báo tuổi trẻ với thông tin phát triển kinh tế biển đảo những năm gần đây - Pdf 24

Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với đường bờ biền dài 3.260km, gồm nhiều đảo và quần đảo, có trữ lượng
lớn về hải sản, khoáng sản, dầu mỏ, có vị trí chiến lược về giao thông, quốc
phòng biển, đảo nước ta có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế. Đặc biệt,
thế kỷ XXI - Thế kỷ của biển và đại dương - Thế kỷ tiến ra biển của loài người
thì Đảng và Nhà nước càng coi trọng việc phát huy thế mạnh của biển, đảo để
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt, trong tình hình bất ổn hiện nay ở Biển Đông, vấn đề chủ quyền
biển, đảo càng quan trọng hơn bao giờ hết. Để bảo vệ chủ quyền lãnh hải,ngoài sự
kết hợp sức mạnh quốc phòng, sức mạnh đoàn kết toàn dân,…còn có sự đóng góp
rât lớn của kinh tế biển, đảo. Vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương lần 4, khóa X đã đề ra Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với quan
điểm: “Nước ta phải trở thành quốc gia giàu mạnh về biển, làm giàu từ biển”, “Tạo
ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn”, hướng tới
đạt mục tiêu kinh tế trên biển và ven biển đóng góp 53 – 55% GDP cả nước.
Với tư cách là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã
hội; là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của
nhân dân, báo chí có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội trong những
năm qua. Đặc biệt Tuổi trẻ, một tờ báo in có sự đóng góp rất lớn trong việc tuyên
truyền đường lối, từng chính sách mà Nhà nước đề ra trong việc phát triển kinh tế
biển đảo, cũng như phổ biến một cách tổng quan nhất về những vấn đề, những thực
trạng mà kinh tế biển đảo chưa đáp ứng được để góp phần vào việc xây dựng đất
nước vững mạnh. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm ra những thành công và hạn chế, từ
đó đề xuất giải pháp khắc phục nhược điểm phát huy thế mạnh thông tin phát triển
kinh tế biển đảo trên báo Tuổi trẻ là cấp thiết và cần thiết.
Vì những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu vấn đề: “Báo Tuổi Trẻ với
thông tin phát triển kinh tế biển đảo những năm gần đây”.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 1

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 2
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
Nâng cao chất lượng chương trình về biển, đảo trên sóng phát thanh của
Đài tiếng nói Việt Nam, Luận văn Thạc Sĩ Nguyễn Thị Hòa (Khoa Báo chí –
Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội, 2011, PGS.TS
Dương Xuân Sơn hướng dẫn). Luận văn nói về các chương trình phát thanh thông
tin, tuyên truyền về biển đảo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (Đài TNVIệT
NAM) cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng hơn nữa, góp phần vào việc đổi
mới và nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh Đài
TNVIệT NAM nói riêng và các đài phát thanh trên toàn quốc nói chung.
Sách nói về vấn đề này có thể kể đến như “Hỏi- đáp Những điều Ngư dân
cần biết trong hoạt động thuỷ sản” của Ban Tuyên giáo TƯ- Nhà xuất bản Thế
giới 2007; sách “Biển và hải đảo Việt Nam” do Trung tâm Thông tin công tác tư
tưởng phối hợp với Cục Chính trị Quân chủng Hải quân biên soạn năm 2007;
cuốn “Chiến lược biển Việt Nam từ quan điểm đến thực tiễn” của Ban Tuyên
giáo TƯ- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- 2010… cùng một số sách, báo tạp
chí nghiên cứu riêng lẻ các khía cạnh nhỏ trong công tác tuyên truyền về biển
đảo cho quân và dân ở các vùng biên giới hải đảo.
Nhìn chung các vấn đề được nói đến trong các luận văn đã khái quát được
phần nào tình hình phát triển cũng như là đổi mới trong vấn đề thông tin phát
triển kinh tế biển đảo. Nhưng số sách, báo tạp chí, nghiên cứu còn riêng lẻ, chỉ
đề cập đến các khía cạnh nhỏ trong công tác tuyên truyền về biển đảo cho quân
và dân ở các vùng biên giới hải đảo, chưa thực sự đi sâu vào khảo sát từng vấn
đề cụ thể của vấn đề biển đảo. Cách khai thác chưa có tính sâu rộng, đại chúng
khiến nó chỉ tồn tại trong một phạm vi nhỏ, hẹp dẫn đến khó tạo được chất
lượng truyền thông cao. Từ đó dẫn đến phạm vi và đối tượng tiếp nhận những
vấn đề trong những tài liệu này cũng có phần hạn chế.
Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách
cụ thể những giải pháp về việc đổi mới và nâng cao chất lượng các thông tin về

