nghiên cứu mật độ xương theo nhóm tuổi ở phụ nữ miền bắc việt nam bằng phương pháp dexa - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số thế giới đang lão hóa đặc biệt ở các nước phát triển và đang
phát triển. Trong khi đó, loãng xương là một bệnh thường xảy ra ở người cao
tuổi. Vì thế, loãng xương là một vấn đề đang được thế giới quan tâm. Tần suất
các bệnh cơ xương khớp tăng lên cùng với tuổi trong loãng xương là một trong
những bệnh thường gặp nhất ở tuổi > 50. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở phụ nữ
từ 60 tuổi trở lên có khoảng 20% mắc chứng loãng xương, ở nam cùng tuổi
khoảng 10%[*]. Ở Việt Nam, một nghiên cứu dịch tễ cho thấy khoảng 20%
phụ nữ trên 60 tuổi có triệu chứng loãng xương.[*]
Hệ quả nghiêm trọng nhất của loãng xương là gãy xương. Gãy xương
do loãng xương hiện nay được coi như vấn đề chính của sức khỏe cộng
đồng,nó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như nền kinh tế của nhiều
nước.Ở Mỹ hàng năm có 1,5 triệu trường hợp gãy xương do loãng xương[*].
Dự báo trên thế giới tần suất gãy xương do loãng xương vẫn gia tăng hàng
năm, con số này ước tính lên đến 6,3 triệu người vào năm 2050 so với 1,7
triệu năm 1990. Nguy cơ gãy xương ở phụ nữ da trắng từ 50 tuổi trở lên là
40% trong khi đó chỉ có 9% phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú. Hàng năm hệ
thống chăm sóc sức khoẻ ở Mỹ phải chi phí cho điều trị loãng xương ít nhất là
40 tỷ đô la còn ở Pháp là 3-4 tỷ francs ,chi phí cho gãy xương do loãng xương
ở Mỹ là 14 tỉ đô la [*] .
Các triệu chứng của loãng xương thường biểu hiện âm thầm, chỉ khi
trọng lượng xương mất đi 30 – 40% mới có biều hiện trên lâm sàng như: đau
dọc các xương dài, đau cột sống, gù vẹo cột sống, gãy xương trong nhiều
trường hợp bệnh không có biểu hiện triệu chứng do đó người mắc bệnh không
biết cho đến khi bị gãy xương. Vì vậy cần có phương pháp chẩn đoán sớm
loãng xương để phòng ngừa gãy xương. Hiện nay, có nhiều phương pháp
1
chẩn đoán bệnh loãng xương trong đó phương pháp đo tỷ trọng khoáng bằng
hấp thụ tia X năng lượng kép được cho là phương pháp có độ chính xác cao
để đo mật độ chất khoáng trong xương ( BMD ) ở cẳng tay, cổ xương đùi, cột
sống thắt lưng.Mật độ xương là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất ,nó được

1.1.2.1. Đại thể
Chia thành 2 nhóm :
* Xương đặc: phần ngoài (vỏ xương) chiếm 80% toàn bộ khung xương,
xương đặc có mật độ chất khoáng cao.
* Xương xốp: phần trong ( bè xương) cấu trúc dạng mạng lưới ba chiều
giống như một tảng tổ ong giúp xương phát huy chức năng cơ học tối đa với
trọng lượng tối thiểu.
3
Xương đặc và xương xốp khác nhau về cấu trúc. 80-90% khối lượng
xương đặc bị calci hóa trong khi chỉ có 15 – 25% xương xốp bị calci hóa. Do
sự khác biệt về cấu trúc của xương đặc và xương xốp dẫn tới sự khác nhau
chức năng . Xương đặc chủ yếu có vai trò cơ giới và bảo vệ trong khi xương
xốp có chức năng chuyển hóa.
1.1.1.2.Vi thể:
Xương bao gồm chất khuôn xương (Bone matrix) và các tế bào xương.
* Chất khuôn xương: là một khuôn hữu cơ, được làm bền vững thêm
nhờ các muối lắng đọng trên khuôn hữu cơ này. Khuôn hữu cơ chiếm 30%
khối lượng trong toàn bộ xương, gồm 90 – 95% các sợi collagen và 5 -10%
các chất nền sulfat chondroetin và axit hyaluronic. Các muối lắng đọng trên
khuôn hữu cơ chiếm 70% trọng lượng xương, chủ yếu là muối calci và
phosphat, ngoài ra còn có muối Mg
2+
, Na
+
, K
+
, HCO
3-
. Khác với các cấu trúc
liên kết khác, khuôn xương có thể calci hoá.

