nghiên cứu tình hình vay và sử dụng vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng trên địa bàn - Pdf 24

PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% dân số nhưng
chỉ chiếm khoảng 17% tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế trong hệ thống tổ
chức tín dụng. Kinh tế thị trường phát triển thì làm cho nông nghiệp, nông thôn
và đặc biệt là người nông dân càng khó có cơ hội tiếp cận với các nguồn tài
chính, tín dụng. Việc phân bổ vốn đầu tư còn mất cân đối và chưa hợp lý, thiếu
trọng điểm, trọng tâm còn biểu hiện tình trạng ban phát, nguồn vốn đầu tư cho
phát triển nông nghiệp - nông thôn có nhiều kênh đáp ứng cho nhiều đối tượng,
nhưng chưa được phối hợp đồng bộ để đầu tư, sử dụng có hiệu quả mà còn trong
tình trạng dàn trải, chồng chéo do thiếu nguồn vốn giá rẻ nên lãi suất các khoản
cho vay thương mại đối với nông nghiệp - nông thôn ở mức rất cao. Mặt khác
hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân chưa cao, rủi ro lớn và thường xảy ra
trên diện rộng Đây là một trong những lý do tại sao tình hình khu vực nông
nghiệp nông thôn Việt Nam chưa có những cải thiện mạnh mẽ cả về đời sống
kinh tế xã hội và đời sống người dân.
Có nhiều nguyên nhân làm cho khu vực nông thôn khó tiếp cận các nguồn
tài chính. Trước hết, do tích lũy của khu vực nông nghiệp nông thôn rất thấp.
Đặc biệt tỷ lệ lạm phát càng cao, mức tích lũy của người dân càng thấp trong khi
nhu cầu về vốn để đầu tư cho sản xuất ngày càng nhiều. Trong khi đó, không có
vốn huy động thành thị chuyển về cho vay nông thôn mà lại có tình trạng vốn
huy động từ địa bàn nông thôn lại chuyển ra cho vay tại đô thị .
Giải bài toán về vốn cho thị trường tài chính nông thôn trong bối cảnh
Việt Nam gia nhập WTO là một vấn đề hết sức khó khăn. Việt Nam, cũng như
các nước đang phát triển trên thế giới, phải đối phó với vấn đề thiếu vốn nói
1
chung, đặc biệt thiếu vốn cho lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nước ta nhưng trong thời gian qua
nông hộ vẫn còn phải đối mặt với vòng luẩn quẩn nghèo khổ bởi vì thu nhập
thấp, nông hộ cần vốn để có thể trang bị kỹ thuật mới nhưng phần lớn vẫn còn

1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích và đánh giá mục đích, nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn vay để
phát triển sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong xã.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và vay vốn phục vụ
cho phát triển sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân ở xã.
- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay của nông hộ và các nhân tố ảnh
hưởng tới hiệu quả đó.
- Đề xuất ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng được vay vốn và hiệu
quả sử dụng vốn vay cho phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân ở xã
trong thời gian tới.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài.
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn vay của người nông
dân?
- Vốn vay đã có tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất nông
nghiệp?
- Nông hộ vay vốn có sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả không?
- Các giải pháp nào có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay cho hoạt
động sản xuất nông nghiệp của nông hộ?
3
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các tổ chức tín dụng nông thôn trên địa bàn xã Nam Triều và các tổ
chức tín dụng nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Xuyên, các tổ chức xã hội và
các nguồn vốn nhàn rỗi khác trong dân cư trên địa bàn xã.
- Các hộ nông dân vay vốn tín dụng trên địa bàn xã Nam Triều, huyện
Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình vay và sử
dụng vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng trên địa bàn nghiên cứu và các nhân
tố tác động tới thực trạng đó. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao trình độ

