ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH TÔ VĂN HẢI
PHÂN TÍCH LỢI THẾ
SO SÁNH CỦA VIỆT NAM VỀ HÀNG
THÂM DỤNG LAO ĐỘNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS-TS. NGUYỄN KHÁNH DOANH
iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS. TS.
Nguyễn Khánh Doanh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện. Tôi xin trân thành cảm ơn Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học - Trường
ĐH Kinh tế và QTKD đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và
trình bày luận văn này. Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã
chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên
cứu của luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn! iv
MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
2.1. Phương pháp thu thập số liệu 22
2.1.1. Chọn mẫu 22
2.1.2. Thu thập số liệu thứ cấp 22
2.2. Phương pháp xử lý số liệu 22
2.2.1. Đo lường mức độ lợi thế so sánh và mức độ chuyên môn
hóa xuất khẩu 22
2.2.2. Phương pháp phân tích 24
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn
2000-2010 29
3.1.1. Xuất nhập khẩu hàng hoá phân theo mức độ thâm dụng các
yếu tố sản xuất 29
3.1.2. Tổng quan về xuất khẩu hàng hoá thâm dụng lao động 34
3.2. Thực trạng về lợi thế so sánh của Việt Nam 43
3.2.1. Kết quả về chỉ số BI (RCA) của Việt Nam đối hàng nhóm
hàng thâm dụng lao động 43
3.2.2. Tính ổn định về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 50
3.2.3. Sự chuyển biến trong cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam đối
với nhóm hàng thâm dụng lao động 51
3.2.4. Mức độ chuyên môn hóa xuất khẩu của Việt Nam 56
vi
Chƣơng 4. GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY LỢI THẾ SO
SÁNH CỦA VIỆT NAM TRONG XUẤT KHẨU HÀNG
THÂM DỤNG LAO ĐỘNG 58
4.1. Các nguồn lực cơ bản để phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam 58
4.1.1. Nguồn nhân lực 58
4.1.2. Vị trí địa lý 60
4.1.3. Tài nguyên thiên nhiên 60
4.2. Một số quan điểm về phát huy lợi thế so sánh trong giai đoạn hiện nay 62
yếu tố sản xuất 29
Bảng 3.2: Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam 30
Bảng 3.3: Kim ngạch nhập khẩu phân theo mức độ thâm dụng các
yếu tố sản xuất 32
Bảng 3.4: Cơ cấu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 33
Bảng 3.5: Xuất khẩu hàng thâm dụng của Việt Nam sang một số thị
trường chủ yếu 34
Bảng 3.6: Một số thị trường xuất khẩu hàng hoá thâm dụng lao động
chủ yếu 35
Bảng 3.7: Cơ cấu xuất khẩu hàng thâm dụng lao động 36
Bảng 3.8: Cơ cấu xuất khẩu hàng hoá cần nhiều lao động phổ thông 38
Bảng 3.9: Cơ cấu xuất khẩu hàng hoá cần nhiều nguồn vốn con người 39
Bảng 3.10: 20 nhóm hàng thâm dụng lao động xuất khẩu chủ yếu
của Việt Nam 42
Bảng 3.11: 10 nhóm hàng thâm dụng lao động có lợi thế so sánh cao
nhất năm 2010 44
Bảng 3.12: Lợi thế so sánh của hàng hoá cần nhiều lao động phổ thông 46
Bảng 3.13: Lợi thế so sánh của hàng hoá cần nhiều nguồn vốn con người 48
Bảng 3.14: Chỉ số tương đồng xuất khẩu Finger & Kreinin 50
Bảng 3.15: Kết quả của mô hình hồi quy Galtonian 52
Bảng 3.16A: Ma trận xác suất chuyển đổi 2001-2004 53
Bảng 3.16B: Ma trận xác suất chuyển đổi 2004-2007 54
Bảng 3.16C: Ma trận xác suất chuyển đổi 2007-2010 54
Bảng 3.16D: Ma trận xác suất chuyển đổi 2001-2010 55
Bảng 3.17: Hệ số GINI về xuất khẩu hàng thâm dụng lao động của
Việt Nam 57
Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam 59
Bảng 4.2: Độ mở của nền kinh tế Việt Nam và các quốc gia đang
phát triển 62
và quố c tế . Chủ trương đó thể hiện từ việ c thông qua Luậ t Đầ u tư Nướ c ngoà i
vào năm 1987, ký một thỏa thuận về thương mại với Liên minh Châu Âu
(EU) vào năm 1992, trở thà nh thà nh viên củ a Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) vào năm 1995, gia nhậ p tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á -
Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998, k hiệp định thương mại song
phương Việ t Nam - Hoa Kỳ và o năm 2000, tham gia vào khu vực thương mại
tự do Châu Á - Trung Quốc (2002), hiệp hội kinh tế Châu Á - Nhật Bản
(2003) và trở thành thành viên chín h thứ c củ a WTO và o đầ u năm 2007. Như
vậ y, trong vò ng 20 năm kể từ khi tiế n hà nh công cuộ c đổ i mớ i , Việ t Nam đã
nhanh chó ng hộ i nhậ p vớ i nề n kinh tế thế giớ i . Nhữ ng thà nh tự u to lớ n mà
Việ t Nam đã đạ t đượ c trong quá trình c huyể n đổ i nề n kinh tế là dấ u hiệ u tố t
trướ c nhữ ng thay đổ i nhanh chó ng củ a nề n kinh tế thế giớ i.