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các tin bài liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế biển đảo trên báo Tuổi
Trẻ những năm gần đây.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 4
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát những tin, bài liên quan đến đề tài phát triển kinh tế biển, đảo
đăng tải trên báo Tuổi Trẻ từ 1/2013 - 3/2014.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tối sử dụng những cơ sở lý
luận và phương pháp nghiên cứu như sau:
5.1. Cơ sở lý luận.
- Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
và Nhà nước về sự nghiệp thông tin báo chí.
- Sử dụng những kiến thức cơ bản về cơ sở lý luận báo chí – truyền thông.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Phân tích tài liệu thứ cấp như sách, tài liệu, bài viết… về kinh tế biển,
đảo. Việc phân tích này sẽ làm rõ lý luận về phát triển kinh tế, biển đảo.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu về số lượng, nội dung,
hình thức thông tin tuyên truyền phát triển kinh tế biển, đảo trên báo Tuổi Trẻ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Về lý luận:
- Công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu
sau liên quan đến đề tài.
- Củng cố lý luận chung về tác phẩm báo chí.
Về thực tiễn:
Cung cấp thực trạng thông tin phát triển kinh tế biển đảo trên báo Tuổi
Trẻ. Từ thực trạng giúp cơ quan báo Tuổi trẻ tham khảo, điều chỉnh và hoàn

chịu sự tác động của đất liền, không thể tách rời kinh tế biển với kinh tế đất liền.
Vì vậy khi xem xét kinh tế biển, cũng cần phải đề cập đến kinh tế vùng ven biển.
Theo từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên:
“1. Biển được quan niệm là một vùng nước mặn rộng lớn nói chung trên
bề mặt trái đất (nước biển, tàu biển, cá biển,…).
2. Phần của đại dương ở ven đại lục, ít nhiều bị ngăn ra bởi đất liền hoặc
bởi những đảo (Biển Đông)”.
Theo luật biển Việt Nam:
“Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam,
điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển
năm 1982”.
“Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng
đất này vẫn ở trên mặt nước.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 7
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng
nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau.
Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời
của lãnh thổ Việt Nam”.
Kinh tế biển, về mặt khái quát có thể hiểu bao gồm:
Thứ nhất, toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển như kinh tế hàng
hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), đánh bắt và nuôi trồng hải sản, khai thác
dầu khí ngoài khơi, du lịch biển, làm muối, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn
trên biển, kinh tế đảo…
Thứ hai, nó bao gồm cả các hoạt động trực tiếp liên quan đến khai thác
biển, mặc dù không hoàn toàn diễn ra trên biển nhưng hoạt động kinh tế này lại

