Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
MỞ ĐẦU
Cây trồng chuyển gen hay còn gọi là cây trồng biến đổi gen hiện đang
là vấn đề được cả thế giới tranh luận. Song không thể phủ nhận hiệu quả
của nó trong sản xuất cùng lợi ích kinh tế rất lớn do nó mang lại. Hiện nay,
công nghệ sinh học trên thế giới phát triển với tốc độ chóng mặt, riêng trong
nông nghiệp đã có hơn 60 triệu ha gieo trồng bằng các giống cây biến
đổi gen như: ngô, lúa, đậu tương, bông, hoa hướng dương, khoai tây, đu
đủ
Cây trồng chuyển gen với năng suất và chất lượng cao đã đem lại lợi
ích khổng lồ cho những quốc gia có nền công nghệ sinh học tiên tiến. Đồng
thời giảm được việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học vốn làm suy
kiệt tài nguyên thiên nhiên và phá vỡ cân bằng sinh thái, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến khí hậu toàn cầu.
Những nghiên cứu hiện nay cho phép tạo ra các loại cây lương thực
“thế hệ đầu tiên” có khả năng chống lại các stress của môi trường như hạn
hán, sự thay đổi nhiệt độ đột ngột hay đất nhiễm mặn Các nhà khoa học
trên thế giới đang nghiên cứu “thế hệ thứ hai” của các sản phẩm công nghệ
sinh học-những sản phẩm mang lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu
dùng.
Chẳng hạn, cây “lúa vàng” có hàm lượng β-carotein
cao (
β
-carotein là
một thành phần quan trọng trong việc tạo ra vitamin A), hoặc giống khoai tây
công nghệ sinh học có hàm lượng protein cao hơn giống bình thường. Cây
trồng cũng có thể tạo ra các loại vaccine thực phẩm (vaccine thực phẩm là
loại vaccine thế hệ mới được tạo ra bằng cách chuyển một gen kháng
nguyên vào thực vật. Gen này khi hoạt động trong cơ thể thực vật sẽ
sinh ra protein kháng nguyên tương ứng. Khi những kháng nguyên này
được trồng thử nghiệm trên đông ruộng. Năm 1990, thực phẩm chuyển gen
đầu tiên được chấp nhận ở Mỹ. Năm 1994, sản phẩm cây trồng chuyển gen
đầu tiên được thương mại hoá là giống cà chua Flavr savr mang gen chín
chậm.
Từ năm 1995, nhiều loại cây trồng biến đổi gen được đưa ra đồng ruộng,
diện tích trồng cây chuyển gen cũng như số loại cây chuyển gen phát triển
không ngừng. Trong thời gian 8 năm (1996 - 2003), diện tích trồng cây
chuyển gen tăng 40 lần, từ 1,7 triệu ha (1996) tăng lên 67,7 triệu ha (2003).
Số quốc gia trồng cây chuyển gen tăng gấp 3 lần, từ 6 nước (1996) đến 2003
có 18 quốc gia trồng cây biến đổi gen.
Năm 2003, diện tích trồng cây chuyển gen vẫn chủ yếu ở các nước phát
triển, chiếm 70% tổng diện tích cây chuyển gen toàn cầu với diện tích 42,7
triệu ha. Hiện nay, Mỹ có diện tích trồng cây chuyển gen lớn nhất 42,8 triệu
ha, chiếm 63% diện tích cây chuyển gen toàn cầu, Argentina 13,9 triệu ha
(21%), Canada 4,4 triệu ha (6%), Brazil 3 triệu ha (4%), Trung Quốc 2,8 triệu
ha (3,85%) và các nước Nam Phi có diện tích trồng cây chuyển gen là 0,4
triệu ha chiếm 0,1% diện tích trồng cây chuyển gen toàn cầu.
1.2. Một số phương pháp chuyển gen ở thực vật:
1.2.1. Chuyển gen bằng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens:
Mục đích của công nghệ gen thực vật là tạo ra những cây biến đổi gencó
những đặc tính mới. Ở đây DNA lạ được đưa vào tế bào thực vật và tồn tại
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
3
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
bền vững trong hệ gen. Các vi khuẩn đất A. tumefaciens và một số loài họ
hàng có khả năng chuyển một phần nhỏ DNA của nó vào tế bào thực vật và
qua đó kích thích tạo khối u. Những khối u này là không gian sống của vi
khuẩn. Một số chất dinh dưỡng (opine) có lợi cho vi khuẩn cũng được tạo ra
trong những khối u này. Những opine phổ biến nhất là nopalin và octopin.
