Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
2.1.1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 14
2.1.3 THỊ TRƯỜNG 17
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 1: Bảng đánh giá về độ nhận biết của KH đối với một số sản
phẩm thạch thị trường trong nước năm 2010 17
HÌNH
2.1.1 SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 14
2.1.3 THỊ TRƯỜNG 17
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
LỜI MỞ ĐẦU
Thương hiệu là một trong các nhân tố quan trọng góp phần duy trì, mở rộng,
phát triển thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp, nâng cao văn minh
thương mại, góp phần chống cạnh tranh không lành mạnh. Trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế của nước ta, các doanh nghiệp đứng trước việc cạnh tranh gay gắt,
nhất là khi có nhiều hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam.
"Gạo Việt nam chưa có thương hiệu", "Bảo hộ thương hiệu, nước đến chân
mới nhảy", "Thương hiệu Việt nam ra đến nước ngoài là mất", là những tiêu đề
nóng hổi trên các phương tiện thông tin đại chúng vừa qua. Quãng đường từ quan
điểm quảng cáo "chất lượng tốt" đến "nâng niu bàn chân Việt", "cảm giác rất Yo-
Phần 3. Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường vai trò của các yếu tố trực quan
cấu thành thương hiệu trong quá trình tiến hành hoạt động marketing của Vietfoods
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn thầy PGS. TS Nguyễn Viết Lâm đã
nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
2
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
PHẦN 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÓM
YẾU TỐ TRỰC QUAN CẤU THÀNH THƯƠNG HIỆU
TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát thương hiệu và nhóm các yếu tố trực quan cấu thành
thương hiệu là gì?
1.1.1 Khái quát về thương hiệu
1.1.1.1 Khái niệm
• Theo người tiêu dùng: Thương hiệu là khái niệm về sản phẩm với dấu hiệu
của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và
xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyềns ở hữu của nhà sản xuất
và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức.
• Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Thương hiệu
là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá
hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một
tổ chức.
Có thể nói, thương hiệu là tất cả sự cảm nhận của người tiêu dùng hay khách
hàng mục tiêu về sản phẩm hay doanh nghiệp. Đối với khách hàng, thương hiệu đại
diện cho một sự cuốn hút, tổng thể giá trị hay những thuộc tính giúp cho người tiêu
dùng nhận thức và phân biệt đối với sản phẩm khác. Như vậy, một thương hiệu sẽ
lớn hơn một sản phẩm rất nhiều. Sản phẩm chỉ có thể trở thành thương hiệu khi nó
Thứ tư, một thương hiệu mạnh có thể làm tăng lợi nhuận và lãi cổ phần. Xem xét
bất kỳ một thương hiệu nào trong số những thương hiệu hàng đầu thế giới như - Coca-
Cola, BMW, Adidas, chúng ta có thể thấy họ đều rất coi trọng thương hiệu. Tất cả những
công ty lớn này đều coi thương hiệu của họ có ý nghĩa nhiều hơn là một công cụ bán
hàng. Họ coi đó là một công cụ quản lý có thể tạo ra giá trị trong kinh doanh.
Thứ năm, thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là tài sản
quốc gia, khi thâm nhập thị trường quốc tế thương hiệu hàng hóa thường gắn với
hình ảnh quốc gia thông qua thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, đặc tính của sản phẩm.
Một quốc gia càng có nhiều thương hiệu nổi tiếng thì khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế càng cao, vị thế quốc gia đó càng được củng cố trên trường quốc tế tạo điều
kiện cho việc phát triển văn hoá-xã hội, hợp tác giao lưu quốc tế và hội nhập kinh tế
thế giới. Chẳng hạn, khi nói đến Sony, Toyota, Toshiba,… không ai không biết đây
là những sản phẩm nổi tiếng của Nhật, mặc dù ngày nay nó được sản xuất thông qua
rất nhiều quốc gia dưới hình thức phân công lao động quốc tế hoặc dưới hình thức
liên doanh, liên kết thông qua đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ.