và bắt đầu quá trình tạo xương. Trong giai đoạn chuyển đổi các hốc xương tạo
ra trong quá trình huỷ xương được lót bởi các tế bào đơn nhân. Trong quá
trình tạo xương các tế bào đơn nhân được thay thế bởi các tế bào nguồn gốc
xương , các tế bào này sau đó được biệt hoá thành tạo cốt bào để tổng hợp nên
chất căn bản chứa calci lắng đọng, các hốc được làm đầy dần với xương mới.
Khi các hốc đầy, tạo cốt bào trở thành những tế bào lát phẳng trong khi chất
cơ bản không calci hoá thu hẹp lại, thậm chí biến mất. Để hoàn thành quá
trình tái tạo xương, cần vài tháng [10;66].
Nhờ quá trình tái tạo xương mà mô xương liên tục đựơc thay thế để duy
trì khối lượng, hình dáng và sự toàn vẹn của xương. Tuy nhiên để quá trình tái
tạo xương được hoàn thiện đòi hỏi phải có sự cân bằng giữa quá trình huỷ
xương và tạo xương.
Quá trình hủy xương và tạo xương được điều hòa bởi các hormon và
cytokin.
5
Trong bộ xương của người trưởng thành , có gần 5-10% của xương
được thay thế hàng năm .Điểm đặc trưng của quá trình đổi mới xương là
không xảy ra đồng bộ suốt bộ xương .Đổi mới xương xảy ra ở các đơn vị đổi
mới xương ( Bone Multicellular Unit -BMU) hoặc các đơn vị đa tế bào cơ sở
của chuyển đổi xương.Hoàn thành quá trình tái tạo xương cần 3 đến 5 tháng.
1.2.2. Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tái tạo của xương
[7;66]:
* Những thông số sinh hoá phản ánh quá trình tạo xương:
- Osteocalcin: Là một protein có 49 acid amin, phân tử lượng là 5800. Nó là
một protein đặc hiệu của xương được tổng hợp từ tạo cốt bào và nguyên bào
xương. Nồng độ osteocalcin liên quan đến tốc độ tạo xương và sự khoáng hoá.
Định lượng osteocalcin là một xét nghiệm sinh hoá đặc hiệu trong chẩn đoán
loãng xương. Nồng độ osteocalcin tăng trong loãng xương, có giá trị đánh giá sự
mất xương chậm và theo dõi dài hạn quá trình điều trị loãng xương.
- Phosphatase kiềm của xương: Là một enzym ở tại màng tạo cốt bào. Hoạt

insulin sự tăng trưởng và calci hoá của xương bị giảm.
- Growth hormon ( GH ): là hormon tăng trưởng do tế bào ưu axit ở
thuỳ trước tuyến yên tiết ra, bản chất là một polypeptit có trọng lượng phân tử
21.000 dalton. Hormon này không có tác dụng trực tiếp đến sự tái tạo xương
7
và huỷ xương, nhưng nó kích thích sự tổng hợp IGF - 1 (insulin – like growth
facter - 1 ) của tế bào xương do đó làm tăng tổng hợp khuôn hữu cơ của
xương, phát triển sụn liên hợp làm tăng chiều dài xương.
- 1,25 Dihydroxy Vitamin D3 ( calcitriol ) là hormon được tổng hợp
chủ yếu từ thận. Vai trò quan trọng của vitamin D3 là tăng quá trình hấp thụ
calci ở ruột và xương thông qua sự tồng hợp osteocalcin. Vì vậy nó cần thiết
cho sự trưởng thành và calci hoá bình thường của xương.
- Glucocorticoid: là một steroid hormon do vỏ thượng thận tiết ra, có
tác dụng rõ rệt đối với chuyển hoá xương và chất khoáng của xương do làm
tăng thoái hoá protein của khuôn xương. Khi dùng Glucocorticoid kéo dài sẽ
làm tăng thoái hoá khuôn hữu cơ, giảm lắng đọng muối do làm giảm sự sao
chép tiền tạo cốt bào dẫn đến mất nhiều tạo cốt bào và gây nên giảm khối
lượng xương.
- Thyroid hormon: các hormon T3, T4 của tuyến giáp rất cần thiết cho
sự tăng trưởng và phát triển bình thường của xương do vai trò chuyển mô sụn
thành mô xương của chúng.
- Các hormon sinh dục:
+ Estrogen và Testosterol là những hormon sinh dục cần thiết cho sự
trưởng thành của mô xương, vai trò này đã được chứng minh trong việc dự
phòng mất xương do mãn kinh và do tuổi tác.
+ Năm 1940 Albright là người đầu tiên đã thấy được mối liên hệ giữa
chứng loãng xương và giảm chức năng của buồng trứng ở phụ nữ. Sau đó các
kết quả nghiên cứu đã khẳng định kết luận của Albright. Mặc dù mất xương là
hiện tượng sinh lý xuất hiện từ sau tuổi 40 ở cả 2 giới, song rõ ràng tốc độ
mất xương ở cả nam và nữ là hoàn toàn khác nhau. Ở tuổi 70 có tới 50% phụ