Bản chất đặc trưng nhất của tín dụng là tính không thay đổi về trạng thái
và giá trị, mặc dù nó luôn luôn được lưu chuyển và thay đổi về phương thức
giao dịch. Nó được thể hiện ở một số khía cạnh:
5
- Thứ nhất: Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển cho người
khác sử dụng trong một thời gian nhất định. Lúc này vốn được chuyển từ người
cho vay sang người vay.
- Thứ hai: Sau khi nhận được vốn tín dụng bên đi vay được quyền sử
dụng để thoả mãn mục đích nhất định.
- Thư ba: Hết thời hạn do hai bên thoả thuận, bên đi vay hoàn trả lại cho
bên cho vay một giá trị lớn hơn vốn vay ban đầu, phần tăng thêm này được gọi
là tiền lãi.
Theo C.Mark thì: “Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong
một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay
nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán, cũng không
phải tự đem bán mà cho vay chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay
trở lại điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định”. Đồng thời ông còn vạch rõ
yêu cầu của việc tiền quay trở lại điểm xuất phát cần phải: “Giữ nguyên giá trị
của nó và đồng thời lớn lên trong quá trình vận động”.
Nhà kinh tế học người Pháp – Ông LouisBaudin đã định nghĩa: Tín dụng là sự
trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai.
Một nhà kinh tế học lại quan niệm tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh
mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các tác nhân và thể nhân trong nền kinh
tế hàng hoá.
Tóm lại, tín dụng được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng đều phản
ánh sự trao đổi mà một bên là người đi vay và một bên là người cho vay.
2.1.1.2. Lãi suất tín dụng
Một trong những đắc trưng cơ bản của tín dụng là sau một thời gian nhất
định ngưòi sử dụng phải hoàn trả cho ngưòi chuyển nhượng một lượng giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu. Phần giá trị lớn hơn chính là lợi tức tín dụng. Lợi tức tín

chính là phầm giá trị tăng thêm so với phầm vốn gốc mà người cho vay thu được
sau một thời gian nhất định.
7
+ Lãi suất tín dụng là một chỉ tiêu đặc biệt đánh giá mức độ lợi tức cao
hay thấp khác nhau.
Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bảy kinh tế quan trọng của nền
kinh tế thị truờng. Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vay
và sử dụng vốn tín dụng. Do đó nó tác động nên tất cả mọi thành phần của nền
kinh tế quốc dân.
2.1.1.3. Khái niệm về phát triển nông nghiệp và nông thôn
Phát triển nông nghiệp và nông thôn là sự thay đổi về đời sống kinh tế xã
hội ở nông thôn theo hướng tích cực, được biểu hiện trong sự tăng trưởng kinh
tế, nâng cao thu nhập, giảm bớt tình trạng đói nghèo cùng với sự cải thiện về
văn hoá, y tế giáo dục của con người ở nông thôn. Sự phát triển Nông nghiệp và
nông thôn chính là sự tăng trưởng về mặt kinh tế và sự phát triển tích cực xã hội
khu vực nông thôn.
2.1.2. Vai trò của tín dụng đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn
2.1.2.1. Vai trò của tín dụng đối với tình hình CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và chính phủ rất
quan tâm chú trọng đến vấn đề phát triển kinh tế nông thôn, đặc biệt chương
trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn đã trở thành chiến lược trong chính
sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Thực hiện chương trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn cần phải có
vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm. Để giả quyết vấn đề này đòi hỏi sự
tăng đầu tư của Chính phủ và hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp nông thôn. Tín
dụng đóng vai trò như là yếu tố đầu vào cho quá trình CNH-HĐh nông nghiệp
nông thôn.
2.1.2.2. Vai trò của tín dụng đối với kinh tế hộ
Dựa vào tín dụng người nông dân có thể đầu tư thêm các yếu tố đầu vào