Trong bối cảnh đó, thể chế thương mại quốc tế của Việt Nam đã có nhiều
thay đổi và được điều chỉnh theo hướng tự do hóa và hội nhập quốc tế. Những
biến đổi tích cực này đã góp phần đem lại nhiều thà nh tự u to lớ n cho Việ t
Nam trong quá trình chuyể n đổ i nề n kinh tế . Đây cũng chính là dấ u hiệ u tố t
trướ c nhữ ng thay đổ i nhanh chó ng củ a nề n kinh tế thế giớ i . Cụ thể là tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam luôn đạt mức 7-8% một năm
trong thập kỷ 90. Theo tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục thống kê (2006,
2008, và 2011) thì tỷ trọng của xuất khẩu trong GDP liên tục tăng nhanh, từ
2,3% vào năm 1986 lên 46,5% vào năm 2000 và 93,3% năm 2011. Tổng mức
lưu chuyển ngoại thương cũng đạt được mức tăng trưởng ngoạn mục, từ 2,94
tỷ USD năm 1986 lên 30,1 tỷ USD năm 2000 và 203,7 tỷ USD năm 2011. Từ
một nước phải nhập khẩu hầu hết các mặt hàng nông sản thiết yếu để đáp ứng
nhu cầu trong nước Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu lớn trên thế
giới. Cụ thể, Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, đứng đầu về
3
xuất khẩu cà phê vối và hạt tiêu, đứng thứ 3 về xuất khẩu cao su thiên nhiên.
Ngoài ra, Việt Nam còn sản xuất, chế biến và xuất khẩu một lượng lớn hạt
chuyển biến về lợi thế so sánh của Việt Nam đối với nhóm hàng thâm dụng
lao động trong bối cảnh tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về lợi thế so sánh. Trên cơ
sở đó, đề tài đưa ra các phương pháp cơ bản nhằm đo lường và phân tích cơ
cấu lợi thế so sánh.
- Đánh giá cơ cấu và sự chuyển biến về cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam.
- Phân tích tính di động của lợi thế so sánh của Việt Nam trong bối
cảnh tự do hóa thương mại.
- Trên cơ sở phân tích cơ cấu và sự chuyển biến về cơ cấu lợi thế so
sánh, đề tài sẽ khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao lợi thế so sánh
của Việt Nam về nhóm hàng thâm dụng lao động, đồng thời thúc đẩy xuất
khẩu phù hợp với lợi thế so sánh của đất nước trong thời hội nhập kinh tế
quốc tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi về nội dung
- Đo lường mức độ lợi thế so sánh của Việt Nam về nhóm hàng thâm dụng
lao động.
- Xác định cơ cấu lợi thế so sánh và phân tích sự chuyển biến về cơ cấu
lợi thế so sánh của Việt Nam về nhóm hàng thâm dụng lao động.
- Phân tích tính di động của phân phối chỉ số hiển thị lợi thế so sánh
của Việt Nam về nhóm hàng thâm dụng lao động.
- Xác định mức độ tập trung trong cơ cấu xuất khẩu nhóm hàng thâm
dụng lao động của Việt Nam và sự thay đổi của mức độ tập trung này.
5
3.2. Phạm vi về không gian: Phân tích lợi thế so sánh của Việt Nam. Lợi thế
so sánh ở đây được xác định là lợi thế xuất khẩu của Việt Nam sang phần còn
lại của thế giới.
3.3. Phạm vi về thời gian: Phân tích lợi thế so sánh giai đoạn 1998-2010.
lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, lý thuyết của Heckscher~Ohlin,… Trên cơ sở
đó, tác giả sẽ xây dựng khung phân tích áp dụng cho việc thực hiện đề tài.