10
Bảng các nội tiết tố ảnh hưởng đến chuyển hóa xương
• Giảm hủy xương :
+ Calcitonin.
+ Estrogen.
• Tăng hủy xương:
+ PTH/PTHrP
+ Glucocorticoid
+ Hormon tuyến giáp
+ Liều cao vitamin D
• Tăng tạo xương:
+ Hormon tăng trưởng
+ Chuyển hóa vitam D
+ Androgen
+ Insulin
+ Liều thấp PTH\PTHrP
• Giảm tạo xương
+ Glucocorticoid
1.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trỡnh mất xương:
* Tuổi: Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ tuổi càng cao mật
độ xương càng giảm. Ở người già có sự mất cân bằng giữa tạo xương và huỷ
xương. Chức năng của tạo cốt bào bị suy giảm là một nguyên nhân dẫn tới
tình trạng mất xương ở người già. Một nguyên nhân thứ hai dẫn tới sự mất
xương ở người già là sự suy giảm hấp thu calci ở ruột và sự giảm tái hấp thu
11
calci ở ống thận. Tham gia vào quá trình hấp thu calci ở ruột có vai trò của 1,25
Dihydroxycholecalciferol. Ở người già nồng độ 25 Hydroxycholecalciferol
(tiền chất của 1,25 Dihydroxycholecalciferol) trong máu cũng giảm do chế độ
dinh dưỡng, do giảm tiếp xúc với ánh sáng mặt trời [32]
* Yếu tố dinh dưỡng: Dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của

khỏi tình trạng mất xương thông qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển
androgen của tuyến thượng thận thành estron ở mô mỡ
Cân nặng là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến mật độ xương đỉnh. Những
người to lớn có khối lượng mỡ và nạc lớn hơn. Nếu như ở phụ nữ cả khối mỡ
và khối nạc đều ảnh hưởng đến mật độ khoáng của xương thì ở nam giới khối
nạc có vai trò quan trọng hơn [*]. Trong mọi trường hợp, những người nặng
cân sẽ có bộ xương nặng hơn. Hơn nữa, những người phụ nữ thừa cân hấp thụ
calci tốt hơn và có chu chuyển xương ít nhạy cảm với parathyroid hormone
bởi vậy khối xương được duy trì [*]. Những phụ nữ nhẹ cân có tỷ lệ gãy
xương cao hơn. Có thể cho rằng những người gầy ít tổ chức mỡ đệm bởi vậy
nếu họ ngã thì sự va đập sẽ mạnh hơn tuy nhiên còn một lý do nữa khiến tỷ lệ
gãy xương cao ở những người gầy đó là khối xương của họ thấp hơn. Đặc
13
biệt, những phụ nữ trẻ mắc chứng chán ăn sẽ có khối xương thấp và có nguy
cơ cao xẹp lún đốt sống do loãng xương sau này. Mối liên quan giữa trọng
lượng cơ thể và hormone sinh dục chưa được biết tường tận. Tuy nhiên người
ta thấy rằng thừa cân là một yếu tố bảo vệ những phụ nữ có nguy cơ loãng
xương do thiếu hụt estrogen và ngược lại những phụ nữ gầy đồng thời có tình
trạng suy giảm nồng độ estrogen thì tình trạng mất xương diễn ra nghiêm
trọng hơn. Như vậy sự phối hợp giữa khối mỡ thấp và thiếu hụt estrogen ở
phụ nữ trẻ là một yếu tố đặc biệt có hại đối với sự hình thành mật độ xương
đỉnh [*].
* Yếu tố chiều cao: Chiều cao là yếu tố có ảnh hưởng đến mật độ
xương. Những người tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ
loãng xương.
Dedhar A.A .và cộng sự [*] đã tiến hành do mật ddoooj xương cẳng tay
bằng DEXA cho 22 nam giới thì thấy rằng mật độ xương có liên quan đến
chiều cao (r=0,570).
Zerbini Ca. và cộng sự [*] cũng cho rằng có mối liên hệ dương tính giữa
mật độ xương và chiều cao nhưng yếu hơn.