9
- Tín dụng bằng hiện vật
* Theo đặc điểm của vốn, tín dụng được chia:
- Tín dụng vốn lưu động cho vay để hình thành tài sản lưu động (TSLĐ)
- Tín dụng vốn cố định cho vay để hình thành tài sản cố định (TSCĐ)
* Theo chủ thể trong quan hệ tín dụng gồm:
- Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới
hình thức mua bán chịu hàng hoá.
- Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân.
- Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các tầng lớp
dân cư hoặc với các tổ chức kinh tế xã hội.
- Tín dụng tư nhân, cá nhân: Là quan hệ tín dụng giữa cá nhân và tư nhân
cho vay nặng lãi hoặc giữa các cá nhân với nhau.
- Tín dụng thuê mua: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp (người
thuê) với các tổ chức tín dụng thuê mua (các công ty tín dung thuê mua, được áp
dụng với các khoản đầu tư vào TSCĐ).
- Tín dụng bán trả góp, dịch vụ cầm đồ, ký cược tài sản…
* Theo phương diện tổ chức tín dụng chia thành hai loại đó là tín dụng
chính thống và tín dụng không chính thống
- Tín dụng chính thống: Là hình thức huy đọng vốn và cho vay thông qua
các tổ chức tài chính có đăng ký và hoạt động công khai theo pháp luật, hoặc
chịu sự giám sát và quản lý của chính quyền nhà nước các cấp. Các tổ chức tín
dụng chính thống bao gồm: Hệ thống ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, Hệ thống
quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính, các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ
chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước, các chương trình
dự án được thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng của chính phủ hay các tổ chức tài
chính tiền tệ quốc tế: IMF, WB, ADB. Tín dụng chính thống luôn giữ vai trò
chủ đạo trong hệ thống tín dụng của các quốc gia.
10

* Hiệu quả môi trường: Đó là tác đọng đến môi trường tự nhiên của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, hiệu quả môi trường đang được các nhà
quản lý sử dụng làm công cụ đánh giá. Một hoạt động sản xuất được coi là hiệu
quả thì hoạt động đó không được gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái.
Nếu chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế, mà không quan tâmđến hiệu quả môi
trường, đôi khi dẫn đến mất mát của xã hội lớn hơn nhiều so với lợi ích kinh tế
đem lại. Hiệu quả môi trường được đánh giá bằng các chỉ tiêu dự tính như: sự đa
dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, độ sói mòn đất…
2.1.4.2. Hệ thống đánh giá hiệu quả
Bàn về vấn đề hiệu quả kinh tế, các nhà kinh tế ở nhiều nước, nhiều lĩnh
vực có quan điểm khác nhau, có thể tóm tắt thành hệ thống các quan điểm sau:
* Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết
quả đạt được với chi phí bỏ ra hoặc sử dụng các nguồn lực để đạt kết quả đó.
H = Q/C
Trong đó: Q là kết quả sản xuất đạt được
C là chi phí bỏ ra
Đại diên cho quan điểm này, Lulicop cho rằng: “Hiệu quả sản xuất là kết
quả của một nền sản xuất nhất định. Chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần
thiết để đạt được hiệu suất vốn, tổng sản phẩm chia cho số lao động được hiệu
suất lao động”.
TS Trần Văn Đức cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là thể hiện phương pháp và
chất lượng kinh doanh vốn có của một phương thức sản xuất kinh doanh nhất
định”. “Đó là sự so sánh về số lượng giữ kết quả và chi phí sản xuất”.
Tuy vậy nếu xét hiệu quả kinh tế theo quan điểm này sẽ gặp khó khăn trong việc
xác định và đánh giá quy mô của hoạt động sản xuất kinh doanh.
12
* Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó
H = Q – C
Quan điểm này phản ánh được quy mô của hiệu quả kinh tế nhưng lại không