1.1.1. Chủ nghĩa trọng thương
Từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, hầu hết các quốc gia ở châu
Âu chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chủ nghĩa trọng thương trong việc thống nhất
kinh tế và kiểm soát chính trị. Có thể nói chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết
thương mại quốc tế đầu tiên. Trong thời kỳ đó, vàng và bạc được lưu hành với
tư cách là đồng tiền thanh toán trong thương mại quốc tế và cũng là thước đo
tài sản của một quốc gia. Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, sự giàu
có của một quốc gia phụ thuộc vào số lượng vàng và bạc mà quốc gia đó nắm
giữ. Để thu được nhiều vàng và bạc thì các quốc gia cần phải xuất khẩu nhiều
hơn nhập khẩu. Một quốc gia mà xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu thì đều nhận
được sự chi trả bằng vàng, bạc từ phần còn lại của thế giới. Chính vì vậy, các
nhà trọng thương đều ủng hộ việc điều tiết thương mại quốc tế theo hướng
khuyến khích xuất khẩu.
Học thuyết trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều
khiển kinh tế thông qua bảo hộ (Võ Thanh Thu, 2010). Những người theo chủ
nghĩa này kêu gọi sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế thông qua
việc áp dụng các hàng rào bảo hộ mậu dịch, miễn thuế nhập khẩu cho các loại
nguyên liệu phục vụ sản xuất, cấm bán ra nước ngoài sản phẩm thô, thực hiện
trợ cấp xuất khẩu. Theo các nhà trọng thương thì lao động là yếu tố cơ bản
7
của sản xuất. Chính vì vậy, để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường thì cần phải hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất.
Nhiều học giả cho rằng chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết lâu
đời, nhưng ảnh hưởng của chủ nghĩa này vẫn còn kéo dài cho đến nay, đặc
biệt là trong cách tranh cãi về chính trị và chính sách thương mại của nhiều
quốc gia. Một trong những l do nêu trên là quan điểm cho rằng thâm hụt cán
cân thương mại là không có lợi và nhập khẩu sẽ làm giảm việc làm trong
1.1.2. Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Adam Smith là một nhà kinh học cổ điển người Anh. Trong cuộc đời
của mình ông đã có nhiều tác phẩm về kinh tế. Năm 1776, trong tác phẩm “Sự
giàu có của quốc gia”, Adam Smith đã không nhất trí với quan điểm “thương
mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không” của các nhà trọng
thương. Ông bắt đầu bằng một sự thực đơn giản là để cho hai quốc gia thương
mại với nhau một cách tự nguyện thì cả hai quốc gia đều phải thu được lợi ích
từ thương mại. Nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia kia phải chịu thiệt thì
quốc gia chịu thiệt sẽ từ chối không tham gia vào thương mại quốc tế nữa.
Theo Adam Smith thì thương mại tự do sẽ giúp cho việc phân bổ và sử dụng
nguồn lực của thế giới có hiệu quả hơn, và từ đó tạo ra lợi ích cho từng nước
tham gia vào hoạt động buôn bán (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng,
2004). Cũng nhờ tác phẩm này mà ngày nay nhiều nơi suy tôn Adam Smith là
“cha đẻ của kinh tế học”.
Để chứng minh rằng thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các
quốc gia tham gia thương mại, Adam Smith đã xây dựng khái niệm lợi thế
tuyệt đối. Khái niệm này nói về khả năng của một quốc gia cần sử dụng
nguồn lực ít hơn so với các quốc gia khác để sản xuất ra một hàng hóa nào đó.
Theo Adam Smith, một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn so với các quốc gia
9
khác nếu quốc gia đó có khả năng sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn với
cùng một nguồn lực. Ông cho rằng thị trường sẽ điều tiết các hoạt động kinh
tế và đóng vai trò là một bàn tay vô hình phân bổ các nguồn lực. Giá đóng vai
trò là một nhân tố chủ chốt. Cụ thể là giá tăng lên khi có sự khan hiếm và
giảm xuống khi có sự dư thừa. Các tác nhân thị trường đảm bảo việc sản xuất
hàng hoá và dịch vụ hợp lý.
Chấp nhận quan điểm là sự khác biệt về chi phí sản xuất sẽ phi phối sự
di chuyển quốc tế về hàng hóa, Adam Smith đã tìm cách giải thích nguyên
nhân tại sao chi phí sản xuất tại các quốc gia lại khác nhau. Ông cho rằng hiệu
một quốc gia có lợi thế tuyệt đối đối với tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ thì
quốc gia đó sẽ sản xuất và xuất khẩu mọi thứ và không nhập khẩu thứ gì cả.