- Suy thận
- Xơ gan
- Viêm khớp mãn tính viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính
khớp,bệnh lý cơ .
* Các yếu tố khác: Di truyền, sử dụng một số thuốc gây tăng mất xương,
uống rượu, hút thuốc lá, tình trạng sinh nở đều có ảnh hưởng đến loãng
xương.
15
1.3. Khái niệm loãng xương
1.3.1. Định nghĩa loãng xương:
Theo định nghĩa của WHO (1991) loãng xương là một bệnh với đặc
điểm khối lượng xương suy giảm, vi cẩu trúc của xương bị hư hỏng ,dẫn đến
tình trạng xương bị yếu và hệ quả là tăng nguy cơ gãy xương. [*]
Giảm mật độ xương: Khái niệm giảm mật độ xương được dùng để chỉ một
khối lượng xương thấp đơn thuần so với tuổi và giới [*].
* Riggs đã chia sự thay đổi khối lượng xương trong quá trình phát triển
của cơ thể thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: Trong quá trình phát triển, sự tạo xương mạnh hơn
huỷ xương. Khối lượng xương tăng dần để đạt tới giá trị tối đa được gọi là “
khối lượng xương đỉnh " (Peak Bone Mass-PBM). PBM được định nghĩa là
khối lượng của mô xương lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành. Thường tốc độ
hình thành xương cao ở xung quanh tuổi dậy thì, đạt độ đỉnh ở tuổi 30[*]. Tuy
nhiên thời điểm đạt được PBM thì khác nhau giữa nam và nữ và giữa các
chủng tộc. Nữ đạt PBM sớm hơn so với nam từ 3-5 năm. Nữ da trắng có bộ
xương nhẹ nhất, nam da đen có bộ xương nặng nhất. Hai yếu tố quan trọng
quyết định sự khác nhau của khối lượng xương đỉnh là yếu tố di truyền và
hàm lượng calci trong chế độ ăn[*]. Như vậy PBM ở tuổi trưởng thành là một
trong những yếu tố quyết định khối lượng xương của cơ thể.
- Giai đoạn mất xương chậm: Giai đoạn này bắt đầu từ sau tuổi 40 ở
các đoạn xương dài, ở các xương xốp có lẽ sớm hơn 5-10 năm. Trong giai

hấp thu, bệnh gan mật mạn tính… người ta còn thấy laõng xương thứ phát ở
17
những đối tượng có tình trạng dinh dưỡng kém, nghiện rượu, thuốc lá. Đặc
biệt laõng xương hay gặp ở những người phải điều trị kéo dài bằng
glucocorticoid, heparin, thuốc chống co giật…
1.3.3.Các yếu tố nguy cơ loãng xương được công nhận:[*]
• Tuổi .
• BMI thấp
• Tiền sử gãy xương trước tuổi 40.
• Tiền sử gia đình có người bị gãy xương do loãng xương.
• Mật độ xương thấp.
• Hút thuốc lá.
• Sử dụng nhiều rượu.
• Nguy cơ loãng xương thứ phát: viêm khớp dạng thấp, sử dụng
glucocorticoids từ 3 tháng trở lên
1.4. Các biểu hiện lâm sàng của loãng xương
Những biểu hiện lâm sàng chỉ xuất hiện khi mật độ xương giảm trên
30% [1]. Triệu chứng lâm sàng có thể xuất hiện đột ngột sau một chấn thương
nhẹ hoặc có thể xuất hiện từ từ tăng dần.
* Đau: Thông thường loãng xương gây đau xương và đó là triệu chứng
chính. Thường đau ở vùng xương chịu tải của cơ thể (cột sống thắt lưng, chậu
hông), đau nhiều sau chấn thương, đau âm ỉ nếu là tự phát. Đau tăng khi vận
động, đi lại, đứng ngồi lâu, giảm khi nghỉ ngơi.
Có rất nhiều nguyên nhân gây đau cột sống. Đau cột sống có thể xảy ra
ở mọi lứa tuổi .
- Ở lứa tuổi 30-40: Tuy còn trẻ nhưng cột sống đã có những biểu hiện
lão hoá đĩa đệm, phần bên trong bị khô còn phần bên ngoài bị rạn nứt không
18
còn là cái đệm tốt cho những đốt sống nữa. Hiện tượng này có thể gây đau
lưng. Tuổi 30-40 là tuổi phải gánh vác những công việc nặng nhọc trong lao

