công tác xã hội với người có công với cách mạng tại xã xuân thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an - Pdf 24

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LỊCH SỬ
000
PHAN THỊ TUYẾT
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TẠI XÃ XUÂN THÀNH,
HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA 34 (2010 – 2014)
Cán bộ hướng dẫn:
ThS. PHẠM TIẾN SỸ
HUẾ, 05/2014
Báo cáo tốt nghiệp
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành tốt bài báo cáo tốt nghiệp cũng như
chuyến thực tập lần này, tôi xin chân thành cảm ơn quý
thầy cô trong Khoa Lịch Sử của Trường Đại Học Khoa Học
Huế đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt kiến
thức lý thuyết và kỹ năng chuyên môn cho sinh viên trong
suốt thời gian qua.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Phạm Tiến
Sỹ đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm
của mình để giúp tôi hoàn thành tốt bài báo cáo tốt nghiệp
này.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn chính
quyền và nhân dân xã Xuân Thành đã nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian của chuyến thực tế.
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên bài
báo cáo báo cáo tốt nghiệp này không tránh khỏi những

không thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh, nhất là những người lính đã trực
tiếp ra chiến trường và những người giúp đỡ cách mạng mà hiện tại đang phải gánh
chịu những nỗi đau cả về thể xác lẫn tâm hồn do chiến tranh để lại. “Ăn quả nhớ kẻ
trồng cây” là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và để phát huy truyền thống
ấy, mỗi người trong chúng ta có một lúc nào đó trong cuộc sống đã tự hỏi: Chúng ta
phải làm gì để bù đắp và thể hiện lòng biết ơn đối với những NCCVCM – những
người mà sức khỏe và điều kiện sống của họ chắc chắn còn gặp nhiều khó khăn về
vật chất và tinh thần.
CTXH với người có công là một trong những chính sách được Đảng và Nhà
nước ta rất chú trọng. Những chính sách cho NCCVCM như: chính sách bảo hiểm y
tế, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi về kinh tế, chính sách trợ cấp đã
được ban hành và thực hiện. Hơn nữa, được sự chung tay góp sức của toàn cộng đồng,
những chính sách này trong nhiều năm qua đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ.
Tuy nhiên, công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho
NCCVCM vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Chúng ta vẫn thiếu các nguồn lực để có thể
thực hiện một cách tốt nhất công việc này. Việt Nam là một nước nghèo. Thêm vào đó,
những năm qua do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, của thiên tai hạn hán,
lũ lụt thường xuyên nên điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước càng gặp
nhiều khó khăn. Vì thế, công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, đặc biệt hoạt động CTXH đối
với NCCVCM vẫn chưa có điều kiện quan tâm, đầu tư đúng mức.
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 1
Báo cáo tốt nghiệp
Như chúng ta đã biết, quan tâm chăm sóc NCCVCM có vai trò vô cùng quan
trọng đối với mỗi người. Đối với những NCCVCM, nhất là những thương, bệnh binh
vấn đề này càng cấp thiết và cần quan tâm nhiều hơn hết.
Trên thực tế, nhu cầu được hưởng các chính sách xã hội cũng là nhu cầu phổ
biến.
Những nhu cầu, nguyện vọng của NCCVCM nếu không được giải quyết tốt,
trước hết sẽ trực tiếp tác động xấu đến sức khỏe và cuộc sống của những
NCCVCM, sau đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của gia đình họ

năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung, theo nghị quyết số 51/2001/QH 10 ngày
25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10.
Pháp lệnh này sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có
công với cách mạng đã được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày
29/5/2005. Đó là điều 9 và 10 với những điểm mới so với pháp lệnh cũ, đã tạo
thuận lợi cho việc cải thiện, ổn định đời sống người có công về vật chất lẫn tinh
thần, theo sự phát triển của kinh tế đất nước.
Đi đôi với đó là những nghiên cứu, những bài viết về công tác chăm sóc
những người có công với cách mạng đã được những nhà nghiên cứu và độc giả hết
sức quan tâm, với một sự biết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những người
thương binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng, lão thành cách mạng…có chất lượng cuộc
sống ngày càng cao hơn, những phẩm chất anh hùng, yêu nước được truyền lại cho
thế hệ trẻ hôm nay. Ta có thể bắt gặp những đề tài như: “Ưu đãi người có công với
cách mạng một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước” của Nguyễn Thị Hằng –
nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.
“ Cần thực hiện đúng chính sách người có công với cách mạng” – báo điện
tử Đảng cộng sản Việt Nam, “Nâng cao mức sống của người có công với cách
mạng” của Vũ Hồng Khánh, “Trợ cấp cho người có công với cách mạng” của báo
Dân Trí, “Đền ơn đáp nghĩa là trách nhiệm của mỗi chúng ta” của Trần Thị Dung…
Do vậy, khóa luận tốt nghiệp với đề tài nghiên cứu “ Công tác xã hội với người
có công với cách mạng” không phải là một vấn đề mới trong thực tiễn hoạt động cũng
như trong khoa học nghiên cứu. Thế nhưng cái mới của vấn đề này là nghiên cứu
trong một phạm vi không lớn, điều này thấy rõ hơn thực tế cuộc sống người có công ở
địa bàn cũng như những nhu cầu cần thiết của họ. Thông qua bài khóa luận này tôi thấy
rằng chăm sóc người có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của Đảng và
Nhà nước mà đó là trách nhiệm của toàn thể người dân chúng ta
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chính của đề tài là tìm hiểu các chính sách xã hội của Đảng và Nhà
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 3

;chứng giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại,
trong sự vận động và biến đổi không ngừng. Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự mở
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 4
Báo cáo tốt nghiệp
rộng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu cuộc
sống xã hội, sự áp dụng những nguyên lý ấy vào việc nghiên cứu xã hội cũng như
nghiên cứu các hình thức sinh hoạt xã hội ”(nguồn: theo chủ nghĩa Mác - lenin, tư
tưởng Hồ Chí Minh)
Chính vì vậy khi nhìn nhận, đánh giá về việc thực hiện các chính sách xã hội
đối với người có công với cách mạng chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ
với các quá trình xã hội khác, phải tìm ra và phân tích được nguyên nhân, yếu tố
kinh tế - xã hội tác động đến vấn đề đó.
5.2. Phương pháp quan sát
Nhân Viên công tác xã hội vận dụng những kỉ năng vốn có của mình đặc biệt
là quan sát sử dụng đôi mắt tinh tường của mình để thu thập thông tin sao cho chính
xác đúng vấn đề đúng đối tượng.
Bất kỳ một vấn đề nào, dù ở đâu trong hoàn cảnh nào, dù chúng ta có số liệu
đầy đủ hay không đầy đủ, những thông tin mà chúng ta có được chưa hẳn đã đầy
đủ. Vì vậy xâm nhập vào thực tế cộng đồng có thể mang lại cho ta nhiều thông tin
tốt hơn, đồng thời thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
5.3. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này thực hiện trên cơ sở phân tích các tài liệu, các báo cáo tổng
hợp kết quả công tác thực hiện chính sách cho người có công với cách mạng ở xã
Xuân Thành trong những năm gần đây nhằm so sánh với các năm khác để biết được
đời sống của người có công tăng hay giảm.
Đọc và phân tích một số tạp chí, tài liệu và mạng Internet liên quan đến các
chính sách, chế độ, trợ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Nhằm phổ
biến các chính sách ưu đãi mới đến các đối tượng.
5.4. Phương pháp vãng gia
Vãng gia hay còn gọi là thăm hộ gia đình là một phương pháp khá hiệu quả