Nếu quốc gia này muốn xuất khẩu để thu ngoại tệ phục vụ cho việc nhập khẩu
thì lợi thế tuyệt đối sẽ không có giá trị nữa.
Chính vì vậy, năm 1817, nhà kinh tế học David Ricardo phát triển tư
tưởng “lợi thế so sánh” thành thuyết “lợi thế so sánh” hay còn gọi là quy luật
“lợi thế tương đối”. Theo nguyên tắc của lợi thế so sánh thì một quốc gia
được cho là có lợi thế so sánh về một hàng hoá hay dịch vụ nếu quốc gia đó
sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn so với quốc gia khác. Điều đó cũng có
nghĩa là bất kì quốc gia nào cũng có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế
dù quốc gia đó có hay không có các điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn hẳn các
quốc gia khác.
Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo là một trong những quy luật
quan trọng nhất, đặt cơ sở, nền móng cho mậu dịch quốc tế và được ứng dụng
rộng rãi nhất. Cho đến nay, bản chất của quy luật lợi thế so sánh của Ricardo
vẫn không thay đổi, nó đúng với bất kỳ một quốc gia nào. Theo quy luật này
thì thậm chí một quốc gia kém hiệu quả hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc
11
gia kia trong việc sản xuất cả hai hàng hoá thì cả hai quốc gia vẫn có thể thu
được lợi ích từ thương mại. Quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất
khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối ít hơn (hàng hoá có bất lợi thế so
sánh) và nhập khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối lớn hơn (hàng hoá
có bất lợi thế so sánh). Nói cách khác, một quốc gia sẽ có lợi hơn khi sản xuất
và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao
hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc
gia kia (Trần Văn Hòe và Nguyễn Văn Tuấn, 2007).
Ưu điểm của quy luật lợi thế so sánh là nó đi xa hơn lợi thế tuyệt đối
của Adam Smith ở chỗ chứng minh rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi
giao thương với nhau bất kể quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không. Tuy
phí cơ hội khác nhau. Để khắc phục hạn chế này, hai nhà kinh tế học người
Thụy Điển là Heckscher và Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh thông
qua việc xác định nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu
tố sản xuất. Lý thuyết của Heckscher~Ohlin dựa trên các giả định sau đây.
- Một là, thế giới chỉ có hai quốc gia, hai yếu tố sản xuất (vốn và lao
động) và hai loại hàng hoá.
- Hai là, hai quốc gia sử dụng cùng một công nghệ sản xuất hàng hoá
giống nhau và thị hiếu của các dân tộc là giống nhau.
- Ba là, các sản phẩm khác nhau cần các yếu tố sản xuất ở các tỷ lệ
khác nhau. Chẳng hạn, việc sản xuất gạo cần tỷ lệ lao động tương đối lớn hơn
trên mỗi đơn vị vốn, trong khi đó việc sản xuất ô tô cần nhiều vốn hơn trên
mỗi đơn vị lao động. Trong trường hợp này, gạo được gọi là mặt hàng thâm
dụng lao động, còn ô tô được gọi là mặt hàng thâm dụng vốn.
- Bốn là, các quốc gia khác nhau có các yếu tố sản xuất sẵn có khác
nhau. Một quốc gia được coi là dư thừa tương đối về vốn khi tỷ lệ vốn/lao
13
động của quốc gia này lớn hơn so với quốc gia kia. Ngược lại, một quốc gia
được cho là dư thừa tương đối về lao động khi tỷ lệ vốn/lao động của quốc gia
này nhỏ hơn so với quốc gia kia.
- Năm là, tỷ lệ đầu tư và sản lượng của hai loại hàng hoá trong hai
quốc gia là một hằng số. Cả hai quốc gia đều chuyên môn hoá sản xuất
không hoàn toàn.
- Sáu là, các yếu tố sản xuất di chuyển tự do trong phạm vi một quốc
gia nhưng không di chuyển giữa các nước.
- Bảy là, thương mại tự do, không có hàng rào thuế quan và phi thuế
quan, và chi phí vận chuyển bằng không.
Lý thuyết của Heckscher~Ohlin chứng minh rằng một nước sẽ thu được
lợi ích thông qua việc trao đổi hàng hoá. Quốc gia dư thừa tương đối về vốn
nên tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng thâm dụng vốn. Ngược
mặt hàng xuất khẩu phù hợp với lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn
có sẽ là điều kiện cần thiết để các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát
triển có thể nhanh chóng tham gia vào sự phân công lao động quốc tế và hợp
tác trong thương mại quốc tế.