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
bị thương NST của vi khuẩn
Ti-Plasmid
với T-DNA
Agrobacterium NST trong nhân
tế bào thực vật
Agrobacterium TB thực vật
Vi khuẩn gắn vào tế bào
thực vật và sự gắn T-DNA
Agrobacterium
Kh
ối u trong khối uT-DNA của vi
khuẩntrong DNA
tổng hợp auxin, tra: Vận chuyển tiếp hợp, vir: vùng độc tính.
Điều kiện cho việc chuyển T-DNA vào thực vật trước hết là tế bào bị
thương. Khi tế bào bị thương chúng tiết ra các hợp chất phenol
(acetosyringon), chất có vai trò quan trọng trong việc nhận biết và sự gắn
kết giữa vi khuẩn và tế bào thực vật.
Cơ chế nhận biết được giải thích là nhờ tính đặc hiệu của A.
tumefaciens với cây hai lá mầm, ở cây một lá mầm thì phản ứng này chỉ ở
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
6
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
một ít loài. Vì vậy, Agrobacterium được sử dụng giới hạn cho biến nạp cây
một lá mầm. Khi bổ sung syringon người ta có thể biến nạp nấm bằng A.
tumefaciens. Thực vật một lá mầm quan trọng như ngô có thể được biến nạp
bằng A. tumefaciens.
Ti-Plasmid khó được dùng trực tiếp trong các thí nghiệm chuyển gen, vì
nó có kích thước lớn và mang các gen gây khối u; hơn nữa DNA của Ti-
Plasmid có quá nhiều chỗ để các enzyme giới hạn có thể cắt, trong khi đó
người ta chỉ cần một số ít vị trí như vậy mà thôi. Tuy nhiên, Ti-Plasmid có thể
cung cấp cho ta những yếu tố cần thiết để thiết kế những vector hữu ích cho
kỹ thuật chuyển gen. Thường người ta hay sử dụng các Ti-Plasmid, mà trong
đó vùng T-DNA gây khối u đã bị tách bỏ và thay thế vào đó các gen trội chỉ
thị cho chọn lọc (thường là các gen vi khuẩn kháng chất kháng sinh, như
kanamycin). Tuy nhiên, kích thước lớn của Ti-Plasmid rất khó khăn cho việc
gắn trực tiếp một phân đoạn DNA vào vùng giữa hai trật tự biên. Để giải
quyết khó khăn này người ta thiết kế ra hai hệ thống vector không gây khối u,
khác nhau ở chỗ: vùng gen vir và hai trật tự biên (LB và RB) cùng nằm trên
một đơn vị tái bản (plasmid) hay trên hai đơn vị khác nhau. Đó là hệ thống
vector liên hợp và vector nhị thể.
* Hệ thống vector liên hợp:
- Về lý thuyết mọi tế bào và mô đều có thể được biến nạp.
- Không phức tạp như ở sự biến nạp A. tumefaciens
Phương pháp này đã thành công trong việc đưa được hơn 10
gen đồng thời vào các plasmid khác nhau và có thể được sử dụng cho bất
cứ loài sinh vật nào.
Hình 4: Ảnh chụp dưới
kính hiển vi điện tử của
hạt vàng (a) và volfram (b)
trong cùng một tỷ lệ cho
sự biến nạp
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
8
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
Dựa vào điểm cuối cùng thì phương pháp này có thể được sử
dụng thành công đối với vi khuẩn, nấm, tảo và động vật. Ngoài ra, phương
pháp này còn vượt qua một cản trở khác nữa: trong khi các phương pháp
khác chỉ phù hợp với việc đưa gen lạ vào nhiễm sắc thể của nhân thì bằng
phương pháp này người ta có thể biến nạp cả ty thể và lạp thể.
Thiết bị đầu tiên để chuyển gen là súng bắn gen. Máy hiện đại sử dụng
khí helium nén làm đạt đến vận tốc bắn tối ưu và thao tác an toàn hơn. Tốc độ
đạt 1300 m/s (so sánh với vận tốc âm thanh trong không khí 343 m/s). Tỷ
lệ biến nạp hoặc hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: lượng DNA/hạt vàng hoặc wolfram, tốc độ hạt, số lượng hạt,
độ lớn và
loại tế bào và mật độ của tế bào hoặc mô được sử dụng.