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Mỗi một nghiên cứu khoa học ngoài những đóng góp lí luận cho một khoa học
nó còn là cầu nối giữa lí thuyết và thực hành, đóng góp cho thực tiễn cuộc sống những
ý nghĩa nhất định. Tiến hành đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu đã hướng đến
thực tế cuộc sống của NCCVCM hiện nay. Từ đó, đưa ra những biện pháp can thiệp
CTXH cụ thể, mạnh dạn kiến nghị với các cấp chính quyền nhằm đưa ra các chính
sách phù hợp và hiệu quả, cho NCCVCM hiện nay.
Đề tài sẽ đảm bảo được sự công bằng xã hội cho những NCCVCM. Đó cũng là
mục tiêu lớn nhất mà đề tài hướng đến.
7. Bố cục đề tài
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 6
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài ngoài lời nói đầu, cảm ơn, kết luận, kiến nghị, mục lục, tài liệu tham
khảo, phần phụ lục, nội dung chính được chia làm 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và một số khái niệm, lý thuyết
liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng người có công với cách mạng tại xã Xuân Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Công tác xã hội với người có công với cách mạng tại xã Xuân
Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 7
Báo cáo tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC
KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1. 1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.2. Vị trí địa lí

C ( tháng 4-10 hàng năm)
+ Nhiệt độ tối thấp: 5
0
C (tháng 11-2 năm sau)
Nắng:
+ Số giờ nắng trung bình trong ngày: 5.9 giờ.
+Độ ẩm :
Trung bình hằng năm: 85%
Thấp nhất: 84%
Cao nhất: 86%
+ Lượng mưa: Phân bố không đều tập trung các tháng 8,9,10 hằng năm
trung bình hằng năm: 2000mm
+Bão: Xuân Thành cũng như huyện Yên Thành hằng năm có nhiều trận bão đổ
bộ vào đất liền kéo theo mưa làm thiệt hại cho nhà cửa, mùa màng gây ngập úng trên
diện rộng
Bức xạ: Tổng lượng bức xạ trong năm: 122,72 kcal/cm2.
Nhìn chung, thời tiết khí hậu của xã Xuân Thành tương đối ôn hoà, điều kiện
nhiệt lượng, ánh sáng dồi dào, tuy nhiên thường có lũ ở các sông suối. Ở xã Xuân
Thành có độ che phủ lớn nên lượng bốc hơi thấp. Độ ẩm cao so với các vùng khác
trong tỉnh, thường có mưa vào buổi chiều. Do điều kiện khí hậu như trên nên thích hợp
cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi phát triển nhưng đồng thời cũng là môi trường dễ
phát sinh sâu bệnh, gây hại cho sản xuất.
1.1.1.5. Thuỷ văn
Xã Xuân Thành có nguồn nước, mặt nước chủ yếu là nguồn nước sông đào đi
qua trên địa bàn vơí hồ đập đầm.
Nguồn tưới lấy từ 2 nguồn chính: nguồn nước sông đào chảy từ Đô Lương,
nguồn nước từ hồ đập đầm trong địa bàn xã và 1 trạm bơm có 2 máy tưới tiêu trong xã
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 9
Báo cáo tốt nghiệp
1.1.1.6. Các tài nguyên khác :

thải, rác thải của các khu dân cư, đặc biệt là chất thải từ bệnh viện, cơ sở y tế, các nhà
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 10
Báo cáo tốt nghiệp
máy thải ra rồi ngấm xuống làm biến đổi chất lượng nước dưới đất.
Ngoài một lượng rác thải đã được thu gom đúng nơi quy định (chủ yếu tập
trung ở vùng trung tâm) thì phần lớn lượng rác thải còn lại người dân tuỳ tiện đổ trong
khu vực đất vườn, một số ít thải ra ven bờ sông, đường giao thông, đồng ruộng, chưa
đảm bảo môi trường.
* Canh tác nông nghiệp:
Trong quá trình sản xuất, người dân sử dụng một lượng lớn phân bón hoá học,
phân hữu cơ và các loại hoá chất bảo vệ thực vật để tăng năng suất và bảo vệ cây trồng.
Việc sử dụng và quản lý thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học phục vụ sản xuất
nông nghiệp không đúng quy trình, tình trạng lạm dụng phân bón hoá học và thuốc bảo
vệ thực vật vẫn còn diễn ra phổ biến, là nguy cơ làm biến đổi chất lượng nước dưới đất
và môi trường xung quanh.
* Khai thác nước dưới đất:
Quá trình khai thác nước dưới đất chỉ diễn ra trong phạm vi hộ gia đình, dưới
hình thức đào giếng khơi, giếng khoan lấy nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất.
* Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Các cơ sở sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa được đầu tư, phương tiện sản
xuất còn lạc hậu, chất thải không được xử lý triệt để khi thải ra môi trường đã gây ảnh
hưởng đến chất lượng nước, không khí, và sức khoẻ của nhân dân trong vùng.
* `Nghĩa trang, nghĩa địa:
Một thực tế là từ trước đến nay là nghĩa trang nằm sát khu dân cư, gây ô nhiễm
đến nguồn nước, môi trường không khí, cảnh quan môi trường và sức khỏe của người
dân trong khu vực.
Nhìn chung hiện trạng môi trường của xã còn đảm bảo. Trong xu thế phát triển,
đòi hỏi phải có chính sách, biện pháp cụ thể để kiểm soát và xử lý kịp thời tình trạng ô
nhiễm môi trường, đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã mang tính
bền vững.