dùng cho hiện đại hoá trang trại và cơ giới hoá trong nông nghiệp.
2.2.1.2. Tín dụng nông nghiệp và nông thôn ở Thái Lan
Tín dụng nông nghiệp nông thôn ở Thái Lan chia làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn (từ 6 – 12 tháng) cung cấp tín dụng cho những chi
phí hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ngắn hạn ( thường là 1vụ sản
xuất).
- Tín dụng trung hạn (từ 1- 5 năm) cung cấp cho việc sử dụng mua sắm
trang thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
- Tín dụng dài hạn (từ 5 – 30 năm) cung cấp cho việc đầu tư dài hạn và
đầu tư sản xuất kinh doanh lớn.
Hầu hết các tổ chức tín dụng chính thống ở Thái Lan cung cấp tín dụng
ngắn, trung hạn và chỉ có một số tổ chức tín dụng đã đăng ký với nhà nước mới
cung cấp tín dụng dài hạn. Tổ chức tín dụng chính thống lớn nhất chuyên cung
cấp tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn là ngân hàng BACC. Ngân hàng này
đựoc thành lập từ cuối năm 1966, đến nay đã có 657 chi nhánh và 850 văn
phòng trải rộng khắp khu vực nông thôn. BACC là ngân hàng của chính phủ và
99.7% nguồn vón của BACC do bộ tài chính cung cấp. Với lãi suất 13%/năm và
cho vay thông qua HTX tín dụng nông nghiệp
Tổ chức tín dụng chính thống thứ hai cung cấp cho nông nghiệp, nông
thôn là hệ thống ngân hàng thương mại như: Ngân hàng Băng Cốc, ngân hàng
Ayudhya, ngân hàng nông dân Thái Lan. Hình thức cho vay thế chấp đối với
nông dân, cá thể và không thế chấp đối với nhóm nông dân. Ngân hàng nhà
14
nước Thái Lan có vai trò quan trọng trong việc cung cấp tín dụng cho khu vực
nông thôn với lãi suất thấp. Nông dân Thái Lan vay vốn từ các tổ chức tín dụng
bằng nhiều cách, hộ giàu có tài sản thế chấp thì vay trực tiếp tại các tổ chức tín
dụng còn hộ nghèo vay gián tiếp bằng các tham gia vào HTX hay các hiệp hội
nhóm hộ nông dân.
Thái Lan là một nước có nền nông nghiệp rất phát triển, hiên nay Thái
Lan là một nước có lượng gạo xuất khẩu lớn nhất thế giới, gạo có chất lượng cao

tạo. Tỷ lệ thất nghiệp ở vùng nông thôn là tương đối cao do tính đặc thù của sản
xuất nông nghiệp là mang tính thời vụ, vì vậy những lúc nông nhàn thì người
dân nông thôn thường không có việc làm. Bên cạnh đó là sự phát triển cơ sở hạ
tầng ở một số vùng nông thôn còn chưa phát triển, còn nhiều bất cập trong qua
trình sản xuất kinh doanh dẫn tới đời sống một số vùng nông thôn còn thấp.
Nhằm đưa nông thôn Việt Nam phát triển đi lên thì Đảng và Nhà nước đã có
nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân nông thôn có cơ hội phát triển làm ăn
kinh tế. Chính sách tín dụng nông thôn đang là vấn đề được quan tâm, tuy nhiên
trải qua từng thời kỳ thì những chính sách đó có sự thay đổi khác nhau cho phù
hợp.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các thành phần kinh tế hoạt
động theo chỉ tiêu và kế hoạch từ trên xuống, thành phần kinh tế tư nhân hầu
như không được thừa nhận. Cho nên đối tượng vay vốn của các tổ chức tín dụng
(ngân hàng) lúc đó chủ yếu là các đơn vị kinh tế quốc doanh, các tổ chức kinh tế
tập thể. Ngân hàng đảm đương việc cung cấp tín dụng theo chỉ tiêu kế hoạch từ
trên xuống.
Tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thời kỳ này chưa phát huy
được hết tác dụng của nó, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Do đó nền kinh tế nói
16
chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng là chậm phát triển, đời sống của
người dân nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn.
Mốc đánh dấu bước ngoặt đổi mới với nền kinh tế đất nước ta là chỉ thị
100 của Ban bí thư TW Đảng, khi nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
XHCN. Lúc này, tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn đã có nhiều thay đổi.
Năm 1989, kinh tế hộ được coi là đơn vị kinh tế cá thể thì ngân hàng nông
nghiệp Việt Nam ra đời, tiền thân của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn ngày nay. Trong đó có cả Ngân hàng thương mại, kho bạc nhà nước, Ngân
hàng phục vụ người nghèo, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Các doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân có thể vay vốn trực tiếp từ các tổ chức tín dụng chính thống nói

