GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật NHNN Việt Nam số 01/1997 ngày 12/12/1997.
2. Luật các Tổ chức tín dụng số 20/1997 ngày 12/12/1997.
3. Tài liệu giảng dạy môn Lý thuyết tiền tệ – Ngân hàng ( tháng 8/2012).
4. Tiền tệ và thị trường tài chính. Tác giả Fredẻic S.Mishkin.
5. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2020.
6. Nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng ( Học viện Ngân hàng - 2000)
7. Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế.
8. Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.
9. Ngân hàng Việt Nam với chiến lược huy động vốn phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
10. Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh các năm 2010, 2011, 2012 của NHNo &
PTNT Chi nhánh Ba Đình – Thanh Hoá.
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 1
1
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
1. NHNo&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
2. NHTW : Ngân hàng trung ương
3. TCTD :Tổ chức tín dụng
4. NHNN : Ngân hàng nhà nước
5. NHTM : Ngân hàng thương mại
6. NHTMCP : Ngân hàng thuơng mại cổ phần
7. NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước
8. NHNT : Ngân hàng ngoại thương
9. ICB : Ngân hàng công thuơng
10. VCB : Ngân hàng ngoại thưong
11. BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển
12. ANZ : Ngân hàng quốc tế
Bùi Văn Việt
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 4
4
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Thanh Hóa, ngày tháng năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
(ký, ghi rõ họ tên)
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 5
5
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, cùng với chính sách mở cửa hội
nhập quốc tế và khu vực, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động
giao lưu thương mại của nước ta với các nước trênthế giới trong những năm gần
đây đã ngày càng mở rộng và phát triển.
cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng trên địa bàn buộc Chi nhánh phải nỗ lực rất
lớn mới có thể hoạt động hiệu quả hơn, nhất là việc đảm bảo nguồn vốn kinh
doanh nhằm đảm bảo uy tín và độ an toàn cho khách hàng.
Với những phân tích trên cho thấy việc phân tích tình hình huy động vốn và tìm ra
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn là một vấn đề mà Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ba Đình – Thanh hóa , rất
quan tâm. Để giúp Chi nhánh thấy rõ hơn về thực trạng huy động vốn như
thế nào, đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ba Đình - Thanh Hóa ”được chọn làm
đề tài chuyên đề tốt nghiệp. Qua đề tài nàygiúp hiểu rõ về Ngân hàng, cơ cấu
tổ chức cũng như hiểu rõ hơn về tình hình huy động vốn của Chi nhánh trong 3 năm
qua, từ đó có thể biết được nhu cầu về vốn của Chi nhánh và đưa ra những giải pháp
giúp nghiệp vụ huy động vốn ngày càng hiệu quả hơn góp phần vào sự phát triển
của toàn hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
Thanh Hóa
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 7
7
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.1. Mục tiêu chung
Phân tích và đánh giá từ khái quát đến cụ thể tình hình huy động vốn.Từ đó rút ra
những mặt tích cực cũng như hạn chế đểNgân hàng có những kế hoạch, giải pháp
phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn.
1.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tíchchung tình hình huy động vốn của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn chi nhánh Ba Đình - Thanh Hóa
- Đánh giá hiệu quả trong công tác huy động vốn của Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn chi nhánh Ba Đình - Thanh Hóa
- Phân tích nhữngđiểm mạnh, điểm yếu của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn chi nhánh Ba Đình Thanh Hóa trong việc huy động vốn.
thương mại
1.1. Khái niệm vốn của ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập hoặc
huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác.
Thực chất, vốn của Ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời nhàn
rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ sở hữu của chúng
gửi vào Ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác, họ
chuyển nhượng quyền dử dụng vốn cho Ngân hàng, để Ngân hàng trả lại cho họ
một khoản thu nhập.
Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới
hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt
động kinh tế phát triển.Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại
và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
1.2.1. Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ngân hàng thương mại
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì
phải có: Công nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố quan trọng, nó
phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối với ngân
hàng thương mại, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ chức hoạt độnh
kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có
vốn. Như đã biết, đặc trưng của hoạt động ngân hàng: Vốn không chỉ là phương tiện
kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương
mại. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tiền tệ
(thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán(thị trường vốn dài hạn). Hơn
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 10
10
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
nữa, vốn lớn là lợi thế đầu tiên trong việc chấp hành pháp luật trước hết là luật
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ
tín, vừa nâng cao vị thế của ngân hàng.
1.2.3. Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh
khác của Ngân hàng:
Vốn của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng.
Thông thường, các Ngân hàng nhỏ phạm vi hoạt động kinh doanh, khoản mục đầu
tư, khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn. Do đó, ảnh hưởng đến khả năng thu
hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư, thậm chí không đáp ứng được
nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp. Họ sẽ mất khách hàng và không tận dụng được
cơ hội kinh doanh. Nếu là Ngân hàng lớn, nguồn vốn dồi dào chắc chắn họ sẽ đáp
ứng được nhu cầu về vốn, có điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều
doanh nghiệp và thị trường tín dụng.
Nguồn vốn lớn còn giúp Ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình khác
nhau như: Liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng
khoán… các hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho
Ngân hàng. đồng thời, nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Vì
vậy, vốn có vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.4 Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng:
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân
hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là điều
kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành
phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn
cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu
hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên
nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là
điều kiện để bổ xung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng tổng hòa các
nguồn vốn khác. Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh
hàng thương mại. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành căn cứ vào hình thức
tổ chức của ngân hàng thương mại là: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân
hàng thương mại cổ phần hay ngân hàng thương mại liên doanh.
Vốn tự có gồm các thành phần: vốn tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung.
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 13
13
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
+ Vốn tự có cơ bản: Là vốn điều lệ – vốn pháp định
- Vốn điều lệ: do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của
Ngân hàng, theo quy định tối thiểu phải bằng vốn pháp định.
- Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp
luật quy định.
+ Vốn tự có bổ sung là vốn được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hang,
gia tăng vốn chủ của ngân hàng theo nhiều phưong thức khác nhau tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể và của các quỹ như: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc
biệt và quỹ khác.
Nguồn nội bộ (nguồn từ lợi nhuận): Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không,
ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng
thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích
lũy từ lợi nhuận và tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm có thu nhập ròng lớn,
nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao hơn với vốn của chủ hình thành ban đầu.
Nguồn bên ngoài: Là nguồn bổ xung từ phát hành thêm cổ phiếu để mở rộng quy
mô hoạt động hoặc để đổi mới trang thiết bị hay để đáp ứng yêu cầu vốn của chủ do
ngân hàng nhà nước quy định.
Nếu phát hành cổ phiếu thường phải chia sẻ quyền lực và lợi nhuận
Nếu phát hành cổ phiếu ưu đãi thì không chia sẻ quyền lực và lợi tức là cố định
Nếu phát hành trái phiếu chuyển đổi thì không mất quyền sở hữu và lợi nhuận có
thể chuyển đổi ra tiền tiết kiệm nhưng trái phiếu vẫn là một khoản nợ và ngân hàng
phải để một khoản quỹ để trả nợ.
Đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên song giúp ngân hàng
dự trữ một tỷ lệ hợp lí để đảm bảo khả năng thanh toán.
Vốn huy động gồm có: Vốn tiền gửi và phát hành những giấy tờ có giá.
Vốn tiền gửi:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào và Ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu này (gửi
tiền để sử dụng séc, sử dụng thẻ rút tiền hoặc để thực hiện dịch vụ chuyển tiền, dịch
vụ LC hay dịch vụ nhờ thu).
Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi, gồm tiền gửi thanh
toán và tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý.