Những triệu chứng trên gợi ý tới gù do loãng xương , lún đốt sống. Khác
với gù do viêm đốt sống, do vi khuẩn (lao, tụ cầu), thường gây lún nặng một
vài đốt sống gây gù nhọn ra phía sau nên không thể dãn ra khi bệnh nhân cố
gắng vươn người lên.
Chiều cao của cơ thể giảm: Mỗi một đốt sống bị xẹp hoàn toàn có thể
làm chiều cao của cơ thể giảm 1cm và trong những trường hợp nặng khi nhiều
đốt sống bị xẹp chiều cao của cơ thể có thể giảm từ 10 - 20cm [34].
* Gẫy xương:
Gãy xương do loãng xương thường là những gãy xương tự nhiên hoặc
sau một sang chấn rất nhỏ như ho hắt hơi, ngã nhẹ
Những loại gẫy xương chủ yếu gặp ở người già gồm gãy xương cẳng tay,
gẫy đốt sống, gẫy xương chậu, gãy cổ xương đùi. Tần suất gẫy xương tăng dần
theo tuổi và tăng ở phụ nữ do tình trạng mất xương nhanh sau mãn kinh [21].
Thường gãy xương cẳng tay xẩy ra khoảng 10 năm sau mãn kinh, xẹp lún đốt
sống xảy ra sau 15-20 năm sau mãn kinh và gẫy cổ xương đùi xảy ra sau 70 tuổi
[*]. Trong đó gãy xương cẳng tay là loại gẫy xương gặp nhiều nhất trước tuổi
75. Tuy nhiên gãy cổ xương đùi là loại gãy xương đáng phải lưu tâm nhất do tỷ
lệ tử vong sau gãy cổ xương đùi cao, gây mất vận động nghiêm trọng và đòi hỏi
phải chi phí nhiều trong việc điều trị [*].
1.5. Các phương pháp đo mật độ xương:
20
Đo mật độ xương là phương pháp thăm dò không xâm lấn thực hiện dễ
dàng để đánh giá khối lượng xương và nguy cơ gãy xương.
21
1.5.1. Đo hấp thụ Photon đơn (SPA – Single Photon Absorptiometry) [*].
Là phương pháp được ra đời từ năm 1963
- Nguyên lý của phương pháp này là dựa vào sự thay đổi của chùm tia
γ phát ra từ nguồn phóng xạ (thường là I
125
) phóng qua vùng cần nghiên cứu

sánh với một phanton đi kèm chứa K
2
HPO
4
hoặc CaCO
3
ở các nồng độ khác
nhau.
- Ưu điểm: QCT cho biết tỷ trọng khoáng thực sự 3 chiều của xương,
có khả năng nghiên cứu tách biệt các phần xương bè, vỏ xương và cột sống.
- Nhược điểm: Nguồn tia xạ cao ( 200-1500 mrem ) thời gian thăm dò
kéo dài ( 15 phút ). Giá thành còn cao.
1.5.4. Hấp thụ tia X năng lượng đơn (Single – energy X - ray absorptiometry -
SXA):
- Nguyên lý: phương pháp này cũng dựa trên nguyên lý giống như SPA
tuy nhiên nguồn tia xạ được thay bằng tia X. SXA được ứng dụng để đo tại
các vị trí đầu dưới xương quay và gót chân. Vị trí được đo đòi hỏi phải được
bao quanh bởi môi trường nước hoặc gel. Mức độ sai số tương tự như SPA.
1.5.5. Đo hấp thụ tia X năng lượng kép ( DEXA - Dual Energy Xray
Absorptiometry ) [*] .
- Nguyên lý: Cũng tương tự như DPA nhưng nguồn tia γ phát ra từ
Gadolinium 153 được thay thế bằng nguồn phát tia X. Nguồn photon phát xạ
lớn hơn DPA gấp 500 – 1000 lần, cho phép thời gian thăm dò ngắn (khoảng 5
– 7 phút ), khả năng tái lập kỹ thuật tốt, mức độ sai số là 1%.
- Ưu điểm: Độ chính xác cao, thời gian thăm dò ngắn, liều tia thấp chỉ
2 - 4 mrem, đánh giá tách biệt giữa xương bè và xương vỏ, chi phí thấp. Có
thể đo được ở những vị trí có nguy cơ cao như cột sống thắt lưng, cổ xương
đùi và các vị trí ngoại biên như cổ tay, xương gót hoặc đo toàn thân.
23
- Nhược điểm: Bị hạn chế khi đánh giá nếu gặp các gai xương và calci

* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Loại bỏ những đối tượng có tiền sử mắc các bệnh liên quan đến loãng
xương như :
+ Rối loạn tiêu hoá kéo dài.
+ Cắt dạ dày ruột.
+ Suy thận.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status