế, giáo dục… Bất
cứ ai cũng mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu của mình từ hàng hóa tất yếu
đến những hàng hóa xa xỉ hơn. Nhưng, với những người trẻ, họ chưa có đủ khả
năng chi trả cho những nhu cầu đó mà phải cần thời gian để tích lũy. Với cho vay
tiêu dùng, người tiêu dùng có thể phối hợp giữa thỏa mãn ở hiện tại và khả năng
thanh toán ở hiện tại và tương lai. Do vậy, người tiêu dùng là người được hưởng
trực tiếp và nhiều nhất lợi ích mà hình thức cho vay này mang lại. Tuy nhiên, cũng
không nên lạm dụng cho vay tiêu dùng vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu
vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai.
Về phía nền kinh tế- xã hội:
Nếu cho vay tiêu dùng được dựng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa,
dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, nếu không được dựng đúng như vậy thì có thể làm giảm khả
năng tiết kiệm trong nước. Cho vay tiêu dùng mang lại những lợi ích sau:
- Đối với doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại
khiến quy mô sản xuất tăng nhanh; mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng
ngày càng lớn. Chính điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân
phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng của tăng
trưởng kinh tế.
- Cho vay tiêu dùng thúc đẩy thành phần tiêu dùng và do đó gia tăng cầu
trong nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội; hạn chế sự phụ thuộc vào cầu
- Loại tài sản được tài trợ: Thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn nếu
tài sản hình thành từ vốn vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu với họ một cách lâu dài
trong tương lai. Do đó, ngân hàng nên tài trợ cho những tài sản có thời gian sử
dụng lâu bền.
- Số tiền phải trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu khách hàng vay
phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm. Số tiền này gọi là số
tiền trả trước, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước này phải đủ lớn
để: Đủ cho người đi vay có động lực nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản
nhằm tăng thiện chí trả nợ; Giúp ngân hàng hạn chế rủi ro trong trường hợp phải
phát mại tài sản vay . Số tiền trả trước là cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Loại tài sản (tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược
lại); Thị trường tiêu thụ tài sản đã qua sử dụng (nếu tài sản sau khi sử dụng vẫn dễ
dàng được mua bán, chuyển nhượng thì số tiền trả trước thấp và ngược lại); Năng
lực của người đi vay và Môi trường kinh tế.
- Chi phí tài trợ: là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc
sử dụng vốn. Chi phí tài trợ phải bù đắp được chi phí huy động vốn, chi phí hoạt
động, bù đắp rủi ro và mang lại lợi nhuận tương xứng cho ngân hàng.
- Điều khoản thanh toán: Khi xác định điều khoản thanh toán cho khoản
vay, ngân hàng cần lưu ý các yếu tố sau: Số tiền thanh toán mỗi định kì phải phù
hợp với khả năng thu nhập của khách hàng và trong mối tương quan với các
khoản chi tiêu khác của khách hàng; Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp
hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi; Kì hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ
của khách hàng; Thời hạn tài trợ không nên quá dài bởi vì thời hạn tài trợ quá dài
dễ làm giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh, hơn thế nữa, động lực trả nợ của
khách hàng cũng bị suy giảm.
- Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian: việc phân bổ có thể được thực hiện
theo định kì gắn liền với các kì thanh toán, hoặc cũng có thể thực hiện theo quý
hoặc năm tài chính. Tuy nhiên, phân bổ lãi vay theo năm tài chính thường được các
ngân hàng áp dụng hơn.
- Vấn đề trả nợ trước hạn.
giao dịch thấp và phạm vi hoạt động rộng.
21
Người tiêu dùng
Công ty bán lẻNgân hàng
Nhược điểm của thẻ tín dụng: chỉ sử dụng phổ biến cho tín dụng tiêu dùng
mà không phù hợp với các hoạt động mua bán lớn ( xe hơi…); sử dụng thẻ cũng có
thể có rủi ro nếu bị mất cắp, đánh rơi và đồng thời lộ mã thẻ tín dụng mà không kịp
thời báo cho ngân hàng.
Tín dụng tiêu dùng gián tiếp
Đây được hiểu là các hoạt động tín dụng tiêu dùng qua việc ngân hàng mua
các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ
cho người tiêu dùng và như vậy, nó chính là hình thức tài trợ bán trả góp của các
NHTM.
Tín dụng trả góp của các ngân hàng được thực hiện bằng một trong hai cách sau:
- Cách 1: Ngân hàng, người bán hàng và người mua hàng phải thỏa thuận với
nhau về số tiền vay, mức và thời hạn trả dần, sau đó ngân hàng cho người mua hàng
vay phần tiền chưa trả đủ cho người bán hàng để thanh toán cho người bán hàng và
giữ lại quyền sở hữu tài sản cho đến khi người mua trả góp đủ.
Mô hình 1.1 Tín dụng tiêu dùng gián tiếp (cách 1)
(1)
(4)
(5)
(6) (2) (3)
Trong đó:
(1) Công ty bán lẻ kí hợp đồng mua bán nợ với ngân hàng.
(2) Khách hàng kí hợp đồng mua tài sản với ngân hàng (người mua trả trước
20-30% giá trị tài sản).
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người mua đồng thời giữ lại quyền sở hữu
tài sản.