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 15
15
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân
để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Ngân hàng thực hiện các nhu cầu chi trả
của doanh nghiệp và cá nhân trong phạm vi số dư cho phép. Các khoản thu bằng
tiền của doanh nghiệp và cá nhân có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu
cầu, với loại tiền gửi này lãi suất là rất nhỏ (hoặc bằng 0)
Tiền gửi không kỳ hạn chỉ không ổn định với cá nhân còn đối với doanh nghiệp rất
ổn định.
Tài khoản tiền gửi thanh toán:Là tài khoản mà việc rút và nộp tiền được thực hiện
bằng séc hoặc chuyển khoản.
Tài khoản vãng lai: Là tài khoản lúc dư nợ, lúc dư có.
Tuy nhiên, ở Ngân hàng luôn có sự chênh lệch giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản
tiền gửi thanh toán, thường nhập lớn hơn xuất.Từ đó, tạo nên một khoản tiền tạm
thời nhàn rỗi và Ngân hàng có thể sử dụng một phần để kinh doanh.
Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là khoản tiền kí gửi với mục đích an toàn tài sản,
không phải để thanh toán, khi cần khách hàng có thể rút ra để chi tiêu và Ngân hàng
phải thoả mãn yêu cầu của họ. Ngân hàng có thể sử dụng phần dư thừa nếu đảm bảo
được khả năng chi trả.
+ Tiền gửi có kỳ hạn:
< lãi suất huy động thì mọi người gửi hết tiền vào ngân hàng và không kinh doanh
nữa như vậy ngân hàng không cho ai vay được điều này không thể xảy ra do đó
không bao giờ gửi vốn vào ngân hàng trung dài hạn vì mục đích họ hướng tới là tỷ
suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
+ Phát hành giấy tờ có giá:
Bên cạch các phương thức trên, các NHTM còn phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu và kỳ phiếu.Thực chất là việc huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ
có giá.
+ Kỳ phiếu ngân hàng là giấy nhận nợ của ngân hàng có kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng
- Đặc trưng của nó là quản lý được chính sách lãi suất trong ngắn hạn
- Tính lỏng cao
- Ngân hàng phát hành chủ động hơn về mặt quy mô hoạt động (chỉ thông qua
tổng giám đốc)
+ Trái phiếu ngân hàng là giấy nhận nợ của ngân hàng có thời hạn lớn hơn 12 tháng
- Đặc trưng: Quản lý được chính cách lãi suất trong dài hạn
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 17
17
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
- Tính lỏng cao, có thể mua bán được trên thị trường chứng khoán
- Phát hành thông qua thống đốc ngân hàng
+ Chứng chỉ tiền gửi
Các giấy tờ có giá được Ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ theo mục đích với sự
chấp thuận của ngân hàng nhà nước, hình thức huy động vốn này các ngân hàng
thương mại phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi thông thường.
Qua trình bày trên, vốn huy động là nguồn vốn giữ vị trí quan trọng và chủ yếu
trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng nguồn vốn (khoảng 80%). Các ngân hàng thương mại phải tôn trọng về
mức vốn huy động theo quy định của pháp luật.
1.3.3. Vốn đi vay
Vốn đi vay:Là khoản tiền vay muợn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng
tháng, hoặc vài năm). Thường các ngân hàng đi vay phải có giấy tờ có giá để cầm
cố đưa cho ngân hàng cho vay.
- Đây là nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn
- Tỷ trọng tương đối lớn đặc biệt là ngân hàng bán buôn
- Chi phí cao hay thấp phụ thuộc vào cung cầu trên thị truờng tiền tệ
Vay trên thị trường vốn: Các ngân hàng vay mựơn bằng cách phát hành các giấy nợ
(kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Các khoản vay trung và dài hạn
nhằm bổ xung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầucho vay và đầu tư trung dài
hạn.Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo.
Ngân hàng nào có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn nhiều hơn.
Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp họ phải thông qua các ngân
hàng đại lý hoặc đựoc bảo lãnh của các ngân hàng đầu tư.
Khả năng vay mượn còn được phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài
chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng.