Nòng
súng
ấm
lưới
Các
vi
đạn
bằng
vàng
được
bọc
DNA
Tế
bào
đích
của
thực
vậ
t
Hình 5: Sơ đồ súng bắn gen
gồm cellulose, phải được phân giải nhờ enzyme cellulase. Kết quả xuất
hiện tế bào tròn, không có thành, để bền vững chúng phải được giữ
trong một dung dịch đồng thẩm thấu.
Hình 6: Tế bào trần cây thuốc lá dưới
kính hiển vi
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
10
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
DNA được biến nạp vào tế bào trần có thể
thực hiện bằng 2 con đường:
+ Thứ nhất người ta sử dụng chất polyethylenglycol, khi có mặt chất
này các tế bào trần hòa lẫn vào với nhau và qua đó các phân tử DNA được
tiếp nhận.
+ Thứ hai sự biến nạp có thể được thực hiện bằng sốc điện, được gọi
là xung điện. Sốc điện dẫn đến sự không phân cực ngắn của màng tế bào
trần, làm cho DNA được tiếp nhận. DNA đi vào trong nhân và kết hợp
hoàn toàn ngẫu nhiên vào một vị trí bất kỳ trong DNA nhân của thực vật.
Tiếp đến là sự chọn lọc và tái sinh toàn cây .
Về nguyên tắc bất kỳ thực vật nào cũng có thể được biến nạp bằng các
phương pháp trên. Nhưng tái sinh cây hoàn chỉnh thường là rất khó và vì
vậy việc sử dụng biến nạp bằng tế bào trần bị hạn chế.
1.2.4. Chuyển gen bằng phương pháp vi tiêm (thường tiến hành
với các tế bào tiền phôi của hợp tử hoặc của hạt phấn):
Kỹ thuật vi tiêm sử dụng máy vi nhu động và các thiết bị hiển vi để đưa
DNA vào tế bào, đã tạo ra được những cây chuyển gen từ protoplast (Chnorf
et al., 1991) hoặc những cây chuyển gen khảm từ các tế bào tiền phôi có
nguồn gốc từ hạt phấn (Neuhaus, 19870). Như phương pháp chuyển gen bằng
súng bắn gen, phương pháp vi tiêm cho phép đưa DNA vào các tế bào có
thành tế bào. So với phương pháp chuyển gen bằng súng bắn gen thì phương
Chương 2. CÁC SẢN PHẨM THỰC VẬT CHUYỂN GEN THƯƠNG
MẠI HOÁ
2.1. Tình hình thương mại hoá sản phẩm thực vật chuyển gen:
Hiện nay, trên thế giới có hàng chục cây chuyển gen đã được thương mại
hoá với những tính trạng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi
quốc gia. Mỹ là nước có diện tích trồng cây chuyển gen lớn nhất cũng như có
nhiều thực vật chuyển gen được thương mại hoá nhiều nhất. Danh sách sau
đây là những tính trạng đưa vào thực vật và sản phẩm của nó đã được cho
phép thương mại hoá ở Mỹ.
Có 12 loài đã đựoc cấp phép sản xuất thương mại tại Mỹ và những tính
trạng mới (đưa vào thông qua kỹ thuật gen) được chia làm 6 nhóm.
Tính trạng Loài thực vật Nguồn gien
Kháng côn trùng
(BT)
Ngô, khoai tây, cà
chua, bông
Vi khuẩn đất
Kháng thuốc diệt
cỏ
Ngô, đậu tương,
bông, củ cải
đường, lúa, hạt
cải dầu, cây lanh
Một số loại vi
khuẩn, cây thuốc
lá (gien đã được
biến đổi)
Kháng virút Bí (squash), khoai
tây, đu đủ
Vi rút thực vật
kháng sâu đạt diện tích 19,3 triệu ha (chiếm 24%), bông kháng thuốc diệt cỏ
và kháng sâu đạt diện tích 9 triệu ha (chiếm 11%) và cải dầu kháng thuốc
diệt cỏ đạt diện tích 4,3 triệu ha (chiếm 5%). Nếu so sánh diện tích trồng
cây biến đổi gen với tổng diện tích cây trồng cùng loại ở quy mô toàn cầu
thì đậu tương biến đổi gen chiếm 56%, bông biến đổi gen chiếm 28%, cải
dầu biến đổi gen chiếm 19% và ngô biến đổi gen chiếm 14%.
