đánh giá khả năng sinh trưởng của năm loài cây bản địa trồng dưới tán rừng thông mã vĩ ( pinus massoniana lamb) ở chi lăng – lạng sơn làm cơ sở để chuyển hóa rừng thông thuần loài thành rừng hỗn loài - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ XUÂN VIÊN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG
CỦA NĂM LOÀI CÂY BẢN ĐỊA TRỒNG DƢỚI
TÁN RỪNG THÔNG MÃ VĨ (PINUS MASSONIANA LAMB)
Ở CHI LĂNG – LẠNG SƠN LÀM CƠ SỞ CHUYỂN HÓA
RỪNG THÔNG THUẦN LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP


RỪNG THÔNG THUẦN LOÀI THÀNH RỪNG HỖN LOÀI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Ngƣờ i hƣớng dẫn khoa học : TS. NGUYỄN HUY SƠN

THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, các cơ quan
đơn vị đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả. Đặc biệt, là TS. Nguyễn Huy Sơn đã trực
tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý
báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại
Học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, các thầy cô giáo trong Khoa
Lâm Nghiệp đã giúp đỡ trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tác giả xin cảm
ơn sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Huy Sơn đã giúp đỡ tận tình cho tác giả
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự giúp đỡ của các cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Lâm Đặc Sản, Trường Đại
học Lâm Nghiệp, Trường Đại học Hùng Vương, Hạt kiểm lâm huyện Chi
Lăng, UBND xã Mai Sao, xã Khuôn Khoan huyện Chi Lăng – Tỉnh Lạng Sơn
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thu thập số liệu, thực
hiện luận văn.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần trong quá
trình học tập và thực hiện luận văn này.
Thái
Nguyên, ngày tháng năm 2010
Học viên

Nguyễn Thị Xuân Viên
MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Ở nước ngoài 4
1.1.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa 4
1.1.2. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây lá

2.6. Phương pháp nghiên cứu 23
2.6.1. Phương pháp luận tổng quát 23
2.6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 25
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ
XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 29
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 29
3.1.1. Vị trí địa lý 29
3.1.2. Địa hình, đất đai 29
3.1.3. Khí hậu 30
3.1.4. Thuỷ văn 30
3.1.5. Tài nguyên rừng 31
3.2. Điều kiện kinh tế-xã hội 31
3.3. Lịch sử rừng trồng Thông mã vĩ 34
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1. Đặc điểm rừng Thông mã vĩ tại khu vực nghiên cứu 36
4.1.1. Đặc điểm tầng cây cao (Thông mã vĩ) 36
4.1.2. Đặc điểm lớp cây tái sinh, cây bụi thảm tươi dưới tán
rừng Thông mã vĩ 41
4.1.3. Đặc điểm đất dưới tán rừng Thông mã vĩ 44
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4.2. Ảnh hưởng của độ tàn che tới khả năng sinh trưởng của
các loài cây bản địa 45
4.2.1. Sinh trưởng của cây Re gừng dưới các độ tàn che khác nhau 45
4.2.2. Sinh trưởng của cây Trám trắng dưới các độ tàn che khác nhau 47
4.2.3. Sinh trưởng của cây Giổi xanh dưới các độ tàn che khác nhau 50
4.2.4. Sinh trưởng của cây Lát hoa dưới hai độ tàn che khác nhau 53
4.2.5. Sinh trưởng của cây Lim xanh ở hai độ tàn che khác nhau 55
4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dốc đến khả năng
sinh trưởng của các loài cây bản địa 58