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
4
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
Thứ sáu, đối với Việt Nam, trước nhu cầu đời sống và mức thu nhập ngày
càng cao, nhận thức về thương hiệu của người tiêu dùng Việt Nam đã cao hơn nhiều
so với trước đây. Thương hiệu chính là yếu tố chủ yếu quyết định khi họ lựa chọn
mua sắm, bởi thương hiệu tạo cho họ sự an tâm về thông tin xuất xứ, tin tưởng vào
chất lượng sản phẩm, tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin, giảm rủi ro. Vì vậy,
nếu muốn chiếm lĩnh thị trường và phát triển sản xuất- kinh doanh, doanh nghiệp
cần đầu tư bài bản cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu.
Tóm lại, thương hiệu là tài sản vô hình và có giá trị của doanh nghiệp: thương
hiệu là tài sản của doanh nghiệp, nó là tổng hợp của rất nhiều yếu tố, những thành
quả mà doanh nghiệp tạo dựng được trong suốt quá trình hoạt động của mình.
•Khái niệm
- Dưới góc độ xây dựng thương hiệu, logo là thành tố đồ hoạ của nhãn hiệu
góp phần quan trọng trong nhận thức của khách hàng về nhãn hiệu. Thông thường,
logo nhằm củng cố ý nghĩa của nhãn hiệu theo một cách nào đó. Các nghiên cứu
đều cho thấy lợi ích của logo đối với nhận thực nhãn hiệu của khách hàng là rất
quan trọng. Logo có thể tạo ra liên hệ thông qua ý nghĩa tự có của nó hoặc thông
qua chương trình tiếp thị hỗ trợ, so với nhãn hiệu, logo trìu tượng, độc đáo và dễ
nhận biết hơn, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ khách hàng không hiểu logo có ý nghĩa
gì, có liên hệ gì với nhãn hiệu nếu không được giải thích thông qua
chương trình tiếp thị hỗ trợ.
- Dưới góc độ pháp luật, logo gồm các yếu tố hình độc đáo, riêng có tạo thành
một chỉnh thể thống nhất. Logo tạo ra khả năng phân biệt của sản phẩm vì vậy, logo
được xem xét bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu hàng hoá. Với đặc tính đa dạng của
các yếu tố đồ hoạ, logo có thể là một hình vẽ, một cách trình bày chữ viết (tên
doanh nghiệp, sản phẩm), hoặc kết hợp cả hình vẽ và chữ viết tạo ra một bản sắc
riêng của thương hiệu. Logo chính là biểu tượng đặc trưng, là "bộ mặt" của thương
hiệu.
•Ý nghĩa:
- Do có tính hình tượng cao nên logo và biểu tượng được xem như một công
cụ hữu hiệu nhằm tăng cường nhận biết về thương hiệu và khác biệt hóa trong cạnh tranh.
- Do có tính linh hoạt cao nên logo hoàn toàn có thể được điều chỉnh cho phù
hợp với từng thời kỳ, hơn nữa nó cũng có thể dễ dàng được chuyển đổi qua biên
giới địa lý và các vùng văn hóa khác nhau.
- Do có tính trừu tượng, thường không mang một ý nghĩa cụ thể nên nó có thể
được sử dụng thích hợp cho một danh mục sản phẩm. Ví dụ biểu tượng công ty có
thể được gắn cùng với các sản phẩm và nó đóng vai trò như một sự xác nhận về
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
6
Đề án môn học
hoặc dòng sản phẩm, ví dụ “Anlene trắng cho con còn Alene vàng cho mẹ”.
Đối với những thương hiệu lớn, còn là một công cụ khằng định uy tín và vị trí
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
7
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
của mình trên thương trường, như “ Ở đâu có điện, ở đó có Điện Quang”, “Luôn
luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” hoặc “Chỉ có thể là Heineken”.
Câu khẩu hiệu thường đi liền với các chương trình quảng cáo, do đó nó
thường là câu kết thúc với những thông tin mang tính mô tả và thuyết phục. Với
những loại sản phẩm mà quảng cáo đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng
thương hiệu thì slogan thường được sử dụng như một cách thức thể hiện sự khác
biệt và tạo dựng hình ảnh cho thương hiệu.