2.2. Một số phương pháp tạo tính trạng của thực vật chuyển gen thương
mại hoá:
2.2.1. Làm chậm quá trình chín quả:
Chín là một giai đoạn bình thường trong quá trình trưởng thành của rau
và quả. Quá trình chỉ xảy ra mạnh mẽ vài ngày trước khi rau và quả có thể ăn
được. Sự chín không thể tránh khỏi này gây thiệt hại không nhỏ cho cả nông
dân và người tiêu dùng.
Quá trình chín của quả:
Ethylene là một hormone thực vật tự nhiên liên quan đến quá trình sinh
trưởng, phát triển, chín và sự lão hoá của thực vật. Người ta cho rằng
Phytohormone này thúc đẩy quá trình chín của rất nhiều loài quả như: chuối,
dứa, cà chua, xoài, dưa hấu và đu đủ. Nó được tạo ra ở nhiều nồng độ khác
nhau phụ thuộc vào nhiều loại quả. Nhưng khi nồng độ ethylene đạt từ 0,1
đến 1,0 ppm (phần triệu) thì bắt đầu xảy ra quá trình chín của quả vùng nhiệt
đới. Quả vùng nhiệt đới thường được thu hoạch một lần khi chúng đạt được
độ trưởng thành nhất định, và sau đó chúng chín rất nhanh khi vận chuyển và
bảo quản. Sản phẩm ethylene trong quả là tín hiệu cho hoạt động của nhiều
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
14
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
loại enzyme khác nhau dẫn đến những thay đổi sinh lý như: quả thay đổi màu
sắc, mềm và có mùi khác nhau.
Để điều khiển quá trình chín chậm các nhà khoa học có thể sử dụng một
15
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
* Ức chế hoạt tính của polygalacturonasa:
Enzyme polygalacturonase (PG) chịu trách nhiệm cho sự phân giải
pectin, chất duy trì độ cứng cho thành tế bào thực vật. Việc phân giải pectin
xảy ra lúc bắt đầu quá trình chín, làm cho mềm quả. Để tạo ra quả DR bằng
phương pháp này, các nhà khoa học đã chuyển gen entisene hoặc một đoạn
bản sao của gen PG vào trong genome của thực vật dẫn đến sự ức chế tạo ra
enzyme PG.
2.2.2. Kháng thuốc diệt cỏ:
Một vấn đề khá nan giải hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới là nông
dân dùng thuốc diệt cỏ quá liều lượng và đa chủng loại, dẫn tới các loại rau
quả và ngũ cốc sau khi thu hoạch vẫn còn chứa một dư lượng nhất định. Dư
lượng thuốc trừ cỏ có trong thực phẩm gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của
con người và nó còn tồn tại thời gian khá lâu ngoài môi trường gây ô nhiễm
môi trường đất, nước. Chí vì điều nay nên người ta đã nghiên cứu và tạo ra
cây chuyển gen có khả năng mang sẵn chất phân huỷ chất diệt cỏ trong cây.
Nhóm nghiên cứu do giáo sư Ohkawa thuộc trường Đại học Kobe chủ trì
đã tiến hành biểu hiện các chủng P450 (có khả năng tổng hợp P450
monooygenase, chất có trong microsome gan động vật là những enzyme đồng
hoá thuốc tham gia vào quá trình đồng hoá oxy hoá các hợp chất độc lạ trong
đó có cả thuốc diệt cỏ) trong nấm men và kiểm tra chức năng đồng hoá các
thuốc diệt cỏ trong ống nghiệm cũng như trong nẫm men tái tổ hợp. Họ đã tạo
ra được các giống cây trồng chuyển gen P450 có khả năng phân huỷ thuốc
diệt cỏ Chlortoluron và atrazin bằng cách hidroxyl hoá methyl nhân, demethyl
hoá và dealkyl hoá gốc nitrogen.
Một vấn đề khó khăn trong việc sử dụng cây biến đổi gen là sự lan
truyền tính kháng qua hạt phấn đến những cây họ hàng. Để giải quyết vấn
đề này việc tạo cây biến đổi gen là dựa vào sự thay đổi các gen trong lạp
thể. Vì gen lạp thể ở phần lớn thực vật di truyền theo tế bào chất, vì vậy tính
-endotoxin tinh thể được mã hóa bởi các gen
Cry.
Người ta phân biệt 4 nhóm endotoxin (CryI đến CryIV), tuỳ thuộc nó
độc với loài sâu nào, đối với Lepidoptere (bướm, CryI), Lepidoptere và
Diptere (ruồi và muỗi, CryII), Coledoptere (côn trùng cánh cứng, Cry III)
và Diptere (Cry IV).