của thống đóc ngân hàng nhà nước. NHCSXH chủ yếu cho hộ nghèo vay vốn
nới lãi suất thấp để phát triển sản xuất không vì mục đích lợi nhuận, được nhà
nước đảm bảo khả năng thanh toán, không tham gia bảo hiểm tiền gửi, được
miễn thuế và các khoản nộp ngân sách khác, thực hiện tín dụng ưu đãi đối với
hộ nghèo và đối tượng chính sách xã hội để phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo
việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo,
ổn định xã hội.
2.2.2.3. Ngân hàng công thương Việt Nam (NHCT):
NHCT Việt Nam được thành lập theo quyết định 402/CT ngày
14/11/1990 và thành lập lại theo quyết định số 285/QĐ – NH5 ngày 21/09/1996
của thống đốc ngân hàng nhà nước.
Là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất tại Việt Nam, có
tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt
Nam.
Có mạng lưới kinh doanh trải rộng khắp toàn quốc với 2 Sở giao dịch,
130 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch.
18
2.2.2.4. Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND):
Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập theo quyết định 390 TTg ngày
27/02/1993 của Thủ tướng chính phủ. QTDND là tổ chức tín dụng huy động tại
chỗ đồng vốn của mọi tầng lớp dân cư và cho vay để phát triển sản xuất kinh
doanh dịch vụ. Hiên nay QTDND đã huy động cà cho vay hàng nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên số lượng QTDND còn quá ít, mới tương đương hơn 10% địa bàn xã,
phường trong cả nước. Trình độ quản lý, nghiệp vụ của cán bộ trong QTDND
nhìn chung còn yếu. Chính vì vậy một số địa phương QTDND không phát huy
được vai trò của mình, dẫn tới hoạt động kém hiệu quả.
2.2.2.5. Các chương trình ưu đãi của Chính phủ:
Trong những năm qua Nhà nước đã thực hiện nhiều chương trình như:
Chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ vay vốn cho nông dân nghèo… Nguồn
vốn cho những chương trình này chủ yếu là viện trợ của nước ngoài, trong đó

nhất định cho việc mở rộng đầu tư tín dụng của các định chế tài chính.
Thu nhập của hộ nông dân còn thấp, cùng với việc sử lý quyền sử dụng
đất của người nông dân còn những bất cập, nên việc cho vay các khoản vốn lớn
để mở rộng sản xuất của các hộ gia đình nông thôn còn rất hạn chế.
Chính sách đất đai hiện nay cũng khó để tăng cường khả năng tích tụ
ruộng đất để mở rộng quy mô chuyên canh vật nuôi cây trồng theo mô hình các
trang trại, gia trại lớn như các nước phát triển khác. Điều này cũng hạn chế nhất
định nhu cầu vay vốn lớn để phát triển, tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu
nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH – HĐH.
Công nghệ ngân hàng, cũng như mạng lưới viễn thông mới chỉ phát triển
ở các vùng đô thị, vùng sâu vùng xa còn chưa phát triển, nên cũng rất hạn chế
đến việc tiếp cận vốn tín dụng của người dân, cũng như các định chế tài chính
khó có thể mở rộng mạng lưới của mình.
20
Bên cạnh đó, phần lớn người dân ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở khu vực
miền núi, vùng sâu, vùng xa dân trí không đồng đều; chưa tiếp cận được khoa
học kỹ thuật nên nếu như không có một sự đảm bảo, tư vấn về việc làm kinh tế,
phát triển sản xuất từ phía người cung cấp vốn thì chắc chắn họ sẽ hạn chế tiếp
cận với vốn vay.
Quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, chưa phù hợp với trình độ của
người dân đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai. Thủ
tục phiền hà và quy định rắc rối là một cản trở lớn đối với người dân có trình độ
văn hoá thấp, và làm nảy sinh một số tệ nạn như cò vay vốn, phát triển hình thức
tín dụng nặng lãi… Và không đáp ứng kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Tư duy bao cấp vẫn còn trong hoạt động tín dụng đối với khu vực nông
nghiệp, nông thôn vẫn còn làm tồn tại làm tăng chi phí hoạt đọng của các định
chế tài chính, đồng thời tăng tính ỷ lại và bóp méo thị trường tài chính nông
thôn.
Chưa có chiến lược phát triển nông thôn phù hợp, quy hoạch vùng sản