1.1.2.4 Nhạc hiệu quảng cáo
Nhạc hiệu là yếu tố cấu thành thương hiệu được thể hiện bằng âm nhạc. Âm
nhạc có sức thu hút và lôi cuốn người nghe và làm cho mục quảng cáo trở nên hấp
dẫn và sinh động. Nhạc hiệu có thể là một đoạn nhạc nền hoặc có thể là một ca khúc
ngắn, thực chất đây là một hình thức mở rộng cho câu khẩu hiệu. Tuy nhiên, do
thuộc tính vốn có của nó, nhạc hiệu không có tính chuyển giao cao như các yếu tố
khác. Nhạc hiệu cũng có thể truyền tải những lợi ích thương mại của thương hiệu
nhưng chỉ có thể dưới hình thức gián tiếp và trừu tượng. Hơn nữa nó cũng không
thể bổ sung cho logo hay biểu tượng, nó cũng không thể gắn lên bao bì sản phẩm
hay các pano quảng cáo…
•Ý nghĩa: Có rất nhiều nhạc hiệu đã rất thành công đến mức chỉ cần nghe
đoạn nhạc khách hàng chỉ cần nghe đoạn nhạc đã biết ngay đó là thương hiệu gì.
Như vậy nhạc hiệu đã trở thành một đặc điểm nhận biết của một thương hiệu. Nhạc
hiệu có thể tăng cường nhận thức của khách hàng về thương hiệu bằng cách lập đi
lập lại một cách khéo léo tên thương hiệu trong ca khúc. Nếu đoạn nhạc hay ca khúc
này nếu được sáng tác hay, có vần điệu, ngắn gọn với ý nghĩa vui nhộn, hóm hỉnh
năm trong marketing mix;
Tác động của bao bì không chỉ giới hạn ở thời điểm mua sắm hoặc tiêu dùng
sản phẩm mà nó còn là một thành tố quan trọng trong các mục quảng cáo. Một cuộc
nghiên cứu với 200 mục quảng cáo các sản phẩm khác nhau trên truyền hình cho
thấy rằng trong 30 giây quảng cáo thì có đến 12 giây giới thiệu hình ảnh bao bì. Tần
suất này còn lớn hơn đối với các mục quảng cáo trên báo chí, tờ rơi, tờ gấp.
1.2 Yêu cầu đối với việc thiết kế các bộ phận thương hiệu:
1.2.1 Đối với tên thương hiệu
Lựa chọn một tên thương hiệu thực sự vừa là một nghệ thuật vừa là một khoa
học, do đó phải tuân thủ các hướng dẫn về cách thức đặt tên. Hướng dẫn này chủ
yếu áp dụng cho việc đặt tên thương hiệu sản phẩm mới. Theo đó, với yếu tố
thương hiệu nói chung và tên thương hiệu nói riêng cần phải cố gắng cân nhắc đáp
ứng các tiêu chí lựa chọn sau:
- Dễ nhớ: đơn giản, dễ phát âm, dễ đánh vần.
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
9
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
- Có ý nghĩa: gần gũi, có ý nghĩa, có khả năng liên tưởng.
- Dễ chuyển đổi: tên nhãn hiệu có thể dùng cho nhiều sản phẩm trong cùng
một chủng loại; dễ chấp nhận giữa các lãnh thổ và nền văn hoá khác nhau.
- Dễ thích nghi: dễ dàng trẻ hoá, hiện đại hoá, quốc tế hoá.
- Đáp ứng yêu cầu bảo hộ: có khả năng phân biệt, không trùng, không tương
tự với nhãn hiệu của người khác đã nộp đơn hoặc bảo hộ. Cần lưu ý rằng có rất ít
tên nhãn hiệu đáp ứng đủ các tiêu chí trên một cách tuyệt đối vì trong một số tình
huống chúng có thể trở nên đối nghịch nhau. Ví dụ: New Watch là một cái tên dễ
nhớ nhưng lại khó có khả năng bảo hộ vì nó mô tả tính chất mới của sản phẩm.