Sau nhiều thí nghiệm đồng ruộng các loại cây trồng chứa Bt đã có mặt
trên thị trường với kết quả tốt. Ví dụ: với việc sử dụng ngô chứa Bt năm
1996 và 1997 đã làm giảm lượng thuốc trừ sâu cho cây ngô ở Mỹ
10%, năng suất tăng lên 9%, bông chứa Bt năng suất tăng 7%. 60% nông dân
loại
bỏ hoàn toàn thuốc trừ sâu.
2.2.4. Kháng virus, vi khuẩn và nấm:
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
17
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
Virus, vi khuẩn và nấm là các loại nếu đã gây bệnh ở thực vật thì sẽ gây
hậu quả rất lớn do khả năng sinh trưởng, sinh sản và phát tán rất nhanh do đó
phải có biện pháp kiểm soát ngay từ ban đầu. Trong đó, biện pháp chuyển gen
kháng các loại virus, vi khuẩn và nấm vào cây trồng là biện pháp rất hiệu quả
so với các biện pháp khác.
Thường tồn tại những chủng virus họ hàng với mức độ gây bệnh khác
nhau. Có những chủng không gây triệu chứng, có độc tính thấp, trong khi đó
có những chủng gây triệu chứng hại rất nặng, được gọi là virus có độc tính
cao. Đã lâu người ta biết rằng, nếu tiêm chủng trước đó với loài virus độc
tính yếu thì ở trong cây xuất hiện tính miễn dịch đối với loài virus họ hàng
độc tính mạnh hơn. Sự tái sinh của virus bị ngừng hoặc là giảm rất mạnh,
được gọi là cross protection. Người ta lợi dụng hiệu quả trên để tạo cây
biến đổi gen kháng virus.Đầu tiên những gen mã hóa cho protein vỏ của
chitinase và glucanase trong thuốc lá làm cho cây có tính kháng nấm gây
hại cao hơn cây có một gen độc lập. Cũng tương tự, cà chua có tính
kháng nấm Fusarium cao hơn hẳn, sau khi được chuyển cả hai gen nói
trên. Protein ức chế ribosome (ribosomal inhibition protein-RIP) cũng biểu
hiện tính kháng nấm khả quan. Cây thuốc lá cho tính kháng nấm rất
tốt, khi cây được chuyển đồng thời gen RIP và chitinase. Nhiều thực vật
biến đổi gen khác nhau tạo ra protein kháng vi sinh vật khác nhau. Ở đây
người ta thu được những kết quả trái ngược nhau, ví dụ α- thionin có nguồn
gốc từ yến mạch được biến nạp vào cây thuốc lá kháng vi khuẩn
Pseudomonas syringae và một thionin nhân tạo nội sinh biểu hiện
mạnh kháng Fusarium oxyporum. Nhiều tác nhân gây bệnh tạo ra trong cây
các chất độc. Ngược lại cây trồng cũng tạo ra chất độc để tự bảo vệ chúng.
2.2.5. Kháng các điều kiện ngoại cảnh bất lợi:
Người ta cho rằng, phần lớn những yếu tố bất lợi gây hại trực
tiếp hoặc gián tiếp làm xuất hiện những hợp chất oxy độc, hoạt động,
được gọi ngắn gọn là ROS (reactive oxygen species). Người ta cho rằng,
ROS tạo nên đã hoạt hóa các gen, mã hóa cho các enzyme, xúc tác cho
tổng hợp các chất chống oxy hóa (ví dụ, vitamin D hoặc E). Mặc dù
các marker phân tử kháng khô hạn đã được sử dụng trong
lai tạo truyền thống, nhưng những nghiên cứu về khả năng kháng điều kiện
bất lợi ở thực vật biến đổi gen vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu. Ngoài
ra, còn có lý do khác là mỗi một quá trình trong tế bào gắn chặt chẽ với
nhau. Ví dụ quá trình hô hấp gắn liền với quá trình quang hợp. Tuy nhiên,
có một số triển vọng như dựa trên sự biểu hiện của enzyme tổng hợp
chất chống oxy hóa. Hai ví dụ sau đây được nêu ra:
- Người ta đã thành công trong việc tạo ra cây Arabidopsis biến đổi
gen có mang enzyme cholinoxygenase từ vi khuẩn Arthrobacter
globiformi. Thực vật này tích lũy glycinbetaine và thể hiện tính chịu mặn
cao. Ở những thí nghiệm khác glycinbetaine được phun lên cây ngô và
cây kê (Sorghum bicolor) đã đạt được khả năng chống hạn tốt hơn và
+ Có thể thay đổi thành phần carbohydrate của thực vật bằng việc
biểu hiện những gen mới hoặc bất hoạt những gen hiện có. Ví dụ: người
ta đã thành công trong việc chuyển enzyme AGPase (ADP-Glucose-
Phosphorylase) từ vi khuẩn đường ruột E. coli đã được biến đổi đã làm
tăng khả năng tích lũy tinh bột trong khoai tây. Ngược lại bằng cơ chế
antisense, enzyme tổng hợp tinh bột synthetase ở trong hạt tinh bột bị ức
chế. Khoai tây được tạo ra bằng cách này chỉ chứa amylopectin mà không
có amylose.