trở lên thì các lĩnh vực kinh tế liên quan đến biển và kinh tế ven biển phải được
coi trọng và đóng vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế.
Theo các chuyên gia, vùng biển Việt Nam được biết đến như một khu vực
giàu tài nguyên thiên nhiên, cứ 100 km2 đất liền là có một km bờ biển. Đây là chỉ
số lãnh thổ quan trọng cho phát triển cảng và hàng hải, cũng như các khu kinh tế
hướng biển. Trong đó kinh tế hàng hải và các dịch vụ đi kèm đã trở thành một
ngành mũi nhọn được ưu tiên phát triển trong chiến lược biển đến năm 2020.
Các chuyên gia cho rằng, tài nguyên biển, đảo Việt Nam nếu có được
chiến lược tiếp thị thương hiệu đúng đắn sẽ tạo ra một nguồn lực kinh tế vô cùng
to lớn. “Chỉ có nâng cao được các giá trị thương hiệu đối với sản phẩm, dịch vụ
từ biển, thì mới có thể hạch toán được đầy đủ, toàn diện giá trị tài nguyên biển
để phát triển bền vững đất nước”, Tổng cục trưởng Biển và hải đảo Việt Nam
Nguyễn Văn Cư nêu quan điểm.
"Xây dựng, phát triển thương hiệu biển Việt Nam trong các lĩnh vực và
vùng địa lý, trong đó có cảng nước sâu và khu kinh tế ven biển theo hướng kinh
tế xanh là hướng đi đúng, giải pháp trước mắt và lâu dài để giải quyết vấn đề",
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Xuân Huế khẳng định.
Với hơn 3.200 km bờ biển, Việt Nam có một tiềm năng về cảng biển hết
sức to lớn. Hệ thống cảng biển bao gồm trên 80 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 9
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà
Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ.
Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn, áp dụng các công
nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức. Do vậy, việc xây dựng
các cảng nước sâu với trang thiết bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiên
tiến là yêu cầu bức bách hiện nay.
Ngành Dầu khí ngày nay đã trở thành một trong những ngành chủ lực của
Việt Nam, là ngành xuất khẩu hàng đầu của đất nước (hơn ba tỷ USD hàng

vùng biển nước ta khoảng 3 triệu tấn/năm.
- Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn
có dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú.
- Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc,
ti tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm.
Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m
2
.
- Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km
2
trong đó có
500.000km
2
nằm trong vùng triển vọng có dầu khí. Trữ lượng dầu khí ngoài
khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáy biển Đông.
Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu
tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ
tấn quy dầu. Ngoài dầu Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn
tỷ m
3
/năm.
- Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất
nước, với 3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh… rất thuận liện cho giao thông,
đánh bắt, hải sản. Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình
Dương sang Đại Tây Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế
dịch vụ trên biển (đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu trợ, thông tin dẫn dắt ).
- Du lịch: Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên
đẹp, là tiềm năng du lịch lớn của nước ta.
+ Quốc phòng, an ninh:
- Biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ

Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)
+ Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.
- Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 12
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta.
* Vịnh Bắc Bộ
- Nằm ở Tây Bắc Biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và
Trung Quốc.
- Diện tích khoảng 126.250km
2
, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310
km và nơi hẹp nhất khoảng 220km.
- Là vịnh nông, nơi sâu nhất khoảng l00m.
Thềm lục địa Việt Nam khá rộng, độ dốc thoải và có một lòng máng sâu
trên 70m gần đảo Hải Nam của Trung Quốc.
- Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ, đảo Bạch Long
Vĩ diện tích 2,5km
2
cách đất liền Việt Nam 110km, cách đảo Hải Nam của Trung
Quốc 130km. Có nhiều nguồn lợi hải sản và tiềm năng dầu khí (trữ lượng cá của
Việt Nam khoảng 44 vạn tấn).
* Vịnh Thái Lan
- Nằm ở Tây Nam biển Đông, được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam,
Campuchia, Thái Lan, Malaixia.
- Diện tích khoảng 293.000km
2
, chu vi khoảng 2.300km.

hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng
GDP cả nước), song trong tương lai sẽ có mức gia tăng nhanh hơn.
Việt Nam hiện có 15 khu kinh tế biển, ven biển trên cả nước. Đánh giá
hiệu quả các khu kinh tế biển, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Xuân
Huế lấy khu kinh tế ven biển Dung Quất làm ví dụ. Theo đó, thực tiễn phát triển
khu kinh tế ven biển Dung Quất đã cho thấy hiệu ứng lan tỏa của vùng đối với
toàn bộ kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Giai đoạn năm 2006-2009, khu kinh tế Dung Quất đã góp gần 50% tổng thu
ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, đưa Quảng Ngãi từ một tỉnh có nguồn thu
ngân sách thấp gia nhập "Câu lạc bộ 1.000 tỷ đồng" vào năm 2006, rồi lên 4.000 tỷ
đồng vào năm 2009. Dự kiến năm 2010 này Quảng Ngãi gia nhập “Câu lạc bộ
14.000 tỷ đồng” thu ngân sách, thuộc top 10 tỉnh có nguồn thu cao của cả nước.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 14
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
Còn với cảng biển, khối lượng hàng hoá thông qua cảng biển Việt Nam
tăng nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng bình quân là 17%/năm. Các cảng lớn như
Hải Phòng, Sài Gòn đạt một mức kỷ lục. Nhưng, nhìn chung các cảng biển vẫn
đang ở trong tình trạng kém hiệu quả, thiếu sức cạnh tranh bởi các lý do: quy mô
cảng nhỏ bé, thiết bị xếp dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container,
những cảng tổng hợp quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng (30
km), Sài Gòn (90km) luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho phép các tàu lớn
ra vào cảng, mặt bằng chật hẹp, thiếu hệ thống đường bộ, đường sắt nối vào
mạng lưới giao thông quốc gia.
Ngành thuỷ sản (chủ yếu là hải sản) trong những năm gần đây đã có tốc
độ tăng trưởng nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu sản xuất nông
nghiệp nước ta. Năm 2002, giá trị sản xuất ngành thủy sản chiếm 17,76% tổng
giá trị sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt ngành thuỷ sản có giá trị xuất khẩu cao,
ước đạt 2.024 triệu USD năm 2002, đứng thứ 3 về xuất khẩu của cả nước sau
dầu thô và dệt may. Năm 2002, ngành thuỷ sản đã đánh bắt và trồng được 2,57

về khai thác và phát triển kinh tế biển;
6. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển
Như vậy, khi đề ra các ngành này Nhà nước đã có những hướng đi cụ thể
cho kinh tế biển đảo và thông qua đó đem lại hiệu quả cao nhất cho nền kinh tế
đất nước.
Với việc phê chuẩn công ước luật biển 1982, Việt Nam quyết tâm cùng
cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý, khuyến khích hợp tác và phát
triển trên biển . Ngày 2/8/1977, hội thảo khoa học về biển lần thứ nhất được tổ
chức tại Nha Trang đã nêu rõ phương hướng phát triển khoa học kỹ thuật kinh tế
biển đảo. Trong những năm 90 của thế kỷ XX, Việt Nam có một số nghị quyết
phát triển kinh tế biển, đặc biệt quan trọng nhất là Nghị quyết số 3- NQ/TW,
ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển đi
đôi với tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia”- trong đó nhấn mạnh
nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên , môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một
quốc gia mạnh và giàu lên từ biển, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần 4, khóa X đã đề ra
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 16
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với quan điểm: “ Nước ta phải trở
thành quốc gia giàu mạnh về biển, làm giàu từ biển”, “Tạo ra tốc độ phát triển
nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn”, hướng tới đạt mục tiêu
kinh tế trên biển và ven biển đóng góp 53 – 55% GDP cả nước.
Như vậy, phát triển kinh tế biển đã được đặt trong tổng thể phát triển kinh
tế của đất nước, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới.
1.3.4. Thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế biển đảo hiện nay
Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình
quân đạt khoảng 47- 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt
khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của
các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải

cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt
trình độ quốc tế. Khai thác hải sản và nuôi thuỷ sản nước lợ vốn là lĩnh vực kinh
tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng hơn 3 tỷ USD trong tổng giá trị thuỷ
sản xuất khẩu (năm 2008) và tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trực
tiếp, nuôi thuỷ sản và 50 vạn lao động dịch vụ liên quan.
Đối với các lĩnh vực kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản
phẩm dầu, khí; chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối
biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm
cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế,
nghiên cứu khoa học-công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên, ) hiện chủ yếu
mới ở mức đang bắt đầu xây dựng, hình thành và quy mô còn nhỏ bé.
Khu vực Biển Đông đang có tranh chấp gay gắt, nên việc hợp tác và hội
nhập quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này còn gặp không ít khó khăn.
Việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, những vi phạm trong quá
trình sử dụng, khai thác tài nguyên biển chưa có các quy định cụ thể mang tính
pháp quy như trong quản lý sử dụng đất trên đất liền và còn nhiều bất cập. Việc
tranh chấp về chủ quyền biển đảu trên Biên Đông hiện đang là một vấn đề chính
trị thời sự nóng đối với nước ta. Đi liền với vấn đề chủ quyền thì việc phát triển
kinh tế biển đảo cũng gặp không ít trở ngại, bởi đất nước không ổn định về
chính trị thì hẳn nhiên nó sẽ khó phát triển, ổn định về kinh tế.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 18
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
Ngoài ra, nước ta là một trong 5 nước chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến
đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển, trước hết là vùng ven biển và các đảo
nhỏ. Các hệ sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ của chúng, người dân ven biển
và trên các đảo là những đối tượng dễ bị tổn thương và bị tác động mạnh mẽ
nhất, nhưng đến nay còn thiếu những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, cũng như
chưa có giải pháp lồng ghép và mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu và dâng
cao mực nước biển. Vùng Biển Đông nói chung và biển Việt Nam nói riêng là

tăngđến 250.000 tờ vào cuối năm đó.
Đến ngày 1 tháng 9 năm 2000, số thứ Sáu được phát hành. Sau đó, 2 số
thứ Tư và thứ Hai lần lượt được xuất bản vào các ngày 23 tháng 1 và 7 tháng 10
năm 2002. Báo Tuổi Trẻ Online ra mắt chính thức ngày 1-12-2003. Chưa đầy 2
năm sau Tuổi Trẻ đã vươn lên vị trí thứ ba về số lượt truy cập trong bảng xếp
hạng tất cả các website tiếng Việt trên thế giới.
Từ ngày 2-4-2006, Tuổi trẻ chính thức trở thành một tờ nhật báo khi được
phép ra thêm 1 kỳ vào ngày Chủ Nhật. cùng lúc đó, tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật
đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối Tuần (hiện phát hành 60.000 bản/kỳ).
Ngày 3-8-2008, truyền hình Tuổi Trẻ (TVO) được thành lập, sản xuất
những chương trình truyền hình phát trên Tuổi Trẻ Online và hợp tác phát sóng
với các kênh truyền hình trong nước.
Từ ngày 1-11-2009, Tuổi Trẻ Chủ Nhật ra ấn bản 4 màu (in màu toàn bộ
20 trang) phát hành lần đầu tiên tại Việt Nam.
Ngày 18-6-2010, Tuổi trẻ News được thành lập và ngay sau đó là Tuổi trẻ
Mobile vào tháng 9-2010.
Nhiều thế hệ phóng viên của Tuổi Trẻ đã tạo dấu ấn trên mặt báo và được
bạn đọc Việt Nam yêu thích. Có thể kể đến các tác giả như Hàng Chức Nguyên
(chuyên mục ký sự pháp đình), Cù Mai Công (phóng sự Saigon by night), Binh
Nguyên (ký sự đường xa), Hoài Lê (thể thao), Cam Ly (quốc tế- đã định cư tại
Mỹ), …
Cơ chế của báo cũng như làng báo Việt Nam, khá trì trệ và đã không bắt
mạch được với những tiến bộ của môi trường làm việc xung quanh. Dù là ờ báo
thuộc loại tiên tiến và có tiềm lực mạnh nhất làng báo Việt Nam, báo Tuổi trẻ
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 20
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
vẫn bị “chảy máu chất xám” nặng nề. Các nhân lực nòng cốt, các cây bút chủ
chốt của Tuổi Trẻ đã lần lượt ra đi.
Tuổi trẻ được xem như một “lò” đào tạo số một bởi một số phóng viên,