Tình hình sử dụng đất đai của xã được thể hiện qua bảng 1:
22
Bảng 1: Tình hình đất đai của xã Nam Triều năm 2011
Loại đất ĐVT
Số
lượng Cơ cấu (%)
A- Tổng diện tích đất tự nhiên ha 578.00 100
I- Đất nông nghiệp ha 316.57 54.77
1. Đất canh tác ha 303.07 52.43
_ Đất lúa ha 286.00
_ Đất chuyên màu ha 12.00
2. Đất trồng cây lâu năm ha 13.50 2.34
II- Đất chuyên dùng ha 187.35 32.41
1. Đất xây dựng ha 93.40 16.16
2. Đất giao thông ha 38.50 6.66
3. Đất thuỷ lợi ha 41.05 7.10
4. Đất nghĩa trang ha 3.40 0.59
5. Đất chuyên dùng khác ha 11.00 1.90
III- Đất khu dân cư ha 72.50 12.54
IV- Đất chưa sử dụng ha 1.58 0.27
B- Một số chỉ tiêu bình quân
1. Đất tư nhiên/khẩu m2
10.05

2. Đất nông nghiệp/hộ m2 1891.09
3. Đất nông nghiệp/Khẩu m2 550.17
_ Đất canh tác/khẩu m2 526.71
_ Đất trồng cây lâu năm/khẩu m2 23.46
Theo như bảng phân loại đất của Hà Nội thì xã Nam Triều có đất đai
thuộc loại đất màu mỡ, với tổng diện tích đất tư nhiên là 578 ha, trong đó đất

_ Đất chuyên màu 6.00 10.00 12.00
2. Đất trồng cây lâu năm 14.20 2.46 10.05 1.74 13.50 2.34
II- Đất chuyên dùng 182.00 31.49 185.20 32.04 187.35 32.41
1. Đất xây dựng 90.20 15.61 92.70 16.04 93.40 16.16
2. Đất giao thông 36.70 6.35 37.50 6.49 38.50 6.66
3. Đất thuỷ lợi 40.70 7.04 40.60 7.02 41.05 7.10
4. Đất nghĩa trang 3.40 0.59 3.40 0.59 3.40 0.59
5. Đất chuyên dùng khác 11.00 1.90 11.00 1.90 11.00 1.90
III- Đất khu dân cư 63.40 10.97 68.00 11.76 72.50 12.54
IV- Đất chưa sử dụng 2.40 0.42 1.75 0.30 1.58 0.27
(Nguồn: Ban thống kê xã Nam Triều - Phú Xuyên - Hà Nội)
24
3.1.1.3. Khí hậu thời tiết
Xã Nam Triều là một xã nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, khí hậu
của xã cũng mang nét đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng, khá
thuận lợi về nhiều mặt, không khắc nghiệt và đặc biệt rất thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp, phát triển ngành nghề trồng trọt và chăn nuôi. Nhiệt độ trung bình
hàng năm thường giao động trong khoảng từ 15
0
C đến 38
0
C. Nhiệt độ cao nhất
thường vào các tháng 5,6,7 của mùa hè, nhiệt độ có thể lên tới 37
0
C – 38
0
C.
Những tháng lạnh nhất là vào các tháng chạp, tháng giêng và tháng hai, nhiệt độ
có thể xuống tới dưới 10
0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status