1.2.2 Đối với logo
Các tiêu chí lựa chọn thành tố logo:
- Khẩu hiệu phải mang đến cho thương hiệu sự khác biệt, phải phác họa một
số đặc tính nổi bật của thương hiệu so với các đối thủ cạnh tranh.
- Khẩu hiệu phải gợi nhớ đến tên thương hiệu (nếu tên thương hiệu không có
mặt trong khẩu hiệu, nó nên được đề cập hay liên tưởng tới)
- Khẩu hiệu hoàn hảo phải truyền tải những ấn tượng đẹp về thương hiệu
- Khẩu hiệu tốt sẽ không để đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng dễ dàng.
Nguyên tắc thiết kế Slogan hoàn hảo
- Slogan phải sáng sủa, rõ ràng, có sức thuyết phục, tiềm ẩn, có nhịp điệu và
hiệu quả của nó phải tạo tiếng vang.
- Slogan phải có sức hấp dẫn, dễ nhớ, dễ thuộc, phải là thứ ngôn ngữ kết nối
tất cả mọi người, mục đích của người sáng tạo ra nó là muốn xây dựng những thông
điệp ngắn gọn, gắn liền với định hướng và những ý tưởng trong kinh doanh của
công ty.
- Slogan phải gắn liền với mục tiêu, quá trình hình thành và phát triển của
công ty nên phải có tính kiên định (bắt buộc phải phù hợp và thể hiện nghệ thuật
quảng cáo).
- Slogan phải dựa trên những kế hoạch, hoạt động lắng nghe, thông qua cả một
quá trình thiết kế logo (slogan và logo kết hợp với nhau một cách nhẹ nhàng mang
nét đặc thù riêng, mang lại thành công trong quảng cáo).
1.2.4 Đối với nhạc hiệu quảng cáo
Âm thanh là nhân tố đặc trưng phản ánh “tính cách”, “ bản sắc” của thương
hiệu một cách rõ nét và khác biệt nhất. Cụ thể, lựa chọn được âm thanh hiệu quả sẽ
giúp phản ánh và duy trì bản sắc thương hiệu theo một cách riêng. Thực tế, trong
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
11
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
qc, nhiều công ty đã khai thác rất tốt âm thanh cho thông điệp của mình. Đưa âm
thanh trở thành yếu tố “ độc đáo” có khả năng lách sâu vào ngõ ngách trong tâm trí
Lớp: Marketing 51A
12
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
vậy hình thức của bao bì được xem là một công cụ quan trọng trong việc nhận thức
và gợi nhớ đến sản phẩm. Hơn nữa những thông tin và dấu hiệu trên bao bì có thể
tạo ra những liên kết hiệu quả đối với thương hiệu. Ví dụ khi bạn thấy gói café màu
đỏ nâu sẽ nghĩ tới nó là sản phẩm của Trung Nguyên …
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
13
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
PHẦN 2
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
CÁC YẾU TỐ TRỰC QUAN CẤU THÀNH THƯƠNG HIỆU
TRONG QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG MARKETING
CỦA VIETFOODS
2.1 Tổng quan về công ty Vietfoods
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành
Công ty cổ phần thực phẩm Việt Nam (Vietfoods hay VIETFOODSC) tiền
thân là công ty TNHH Việt Thành được thành lập năm 1996. Giai đoạn 1996-2002,
công ty chủ yếu là nhà phân phối độc quyền cho các thương hiệu hàng hóa nhập
ngoại như: Thạch ABC từ Đài Loan, café Aroma từ Singapore.Công ty cũng làm
đại lí cho các hàng hóa trong nước như: kem Wall’s của Uniliver(hiện nay là nhãn
hiệu kem Kido của tập đoàn Kinh Đô), kẹo Perfetti của Công ty Liên doanh Sản
xuất Kẹo Perfetti Việt Nam, đại lí phân phối mỹ phẩm Debon của Hàn Quốc…
Trong giai đoạn này, công ty đã xây dựng cho mình một hệ thống các mối quan hệ
với các cửa hàng bán lẻ, thiết lập được hệ thống kênh khá rộng và nhất là có được
đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp.