1.1.5. Tự do hóa thương mại và lợi thế so sánh
Tự do hoá thương mại là việc giảm thiểu hoặc loại bỏ những hàng rào
mà các quốc gia xây dựng nên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho luồng hàng
hoá và dịch vụ di chuyển từ nước này sang nước khác trên cơ sở cạnh tranh
bình đẳng. Những hàng rào nói trên có thể là hàng rào thuế quan hoặc hàng rào
phi thuế quan (hạn ngạch, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, giấy phép xuất nhập
khẩu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá
v.v ). Các rào cản thương mại nói trên đều là những đối tượng của các hiệp
định mà WTO đang giám sát thực thi.
15
Tự do hoá thương mại dẫn đến những thay đổi đáng kể trong cơ cấu
kinh tế của các nước. Đặc biệt, việc giảm thiểu mức độ bảo hộ mậu dịch sẽ
tạo điều kiện cho các ngành có lợi thế so sánh phát triển một cách tương đối
và thu hẹp một cách tương đối của các ngành công nghiệp không có lợi thế so
sánh so với phần còn lại của thế giới. Điều này cho thấy rằng mức độ và bản
chất của sự chuyên môn hoá sẽ có tác động nhất định đến nền kinh tế thực
hiện tự do hoá bởi lẽ việc tái cơ cấu lại nền kinh tế sẽ làm dịch chuyển các
nguồn lực phục vụ cho sản xuất. Do đó, chi phí điều chỉnh liên quan đến sự
thay đổi về cấu trúc nền kinh tế có thể là khá lớn và các quốc gia cần phải
chuẩn bị kỹ lưỡng để giảm thiểu những tác động bất lợi của việc điều chỉnh
này. Hơn nữa, thay đổi cơ cấu chuyên môn hoá cũng có thể có tác động đáng
kể đến tăng trưởng kinh tế và phúc lợi. Mở cửa nền kinh tế cho phép chuyên
môn hoá cao hơn, nâng cao năng suất thông qua vừa làm vừa học, nhưng nó
cũng có thể kích thích chuyên môn hoá ở những ngành không cần nhiều tiến
bộ khoa học công nghệ, làm cho tăng trưởng chậm lại và giảm phúc lợi.
phục vụ nhu cầu trong nước. Các nền kinh tế này đều có xuất phát điểm thấp
hơn nhiều nước khác trên thế giới khi bước vào thời điểm bắt đầu thực hiện
công nghiệp hóa. Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đạt mức tăng trưởng kinh tế cao,
các nền kinh tế này đã trở thành những “con rồng châu Á”. Những thành tựu
mà họ đã đạt được là do họ đã xây dựng thành công một chiến lược công
nghiệp hoá, hiện đại hoá theo hướng mở cửa và hội nhập. Kinh nghiệm của
các nền kinh tế này có thể được tóm tắt như sau:
- Một là, những nền kinh tế này đã biết phát huy những lợi thế so sánh
của họ về các nguồn lực, đặc biệt là lao động. Song song với việc phát huy lợi
thế sẵn có của họ thì họ cũng không ngừng tạo ra các nguồn lực mới để phát
triển, đặc biệt là ngoại thương. Một số quốc gia tập trung tăng năng suất lao
17
động trong nông nghiệp để tích lũy vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa. Năng
suất lao động tăng sẽ giải phóng lao động nông nghiệp. Lực lượng lao động
này sẽ chuyển sang các ngành khác làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quá trình
này đã thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp sử dụng diện tích đất
canh tác lớn như gạo, đường. Sau đó, dần dần chuyển sang những sản phẩm
mới sử dụng nhiều lao động nhưng cần ít diện tích đất và có thể tận dụng
được những địa thế không thuận lợi cho nông nghiệp.
- Hai là, các nền kinh tế này tuân thủ các quy luật phát triển chung.
- Ba là, họ tập trung thu hút được nguồn vốn đầu tư của nước ngoài dồi
dào hơn, đồng thời tiếp nhận kỹ thuật hiện đại và phương pháp quản lý tiên
tiến của các nước công nghiệp phát triển.
- Bốn là, một vấn quan trọng cần chú đó là việc xây dựng khu vực kinh
tế quốc doanh để tạo cơ sở cho việc thực hiện quyền kiểm soát của Nhà nước đối
với nền kinh tế quốc dân. Kinh nghiệm các nước cho thấy cần phải tập trung vào
một số trọng điểm mang tính chiến lược thì mới có thể thực hiện tốt việc kiểm
soát của Nhà nước đối với nền kinh tế thông qua thành phần kinh tế quốc doanh.
Kinh nghiệm của Indonesia là cần chấn chỉnh, rà soát và giảm bớt các doanh