: Đường kính tại vị trí 1,3m (cm)
Hvn: Chiều cao vút ngọn (m)
H
dc
: Chiều cao dưới cành
D
T:
Đường kính tán (m)
D
1.3
: Đường kính trung bình tại vị trí 1,3m (cm)
D
00
: Đường kính gốc trung bình (cm)
H
vn
: Chiều cao vút ngọn trung bình (m)
∆D
00
: Tăng trưởng đường kính gốc bình quân năm (cm/năm)
∆Hvn: Tăng trưởng chiều cao vút ngọn bình quân năm (m/năm)
OTC: Ô tiêu chuẩn
T: Cây có chất lượng sinh trưởng tốt
TB: Cây có chất lượng sinh trưởng trung bình
X: Cây có chất lượng sinh trưởng xấu
S: Sai tiêu chuẩn
S%: Hệ số biến động
CL: Chi Lăng
CVL: Cát vật lý
SVL: Sét vật lý

Bảng 4.10: Sinh trưởng và chất lượng thân cây của loài Trám trắng
dưới các độ dốc khác nhau 60
Bảng 4.11: Sinh trưởng và chất lượng thân cây loài cây Giổi xanh
dưới các độ dốc khác nhau 61
Bảng 4.12: Sinh trưởng và chất lượng thân cây của loài Lát hoa
dưới các độ dốc khác nhau 63
Bảng 4.13: Sinh trưởng và chất lượng thân cây của loài Lim xanh
dưới các độ dốc khác nhau 64

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu 24
Hình 4.1: Trắc đồ ngang rừng Thông mã vĩ có độ tàn che 0,46 (otc 11) 39
Hình 4.2: Trắc đồ ngang rừng Thông mã vĩ có độ tàn che 0,54 (otc 14) 40
Hình 4.3: Trắc đồ ngang rừng Thông mã vĩ có độ tàn che 0,6 (otc 15) 40

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Sinh trưởng đường kính gốc trung bình
của 5 loài cây bản địa 67
Biểu đồ 4.2: Sinh trưởng chiều cao trung bình
của 5 loài cây bản địa 67
bình quân trên đầu người vào loại thấp nhất thế giới, chỉ đạt khoảng 0,14ha
rừng/người, nằm trong danh sách những nước nghèo về tài nguyên rừng, theo
thống kê của FAO diện tích rừng bình quân đầu người toàn thế giới năm 2001
là 0,6 ha [30]. Không những vậy, Việt Nam còn là một trong những nước có
tốc độ mất rừng khá nhanh, tỷ lệ che phủ của rừng giảm từ 40,7% (13,5 triệu
ha rừng) vào năm 1943 xuống còn 26,2% vào năm 1985 (dẫn theo Nguyễn
Hoàng Nghĩa, 1997). Trong những năm gần đây, Nhà nước và nhân dân ta đã
có nhiều nỗ lực để từng bước phục hồi lại độ che phủ của rừng, nên đến năm
2009 độ che phủ của rừng ở nước ta xấp xỉ 39,1%, với tổng diện tích có rừng
hiện có 13.258.843 triệu ha, trong đó diện tích rừng trồng của cả nước đã đạt
hơn 2.919.538 triệu ha, nhưng phần lớn là rừng trồng thuần loài [1].
Tuy diện tích rừng tăng nhưng trữ lượng và chất lượng chưa được cải
thiện, phần lớn rừng tự nhiên hiện nay là rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế
không cao. Trong số diện tích rừng tự nhiên hiện chỉ có 0,57 triệu ha rừng
giầu phân bố rải rác ở những nơi xa, với trữ lượng trung bình trên 150 m
3
/ha,
rừng nghèo với trữ lượng dưới 80 m
3
/ha chiếm đa số [30].
Trong thời gian qua rừng trồng thuần loài ở Việt Nam bao gồm cả
trường hợp rừng trồng các loài cây lá rộng và cây lá kim được đánh giá là
những hệ sinh thái kém bền vững: Gần đây đã xuất hiện sâu, bệnh hại hàng
loạt như bệnh đốm và cháy lá ở Bạch đàn, bệnh phấn hồng ở Keo đã phát
dịch ở nhiều nơi, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ đến
môi trường sinh thái trong khu vực, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu
như hiện nay.
2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