Đến nay báo Tuổi Trẻ đã qua 4 đời Tổng biên tập. Người hiện giữ chức
Tổng biên tập của Tuổi trẻ là nhà báo Phạm Đức Hải.
Về vấn đề thông tin và phát triển kinh tế biển đảo, báo Tuổi Trẻ là một
trong nhiều tờ báo đi đầu trong công tác tuyên truyền cũng như cung cấp thông
tin đầy đủ, kịp thời về mọi thông tin về biển đảo, cũng như là thông báo, tuyên
truyền về những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước đến mọi người
dân trên các miền tổ quốc.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 22
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM THÔNG TIN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BIỂN ĐẢO TRÊN BÁO TUỔI TRẺ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1. Thống kê, phân loại tin, bài về phát triển kinh tế biển đảo trên
báo Tuổi Trẻ
2.1.1. Phân loại theo thể loại
Về thể loại:
Về định nghĩa thể loại, PGS.TS Đinh Văn Hường định nghĩa thể loại như
sau: thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định
của các nhà báo, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng các
công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị, tư tưởng nhất định.
Giáo trình nghiệp vụ báo chí (1997) chỉ ra đặc điểm của văn bản các thể
loại: tin, tường thuật, ký (người tốt việc tốt), phóng sự, điều tra, ghi nhanh
nhưng không trình bày quan điểm về cách phân chia thể loại.
Nhà báo Đức Dũng chia các văn bản báo chí thành 3 nhóm:
- Nhóm thông tấn báo chí: tin, điều tra, tường thuật…
- Nhóm chính luận báo chí: bình luận, xã luận, chuyên luận…
- Nhóm ký báo chí: phóng sự, ghi nhanh, ký chân dung…
PGS. TS Dương Xuân Sơn đã phân chia thể loại thành 3 loại:
- Báo chí thông tấn: tin, phỏng vấn, tường thuật, điểm báo.
- Báo chính luận: xã luận, bình luận, chuyên luận, bài phê bình.

6 2 3 0 1 1 1
7 0 0 0 0 0 0
8 2 0 0 0 2 0
9 5 2 1 0 2 0
10 1 0 1 1 2 0
11 2 3 4 0 2 0
12 1 1 0 0 0 0
NĂM 2014
1 2 1 0 0 2 0
2 9 1 2 1 4 0
3 3 1 1 0 2 0
2.1.2. Phân loại theo nội dung
Có các nội dung như là:
- Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của
biển đảo Việt Nam đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc với 3 tin, 2 phản ánh, 1 phóng sự.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Mai 24
Niên luận
GVHD: Hồ Dũng
- Cung cấp thông tin về vấn đề chủ quyền lãnh hải, khẳng định quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp, giáo dục cho toàn dân
nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Thông qua
đó nhằm thúc đẩy kinh tế biển đảo phát triển với 4 tin, 1 tin vắn, 2 phản ánh, 1
phóng sự, 2 bình luận.
- Tuyên truyền, giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển đảo của
Tổ quốc với 14 tin, 6 tin vắn, 4 phản ánh, 5 phóng sự.
- Những khó khăn trong việc phát triển kinh tế biển đảo với 1 tin vắn, 7
phản ánh, 4 phóng sự.
- Tuyên truyền định hướng về điều tra tài nguyên biển, môi trường biển;
phát triển khoa học công nghệ biển, công tác hỗ trợ tài chính, vật chất, dự báo,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status