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
16
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
Hình 11. Dòng sản phẩm trà chanh Kan-ta
2.1.3 Thị trường
Trên cơ sở phân đoạn thị trường là nhân khẩu, địa lí, kinh tế, VIETFOODS đã
lựa chọn cho mình thị trường mục tiêu là các hộ gia đình có trẻ nhỏ ở thành thị,có
thu nhập khá trở lên.
Khi mới vào thị trường thạch, công ty chủ yếu cung cấp sản phẩm cho khu
vực Hà Nội, tuy nhiên sau một thời gian nghiên cứu nhu cầu thi trường, công ty đã
mạnh dạn đầu tư thêm dây chuyền sản suất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người
dân phía nam.
2.2 Thực trạng xây dựng và phát huy vai trò của các bộ phận thương hiệu
trong hoạt động marketing tại Công ty Vietfoods
2.2.1 Tên thương hiệu
•Quá trình hình thành:
- Đối với thương hiệu công ty Vietfoods: tiền thân trước đây là công ty
TNHH Việt Thành , thành lập năm 1997, chủ yếu là nhà tổng thầu cho các hãng
nước ngoài như dầu gội Debon, kẹo béo Anphalibe, sữa F&N , kem Wall trên thị
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
17
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
trường Hà Nội. Cho đến năm 2003 thì công ty bắt đầu chuyển sang lĩnh vực sản
xuất sản phẩm, mở rộng mạng lưới phân phối toàn quốc và xuất khẩu. Vì thế việc
dùng tên Việt Thành là không phù hợp với sứ mệnh mới nữa, do vậy từ năm 2006
công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần Thực phẩm Việt Nam (Vietfoods ). Tên này
2 Long hải 1 1 1 6
3 Newchoice 2 2 2 5
4 Wow( BigC) 5 5 5 2
5
Ten ten( CT thực
phẩm Bốn Mùa)
4 4 4 3
6 Sản phẩm khác 6 6 6 1
(Nguồn:Công ty nghiên cứu thị trường OMOI)
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
18
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
(*: Mức độ nhận biết giảm dần. 1: mức độ nhận biết lớn nhất, 6: mức độ nhân
biết thấp nhất)
Nhìn vào bảng trên ta thấy độ nhận biết của KH với sản phẩm thạch ABC của
Vietfoods ở mức khá, vẫn chưa bằng các sản phẩm như Long Hải, Newchoice
Như vậy, với cách đặt tên thương hiệu của Vietfoods, ta có thể nhận ra những
đặc điểm sau:
- Với tên gọi Vietfood thì giá trị hàng hoá của công ty đã được nâng cao hơn ,
không những trong nước mà khi xuất khẩu thì cũng rất thuận lợi . Người tiêu dùng
sẽ liên tưởng đến một công ty lớn , uy tín , hàng hoá sẽ được tin tưởng hơn về đảm
bảo chất lượng , nhất là khi xâm nhập vào kênh bán hàng MT(siêu thị , bigc
,metro ,lotte ). Hạn chế ở đây là mặt hàng của công ty cung cấp ra thị trường chưa
đủ lớn, đa dạng, như mong đợi kỳ vọng của người tiêu dùng đối với một thương
hiệu lớn. Ví dụ : Khi nghe tên Vietfoods người ta nghĩ rằng có thể mua được rất
nhiều mặt hàng về ăn uống , nhưng lại thấy Thạch rau câu thôi Khó khăn nữa khi
sử dụng thương hiệu lớn này là : đã là lớn thì mọi việc đầu tư phải bài bản , quy
mô , chứ không thể nhỏ lẻ được, các trung tâm thương mại đều yêu cầu công ty hỗ
đáo, đem lại cảm giác ấm cúng cho người tiêu dùng. Trong khi đó, các gam màu
lạnh lại tạo được sự an toàn, tin tưởng, nghiêm túc, sang trọng, lịch lãm… Điều này
hoàn toàn phù hợp với sứ mạng của công ty.