1.3.4. Vốn khác
Vốn khác là toàn bộ giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua việc
cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư. Bao
gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và các nguồn khác
Nguồn ủy thác là nguồn vốn mà ngân hàng có được nhờ thực hiện tốt các dịch vụ
của khách hàng đặc biệt là dịch vụ cho vay và dịch vụ thanh toán.
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 19
19
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
- Nguồn vốn này thường có chi phí rất thấp
- Tỷ trọng nguồn vốn này cao hay thấp phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ và uy tín
của khách hàng.
Nguồn trong thanh toán: Nguồn này được hình thành từ các hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt như: Séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C.
Những ngân hàng này là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ tiền
của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
tệ cũng ảnh hưởng tới việc huy động vốn, vì khi thực hiện chính sách tiền tệ nới
lỏng sẽ mang lại thuận lợi cho NHTM trong việc huy động vốn vay từ NHNN.
Đồng thời, nó còn có tác dụng làm giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ.Ngược lại,
thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn hơn trong việc huy động vốn vay
từ NHNN.
Chính sách đầu tư của Nhà nước hợp lý hay không hợp lý cũng ảnh hưởng đến
chính sách huy động vốn của Ngân hàng. Để khuyến khích sản xuất, đầu tư, Nhà
nước có chính sách bảo hộ cho hàng hoá sản xuất, chính sách trợ giá… tạo điều
kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển và có lãi. Các doanh nghiệp và người lao
động có tích luỹ là nền tảng để Ngân hàng huy động vốn được nhiều hơn.
- Sự tăng trưởng của nền kinh tế: Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp
và cá nhân có thu nhập khá, tích luỹ được nhiều nên các khoản tiền ký thác thường
tăng nhanh để đáp ứng các giao dịch kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế phát triển sẽ có
tác động ngược lại, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, giao dịch kinh tế tăng
hơn, hình thành một bộ phận tích luỹ, tạo môi trường tiềm tàng để NHTM thu hút
vốn.
Chu kỳ kinh tế (phục hồi – Tăng trưởng – Bão hòa – Suy thoái).
Ngân hàng thương mại phải tìm biện pháp huy động sao cho có hiệu quả, vừa thúc
đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, vừa đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Ngược
lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ, môi trường đầu tư của Ngân hàng
sẽ bị thu hẹp, lợi nhuận của Ngân hàng giảm, quá trình huy động vốn sẽ gặp nhiều
khó khăn. Hơn thế nữa, lạm phát làm cho đồng tiền mất giá, người dân sẽ không gửi
tiền vào Ngân hàng, mà dùng tiền để mua hàng hoá có giá trị để cất trữ cũng ảnh
hưởng đến việc huy động vốn của Ngân hàng.
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 21
21
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
Bên cạnh đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa quốc gia cũng ảnh hưởng tới
việc tạo vốn của ngân hàng.Nếu mở rộng tiền tệ thì sẽ huy động vốn dễ, nếu thắt
chặt tiền tệ sẽ huy động vốn khó. Khi chính sách tài khóa thu hẹp cũng như tăng
động với các Ngân hàng khác mà cả với thị trường tiền tệ. Do đó, chỉ một sự khác
biệt nhỏ về lãi suất có thể đẩy dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư theo những
chiều hướng khác nhau. Đó cũng là lý do, động lực để các nhà đầu tư hoặc người
gửi tiền chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác.
Vì vậy, xác định một lãi suất hợp lý, có tính cạch tranh là một vấn đề vô cùng quan
trọng, phải được nghiên cứu, cân nhắc, tính toán tỷ mỉ và toàn diện. Tuy nhiên,
Ngân hàng phải tính toán sao cho lãi suất vừa có tính cạnh tranh, vừa phải đảm bảo
được chi phí đầu vào thấp nhất và kinh doanh có lãi.
- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng:
Cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến công tác huy động vốn.Một Ngân hàng
có hệ thống chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ đạt được các mục tiêu đề ra về chi
phí cũng như về lợi nhuận.Đó là chiến lược về sản phẩm dịch vụ.Chiến lược giá, lãi
suất, chiến lược phân phối, chiến lược phát triển nhân sự, chiến lược khuyếch
trương giao tiếp… có tác động mạnh đến việc huy động vốn.Hệ thống chiến lược
kinh doanh của Ngân hàng là thực tiễn sinh động để đánh giá năng lực và trình độ
quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tạo được niềm tin đối với khách
hàng. Do đó, thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng.
- Uy tín và vị thế của Ngân hàng:
Thông thường, khách hàng lựa chọn những Ngân hàng có uy tín và vị thế trên thị
trường để giao dịch, vay mượn, thanh toán và bảo lãnh… Uy tín và vị thế của Ngân
hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn của khách hàng, thể hiện cụ thể ở
năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, quá trình lịch sử, chất lượng
marketing… Vì vậy, các Ngân hàng thông qua hoạt động của mình, bằng chất lượng
dịch vụ, công nghệ hiện đại và phong cách làm việc văn minh, lịch sự … thoả mãn
tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng, là thiết thực nâng cao uy tín và vị thế của
ngân hàng trên thị trường.
- Các hình thức huy động và dịch vụ kèm theo:Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,
việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Với
nhiều loại sản phẩm khác nhau, khách hàng có thể lựa chọn một sản phẩm phù hợp
dịch vụ so với bình quân thị trường (việc này không có lợi cho ngân hàng vì làm
tăng chi phí nhưng ngân hàng vẵn phải sử dụng trong thị trường nhất định ). Phải sử
dụng việc thâm nhập thị trường hoặc tìm được đầu ra có thu nhập cao.
SVTH: Bùi văn Việt Lớp : DHTN6TH 24
24
GVHD: Th.S . Nguyễn Thị Phương
* Chính sách lãi suất huy động phù hợp:
Muốn xác định chính sách lãi suất huy động phù hợp phải dựa trên những nguyên
tắc chung của ngân hàng. Với ngân hàng thì qua nghiên cứu nghị định 166/1999,
doanh thu chính là thu nhập. Lãi suất của ngân hàng cần được xác định trên cơ sở
xem xét các yếu tố thu nhập và chi phí nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy lãi suất
được xác định ở mức tại đó thu nhập biên bằng chi phí biên.
* Chính sách lãi suất cụ thể:
- Chính sách lãi suất phù hợp với từng nguồn tiền huy động theo nguyên tắc thời
hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
- Chính sách lãi suất thâm nhập thị trường ( lãi suất cạnh tranh).
Với mức lãi suất này ngân hàng trả mức lãi suất tiền gửi cao hơn huặc thu phí dịch
vụ thấp hơn so với các ngân hàng khác
Chính sách lãi suất này thường được các ngân hàng đang ở giai đoạn thâm nhập thị
trường áp dụng.Những ngân hàng này thuờng là những ngân hàng còn non trẻ, mới
thành lập, nguồn vốn còn thiếu. Vì thế nên việc họ áp dụng chính sách lãi suất này
nhằm tăng nhu cầu vốn lưu động để có thể đứng trên thị trường ngân hàng cạnh
tranh ngày càng khốc liệt.
Khi các ngân hàng muốn tăng nhu cầu vốn, mở rộng thị trường, đặc biệt là cần tiền
cho một dự án thì họ cũng áp dụng chính sách này.Ví dụ như khi NHNT muốn huy
động ngoại tệ cho một số dự án của họ ở giai đoạn 2001 – 2010, họ đã huy động trái
phiếu thời hạn 5 năm, với lãi suất năm đầu tiên là 4,2%, trong khi lãi suất năm tại
thời điểm đó ở NHNT là 2,25%/năm.
Tuy nhiên chúng ta không thể thường xuyên áp dụng chính sách này vì sẽ làm tăng
chi phí, giảm thu nhập. Các ngân hàng cũng chỉ nên áp dụng chính sách này trong