thực hiện. Tác giả của luận văn rất may mắn là cộng tác viên tham gia điều tra
đánh giá mô hình trong những năm vừa qua.
Với mục đích góp phần tìm ra cơ sở khoa học cho việc phát triển rừng
trồng hỗn loài, nên việc thực hiện đề tài "Đánh giá khả năng sinh trưởng
của năm loài cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ ( Pinus
massoniana Lamb) ở Chi Lăng – Lạng Sơn làm cơ sở để chuyển hóa rừng
thông thuần loài thành rừng hỗn loài” là cần thiết.
4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Ở nƣớc ngoài
Do trồng rừng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nhà
khoa học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu nhằm tạo lập các lâm phần
rừng trồng hỗn loài bằng nhiều loài cây khác nhau trong đó đa số là sử dụng
cây bản địa. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm và trồng rừng
hỗn loài thành công bằng loài cây này. Sau đây là một số công trình nghiên
cứu điển hình:
1.1.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa
Tại Malaysia, năm 1999 trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới
thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên,
rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 – 15 tuổi và 2 – 3 tuổi. Dự án
đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m trong rừng tự
nhiên, trên mỗi băng người ta có thể trồng 6 hàng cây bản địa và trồng 14 loài
cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng. Thí nghiệm đối với rừng Keo tai
tượng dự án chia thành 2 khu:

các quần thụ thuần loài Linh sam Douglas chỉ đạt 203m
3
/ha và Tuyết tùng đỏ
cũng chỉ đạt 175m
3
/ha. Điều này chứng tỏ trồng hỗn loài có năng suất cao
hơn trồng thuần loài.
Tại Đan Mạch, thông qua nghiên cứu sinh trưởng của Jensen (1983)
cho thấy rằng Vân sam (Abies) trồng hỗn giao với Linh sam bạc (Abies alba)
có sản lượng cao hơn chính nó trồng thuần loài. Tương tự, Bulô hỗn giao với
Thông tốt hơn Bulô thuần loài. Hỗn giao giữa Betula pendula với Abies theo
tỷ lệ 25-50% đã làm tăng sản lượng của Abies ở tất cả các tuổi (dẫn theo
Nguyễn Đức Thế, 2007).
Tại Costa Rica, ba kiểu rừng trồng, mỗi kiểu rừng trồng là hỗn giao của 4
loài cây bản địa chịu bóng khác nhau trong vùng đất thấp ẩm ướt cho thấy từ 2 - 4
6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

năm tuổi, đường kính ngang ngực trong các quần thụ hỗn giao lớn hơn trong các
quần thụ thuần loài của những loài mọc nhanh (dẫn theo Nguyễn Đức Thế,
2007).
Một nghiên cứu khác tại Costa Rica, Haggar.J và J.Ewel (1995) đã
trồng hai loài cây Hyeronima alchorneoides và Cordia alliodora ở vùng đất
thấp theo hai phương thức khác nhau là thuần loài và hỗn loài. Các tác giả đã
nhận định rằng cả hai loài trồng hỗn giao với nhau đều sinh trưởng tốt hơn
trồng thuần loài. Hơn nữa, hai loài cây này trồng phối hợp với nhau khá thích
hợp. Bởi vì, sự phân bố của hệ thống rễ cũng như tán lá ở các vị trí khác nhau
trong không gian tạo nên sự phối hợp hỗ trợ lẫn nhau nhiều hơn là cạnh tranh
không gian dinh dưỡng. Cũng hai tác giả này, khi nghiên cứu về khả năng

hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh học và tính hợp quần của các loài cây
trong trong lâm phần (dẫn theo Hoàng Văn Thắng, 2007). Điều này cho thấy,
để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng
được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa vào khả năng sinh trưởng
cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các loài cây để lựa chọn
các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là cơ sở quan trọng quyết định đến sự
thành công hay thất bại của các mô hình rừng trồng hỗn loài.
Kolexnitsenko (1997) khi nghiên cứu về sự phối hợp giữa các loài cây
gỗ trong trồng rừng hỗn loài đã đúc kết được 5 nguyên tắc lựa chọn loài cây
trồng, đó là:
 Nguyên tắc kinh nghiệm.
 Nguyên tắc kiểu lâm hình học.
 Nguyên tắc lý sinh.
 Nguyên tắc sinh vật dinh dưỡng.
 Nguyên tắc cảm nhiễm tương hỗ.
Có thể nói đây là những nguyên tắc rất cơ bản và tương đối toàn diện
về các lĩnh vực của rừng trồng hỗn loài. Để xây dựng thành công các mô hình
8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

rừng trồng hỗn loài cần phải dựa vào 5 nguyên tắc trên. Trong đó, nguyên tắc
cảm nhiễm tương hỗ là rất quan trọng và cần phải có thời gian dài nghiên cứu.
Nhìn chung, các nguyên tắc này phản ánh được mối quan hệ bên trong và có
tính chi phối tới sự tồn tại và sinh trưởng của các loài. Sự phân loại theo đặc
điểm hoạt hóa của chúng như kích thích, ức chế hoặc kìm hãm quá trình sống
thông qua ảnh hưởng của phitonxits là căn cứ để quyết định tỷ lệ tổ thành các
loài cây trong lâm phần hỗn loài. Nghiên cứu về vấn đề này tác giả đã đề nghị
mật độ loài cây trồng chính trong mô hình trồng rừng hỗn loài không nên ít
hơn 50%, loài cây hoạt hóa không nên quá 30 – 40%, loài cây ức chế không

rừng tùy thuộc vào cách xử lý, điều kiện ánh sáng, xử lý các thảm rừng cũ
một cách thích hợp đối với đặc tính sinh thái của từng loài ở từng giai đoạn
tuổi khác nhau mới có thể đem lại hiệu quả (dẫn theo Hoàng Đức Doanh,
2007).
1.1.2. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây lá kim với cây bản địa
lá rộng
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây lá
kim phục vụ cho công tác trồng rừng như ở Anh, Pháp, Úc, Canada, Đan
Mạch…. Đa số các công trình tập trung chủ yếu là nghiên cứu các quy luật
phân bố, quy lụât tăng trưởng, cấu trúc, đặc tính cơ lý gỗ, một số tính chất lý
hoá học đất, tính chất hoá học của nhựa…Về trồng rừng hỗn loài giữa cây lá
kim và cây lá rộng bản địa đã có một số nước nghiên cứu về vấn đề này song
chưa nhiều.
Nghiên cứu trồng cây lá kim hỗn giao với cây bản địa điển hình là ở
Đài Loan và một số nước Châu Á. Sau khi trồng phủ xanh đất trống đồi núi
trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán. Kết quả cho
thấy đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có
tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất [10].
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về cây bản địa và trồng rừng hỗn loài
trên thế giới tuy chưa nhiều, song với những thông tin thu thập được về cách
lợi dụng độ tàn che tầng cây cao, cách sử dụng cây phù trợ và các phương
thức bố trí loài cây trong các mô hình thí nghiệm và với những thông tin về
tiểu hoàn cảnh rừng … là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm có
giá trị.
1.2. Ở trong nƣớc
1.2.1. Nghiên cứu về trồng rừng hỗn giao