bệnh cho gia súc, gia cầm được thực hiện thường xuyên; việc kiểm dịch lưu thông gia
súc, gia cầm ngày càng được tăng cường nên trong năm 2010 không có dịch bệnh lớn
xẩy ra trên địa bàn.
1.1.2.3.Khu vực kinh tế Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Nhìn chung công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã phát triển khá
mạnh và kinh doanh có hiệu quả, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 16-
18%. Bằng nhiều nguồn vốn, các nhà hàng, nhà nghỉ, các hộ kinh doanh đã đầu tư
nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm thêm nhiều trang thiết bị cải tiến phương tiện vận tải
hành khách với mẫu mã đẹp; nâng cao tay nghề của thợ chụp ảnh nhằm đáp ứng nhu
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 12
Báo cáo tốt nghiệp
cầu ngày càng cao của du khách. Giá trị thu nhập của ngành dịch vụ thương mại đạt giá
trị 37,5 tỷ đồng chiếm 41%. Đây được coi là ngành kinh tế mũi nhọn mang tính đột phá
để Xuân Thành vươn lên trong tốp đầu về phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà.
1.1.2.4.Dịch vụ
Hoạt động thương mại dịch vụ trên toàn xã chủ yếu tự do kinh doanh tại chợ và
tại gia. Tổng số lao động thương mại dịch vụ là 323 người
1.1.3. Điều kiện xã hội
Xuân Thành được nhà nước đầu tư khá nhiều để phát triển kinh tế xã hội, các
chương trình phát triển Quốc gia, chương trình 135 của Chính phủ, các chương trình hổ
trợ thường niên được sự quan tâm của nhà, xã Xuân Thành phát triển về mọi mặt.Các
lĩnh vực văn hóa, xã hội được ưu tiên phát triển, nhất là về giáo dục, y tế.
* Về văn hóa, xã hội:
Văn hoá xã hội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Xã cũng đã tổ chức
tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt nếp sống văn hóa, văn minh, chống
lãng phí. 100% làng bản, khối phố thực hiện tốt nếp sống văn minh trong các ngày lễ
hội, cưới hỏi, ma chay Nhờ vận động tốt nên người dân rất hào hứng với các phong
trào văn hóa như thể dục thể thao, văn nghệ quần chúng. Điều đó chứng tỏ một đời
sống tinh thần phong phú của người dân trên địa bàn.
* Về Giáo dục và Đào tạo:

* Văn hóa thể thao
Phong trào xây dựng xã văn hóa, thôn văn hóa, gia đình văn hóa, phong trào xây
dựng đời sống văn hóa được xã chú trọng, các hoạt động khơi dậy truyền thống quê
hương, duy trì văn hóa, thể thao trên toàn xã.Mỗi thôn đều có đội bóng đá, bống
chuyền, đội văn nghệ phục vụ cho các dịp lễ tết Nguyên đán,mừng đảng, mừng
xuân,chào mừng đại hội đảng các cấp.
1.1.4. Dân cư và nguồn dân cư
* Dân số:
Theo số liệu của tổng điều tra dân số và nhà ở 6 tháng đầu năm 2013, toàn xã có
8264 người, trong đó:
- Nam 4175 người.
- Nữ 4089 người.
Tổng số hộ trong toàn xã là 2.314 hộ, quy mô bình quân mỗi hộ có 4,5 người.
Mật độ dân số trung bình là 104,3 người/km
2
. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình
trong những năm qua luôn được coi trọng, nhờ tuyên truyền vận động nhân dân thực
hiện các chính sách về dân số và đã đạt được những kết quả khả quan.
Qua phân tích số liệu các năm trước, dân số xã Xuân Thành hàng năm bình
quân tăng khoảng 167 người, tương ứng với 42 hộ.
* Lao động:
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 14
Báo cáo tốt nghiệp
Theo thống kê, đến nay trên toàn xã có 3521 người trong độ tuổi lao động,
Như vậy, xã có nguồn nhân lực rất dồi dào, dân cư tập trung đông đúc quanh
các khu trung tâm, các trục đường giao thông chính nên rất thuận lợi cho việc phát triển
giao thương, vận chuyển hàng hoá.
Công tác đào tạo nghề nghiệp và giới thiệu việc làm đã được quan tâm. Thông
tin giới thiệu tìm việc làm, cơ cấu lao động từng bước chuyển dịch theo hướng tích
cực. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao.

( Nguồn: google.com)
Tóm lại Người có công với cách mạng là những người đã đóng góp công lao
hoặc hy sinh tính mạng, hy sinh một phần thân thể trong thời kỳ cách mạng tháng 8
năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
1.2.2. Người có công với cách mạng
Cho đến nay, hầu như chưa có một định nghĩa cụ thể về NCCVCM. Theo Pháp
lệnh ưu đãi dành cho NCCVCM, ban hành theo pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11
của ủy ban thường vụ quốc hội đối với “Người có công cách mạng" là những người:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng
khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945.
Liệt sĩ.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động.
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.
Bệnh binh.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học.
Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa
vụ quốc tế.
Người có công giúp đỡ cách mạng.
Thân nhân của những NCCVCM.
Trong đó được khái niệm một cách rõ ràng về từng loại đối tượng cụ thể:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng
trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 16
Báo cáo tốt nghiệp

thương binh loại 4 (từ 21% - 40% ).
Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân,
công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thuộc
một trong các trường hợp tại Điều 19 (quy định về thương binh) được cơ quan có
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 17
Báo cáo tốt nghiệp
thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh".
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được gọi chung là
thương binh.
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng
lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm
quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn từ 3 năm trở lên; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ 3 năm nhưng đã có đủ 10 năm trở lên công tác
trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; đã công tác trong Quân đội nhân dân,
Công an nhân dân đủ 10 năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; làm
nghĩa vụ quốc tế; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc
phòng, an ninh.
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng
lao động từ 41% đến 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước
ngày 31 tháng 12 năm 1994.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được cơ
quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu
tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học, bị mắc bệnh làm suy
giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất
độc hoá học.
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời
gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm

các hệ thống xã hội và nhân viên CTXH cần nắm vững các hệ thống, cũng như cách
thức hoạt động của các hệ thống để cung ứng dịch vụ xã hội cho thân chủ của mình.
1.3.4. Lý thuyết vai trò
Mỗi người chúng ta đều có những vai trò khác nhau mà chúng ta đảm nhận
trong cuộc sống. Mỗi cá nhân khi đảm nhiệm vai trò đều mong đợi về vai trò của
mình. Đó là cách xã hội quy định, quy ước về vai trò, về điều mong đợi mà vai trò
đó thực hiện. Trong cùng một môi trường văn hóa thì mọi người có cùng một số
mong đợi, nhưng đều quy ước dành cho một số vai trò. Khi đảm nhận vai trò thì con
người sẽ thể hiện vai trò của mình. Người nghiên cứu đã vận dụng thuyết vai trò
trong CTXH với NCCVCM để phân tích những vai trò mà mỗi thành viên trong gia
đình của trẻ đang đảm nhận, từ đó phân tích vai trò để can thiệp, hỗ trợ gia đình
vượt qua những khó khăn, khủng hoảng trong cuộc sống, can thiệp để giúp mỗi
người giải quyết vấn đề tốt hơn. Đồng thời, với thuyết vai trò, người nghiên cứu
cũng có thể biết được ai là người có uy tín trong gia đình cũng như trong cộng
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 19
Báo cáo tốt nghiệp
đồng. Tác động vào những thành viên uy tín để xây dựng hoạt động CTXH cho
NCCVCM.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ ĐỜI SỐNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH VỚI
NCCVCM TẠI XÃ XUÂN THÀNH HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN
2.1. Thực trạng NCCVCM trên địa bàn xã Xuân Thành
Theo báo cáo tổng hợp về NCCVCM trên địa bàn xã Xuân Thành Huyện
Yên Thành Tỉnh Nghệ An có 195 NCCVCM.Trong đó có 78 người được hưởng chế
độ hưu trí, 27 đối tượng bệnh binh, 47 đối tượng là thương binh, 30 đối tượng được
nhận trợ cấp, 1 đối tượng là AHLLVT, 10 đối tượng bị nhiễm chất độc hoá học và 2
đối tượng là quân nhân viên xuất ngủ. NCCVCM trên đại bàn đều gặp nhiều khó
khăn trong cuộc sống, do ảnh hưởng của chiến tranh nên tình trạng sức yếu kém,
mất sức lao động nên kinh tế gia đình khó khăn,…

Dưới 60 tuổi 37 19,0%
Từ 60 – 70 tuổi 60 30,8%
Từ 70 – 80 tuổi 69 35,4%
Trên 80 tuổi 29 14,8%
Tổng 195 100
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp NCCVCM tại xã Xuân Thành năm 2012)
* Về trình độ học vấn
Học vấn có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc cũng như
cuộc sống của mỗi người, nó ảnh hưởng rất lớn đến việc chăm sóc sức khỏe của mỗi
cá nhân. Tuy nhiên, trong mẫu điều tra, trình độ học vấn của NCCVCM rất thấp.
Người không đi học (chiếm tỉ lệ 43.3%), người học cấp I (là 25.4%) trong khi đó ở
nhóm đạt trình độ trung cấp chuyên nghiệp – cao đẳng – đại học lại là con số vô cùng
thấp (chỉ chiếm 2% ), ở trình độ trên đại học thì không có người nào. Nguyên nhân
NCCVCM có trình dộ học vấn thấp phần lớn là do điều kiện chiến tranh.
2.2. Thực trạng đời sống NCCVCM
2.2.1. Thực trạng về sức khoẻ
Sức khỏe của con người nói chung và NCCVCM nói riêng vào những năm
tháng cuối đời là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau, được hình thành trong suốt
SVTH: Phan Thị Tuyết - Lớp: CTXH K34 21
Báo cáo tốt nghiệp
cuộc đời như trạng thái sức khỏe bẩm sinh, chế độ dinh dưỡng, điều kiện sống, các
thói quen và lối sống văn hóa, những thành đạt thăng tiến cá nhân, khả năng hòa
nhập cộng đồng, tình trạng hôn nhân, bệnh tật… Vì vậy, sức khỏe là một trong
những mối quan tâm, lo lắng không những của NCCVCM mà còn là của cả gia
đình, cộng đồng và xã hội. Đối tượng khảo sát trong mẫu nghiên cứu này tương đối
đặc biệt: họ vừa là thương, bệnh binh vừa là những người thuộc nhóm cao tuổi cho
nên tình trạng sức khỏe rất nhiều vấn đề cần quan tâm và đề cập đến.
2.2.1.1. Thực trạng về sức khỏe thể chất
Phần đông những NCCVCM đều có tình trạng sức khỏe thể chất rất yếu, họ
mang trong mình nhiều căn bệnh nguy hiểm, đó là chưa kể đến những căn bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status