- Tính bền vững: logo cách điệu từ tên công ty này của Vietfoods được sử
dụng từ năm 2003 đến nay chưa hề có sự thay đổi. Điều này đem lại sự thân quen
gần gũi cho khách hàng khi lựa chọn sản phẩm.
- Sự hấp dẫn đối với khách hàng: Khách hàng khi chọn sản phẩm thạch của
Vietfoods ấn tượng với logo của công ty bởi màu sắc hài hoà và phù hợp với đối
tượng khách hàng của công ty. Hai màu xanh và cam đơn giản này rất dễ nhận ra
khi đặt chung với các sản phẩm khác cùng loại. Việc lựa chọn màu sắc của
Vietfoods được coi là “hợp phong thủy” khi nó thực sự giúp khơi gợi trí nhớ của
người tiêu dùng về tính chất và hình ảnh sản phẩm dễ dàng hơn vì sản phẩm thạch
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
20
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
làm từ rau câu và hương trái cây cho cảm giác tươi mát và giải khát.
Hình 12. Logo thạch rau câu Long Hải
2.2.3 Slogan
•Câu khẩu hiệu từng thời kỳ và mục tiêu quảng cáo :
- Khi công ty tồn tại dưới tên Việt Thành công ty chỉ sử dụng một câu khẩu
hiệu đơn giản “chung tay xây đắp” phù hợp với hoạt động kinh doanh khi đó là
phân phối sản phẩm cho các công ty nước ngoài khác.
- Từ khi đổi tên công ty, câu khẩu hiệu cũng thay đổi cho thích hợp với nhiệm
vụ kinh doanh mới đó là “ lợi ích sẻ chia”.
Sẻ chia cho xã hội cộng đồng - lợi ích sản phẩm thực phẩm nuôi dưỡng con
người , các công tác từ thiện đóng góp cho xã hội từ thành quả lợi nhuận của công
ty.
Sẻ chia cho người tiêu dùng - những giá trị sản phẩm khi tiêu dùng .
cao chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm , sử dụng hạt nhựa PVE làm nên bao gói
an toàn.
•Ngoài ra Vietfoods không ngừng cải tiến bao bì và kiểu dáng ngày càng đẹp
và tiện dụng hơn. Bao bì thạch ABC gồm có:ABC 500g, ABC lưới 950g, ABC hũ
gấu 800g, ABC xá 5kg, thạch bút chì túi ABC 24 cây, thạch bút chì ABC túi 5 cây,
thạch bút chì cốc, nhằm đáp ứng dễ dàng nhu cầu mua sắm của từng đối tượng
khách hàng.
Hình 13. Thạch ABC hũ 500g
•Vietfoods đưa ra mẫu thạch “bút chì” độc đáo. Đây là loại bao gói với kiểu
dáng vui mắt và độc đáo tạo cho sản phẩm thạch ABC thêm vẻ hấp dẫn và gần gũi
với đối tượng trẻ em. Kiểu dáng bao gói mới này sẽ làm nổi bật hơn cố gắng của
Vietfoods trong nỗ lực mang lại lợi ích nhiều hơn cho khách hàng.
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
22
Đề án môn học
GVHD: PGS.TS Nguyễn Viết Lâm
HÌnh 14. Thạch ABC bút chì 24cây.
• Ngoài mẫu thạch bút chì, dòng thạch ABC của Vietfoods còn đưa ra kiểu
thạch ABC hũ gấu được đánh giá là một trong các nhãn hiệu có mẫu mã đẹp nhất
trên thị trường thạch rau câu, được mọi tầng lớp người tiêu dùng ưa chuộng.
Hình 15. Thạch ABC hũ gấu 850g
Những nỗ lực cải tiến bao bì và kiểu dáng của Vietfoods nhằm đem đến cho
khách hàng cảm giác mới mẻ, độc đáo, vui vẻ, lạc quan và thuận tiện hơn khi sử
dụng tuy nhiên thì các bao gói của công ty chưa góp phần kích thích khách hàng
dùng thử bởi rất khó tách lẻ.
SV: Mai Thị Kiều Oanh
Lớp: Marketing 51A
23