+ Một trong những thành công đầu tiên là tạo dòng ngô đột biến có
Sinh viên: Đào Duy Hưng Lớp Công Nghệ |Sinh Học K2
20
Bài tiểu luận các sản phẩm thực vật chuyển gen thương mại hoá
cân bằng amino acid tốt hơn (hàm lượng protein cao hơn) có tên là
Opaquez, có hàm lượng lysine cao hơn (tăng 32% so với đối chứng). Năm
1960 đã chứng minh được ưu thế dinh dưỡng của loại ngô này, nhưng
người nông dân đã không chấp nhận vì năng suất giảm 15%. Thực tế này
đã dẫn tới sự cố gắng trong lai tạo giống trong 30 năm để tạo ra được dòng
ngô chứa protein chất lượng cao. Hàm lượng lysine của loại này không cao
như Opaque2 (20% so với 32%), nhưng có những đặc điểm nông học tốt.
Nông dân ở châu Phi và Nam Mỹ, nơi mà ngô là lương thực chính cho con
người đã chấp nhận rộng
rãi giống ngô này .
+ Một nhà nghiên cứu người Úc đưa gen mã hóa cho protein vào cây
đậu lupin với mục đích biểu hiện ở hạt. Kết quả là tăng 100% hàm lượng
protein trong hạt. Khi dùng hạt này để nuôi cừu, trọng lượng cừu tăng
7% và sản lượng lông tăng 8% so với cừu nuôi bằng loại hạt bình thường.
Thành công này thúc đẩy các nhà nghiên cứu đưa gen này vào lá cây cỏ,
nhằm cải tiến cân bằng amino acid không thay thế ở dạ
cỏ.
chuyển gen kháng nguyên lấy từ virus viêm gan B là
khoai tây. Nhờ
đó loại khoai tây này có khả năng kháng virus viêm gan B
bằng cách tạo
ra kháng nguyên virus.
2.4. Đánh giá an toàn các thực phẩm của cây trồng chuyển gen:
Thực phẩm có nguồn gốc từ cây trồng chuyển gen phải trải qua nhiều
thử nghiệm hơn bất kỳ loại thực phẩm nào trong lịch sử. Trước khi được
đưa ra thị trường, chúng phải được đánh giá sao cho phù hợp với các quy
định do một vài tổ chức khoa học quốc tế đưa ra như Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO), Tổ chức Nông Lương (FAO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh
tế (OECD)… Những quy định này như sau:
- Các sản phẩm chuyển gen cần được đánh giá giống như các loại thực
phẩm khác. Các nguy cơ gây ra do thực phẩm có nguồn gốc từ công nghệ
sinh học cũng có bản chất giống như các loại thực phẩm thông thường.
- Các sản phẩm này sẽ được xem xét dựa trên độ an toàn, khả năng
gây dị ứng, độc tính và dinh dưỡng của chúng hơn là dựa vào phương pháp
và kỹ thuật sản xuất.
- Bất kỳ một chất mới nào được đưa thêm vào thực phẩm thông qua
công nghệ sinh học đều phải được cho phép trước khi đưa ra thị trường
cũng như việc các loại chất phụ gia mới như chất bảo quản hay màu thực
phẩm cần phải được cho phép trước khi thương mại hóa.
Một số cơ sở khẳng địng sưn an toàn của thực phẩm có nguồn gốc từ
cây chuyển gen:
- Các thực phẩm này đã trải qua các kiểm nghiệm nghiêm ngặt.
- Chưa có bằng chứng nào cho thấy thực phẩm chuyển gen hiện đang
có trên thị trường gây ra bất cứ lo ngại nào về sức khoẻ con người hay có
bất kỳ khía cạnh nào kém an toàn hơn so với cây trồng tạo được
nhờ lai giống truyền thống.