năm trồng cây bản địa mục đích trên các băng chặt, kết quả cho thấy cây phù
trợ đã có tác dụng, tỷ lệ sống của cây bản địa đạt khá cao, nhưng chưa ảnh
hưởng rõ tới khả năng sinh trưởng ở các băng có kích thước khác nhau. [11].
Năm 1962, các nhà lâm học Học viện Nông lâm đã tiến hành thí
nghiệm trồng rừng hỗn loài, lấy cây Mỡ (Manglietia glauca) làm đối tượng
chính của rừng hỗn loài và dùng các loài cây bạn theo từng cặp: Mỡ
(Manglietia glauca) + Lim Xanh (Erythrophloeum); Mỡ (Manglietia glauca)
+ Xà cừ (Khay senegalensis), Mỡ (Manglietia glauca) + Tếch (Tectona
grandis). Mỗi loài trồng 1 hàng, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 2m, kết
quả cho thấy Xà cừ và Tếch không thích hợp với phương thức trồng này nên
tốc độ sinh trưởng chậm và bị các loài cây khác cạnh tranh, cuối cùng chỉ còn
Mỡ thuần loài. Đối với Lim xanh, 2 năm đầu sinh trưởng kém, nhưng giai
đoạn tiếp theo Lim xanh phát triển chiều cao nhanh hơn, đến tuổi 10 – 12 Lim
xanh đã vươn lên cùng tầng với Mỡ. Trần Nguyên Giảng đã nhận xét rằng
Lim xanh có khả năng trồng hỗn loài với Mỡ nhưng chưa tìm được tỷ lệ thích
hợp. Xét về mặt cải thiện đất, cây Lim xanh có thể là cây cải tạo đất khá tốt,
nhưng Xà cừ và Tếch thể hiện tác dụng này chưa rõ [11]
Nguyễn Bá Chất và các cộng sự (1976) đã sử dụng cây phù trợ là các
loài cây có khả năng cố định đạm như: Cốt khí (Polygonum reynontria),
Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Lim xẹt (Peltophorum tonkinense), để thí
12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiệm trồng rừng hỗn loài Bồ đề (Styrax tonkinensis) với Mỡ (Manglietia
glauca) và Xoan đào (Betula alnoides) ở Tuyên Quang và Phú Thọ. Tác giả
đã bố trí thí nghiệm theo băng và theo hàng, kết quả sau 5 năm cho thấy năng
suất của rừng Bồ đề trồng hỗn loài có cây phù trợ tăng 15 – 20% so với rừng
Bồ đề trồng thuần loài. Lượng thảm mục dưới tán rừng trồng hỗn loài cũng
được cải thiện hơn so với rừng trồng thuần loài .

các công trình nghiên cứu về quy luật chủ yếu của rừng tự nhiên Miền
Bắc – Việt Nam tác giả cũng đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều
phân thành nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm
tươi. Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp
ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu. Trong đó, có 2 mô
hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và
rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng.
Khi đánh giá một số mô hình trồng rừng hỗn loài giữa cây bản địa với
Keo tai tượng ở các tỉnh phía Bắc, Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2005) đã có
nhận xét rằng hầu hết cây trồng chính trong các mô hình rừng hỗn loài đều đã
và đang bị cây phù trợ (Keo tai tượng) lấn át mạnh. Nhưng đối với mô hình
trồng rừng hỗn loài trong nghiên cứu đã điều chỉnh được cây phù trợ kịp thời
nên bước đầu đã tạo điều kiện cho cây trồng chính sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống
cao từ 80 – 93%. Tỷ lệ sống chung cho cả lâm phần đạt trên 90%. Tác giả còn
đề xuất được 2 mô hình có triển vọng nhất đó là mô hình trồng hỗn loài với
thảm che Keo tai tượng 7 tuổi ở Ngọc Lặc - Thanh hóa và mô hình trồn hỗn
loài với cây phù trợ Keo tai tượng trồng trước 1 năm ở Cầu Hai – Phú Thọ.
Một nghiên cứu khác của Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2005) về
trồng rừng hỗn giao giữa Keo trắng (Paraserianthes falcataria) với Lõi thọ
(Gmelia arboria) ở Lương Sơn - Hoà Bình, trên đất rừng sau nương rẫy với
độ dốc từ 15
0
- 20
0
. Kết quả cho thấy cả Keo trắng và Lõi thọ đều sinh trưởng
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tốt, chưa thấy xuất hiện sâu, bệnh hại, Lõi thọ đã bắt đầu ra hoa, có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status