MỤC LỤC
TT Nội dung Trang
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Gới hạn phạm vi nghiên cứu 4-5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Thời gian gnhieen cứu 5
8 Phần thứ II: Nội dung
9 Chương 1: cơ sở lý luận của đề tài 5-6
I. lý do của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 6-7
II. ý nghĩa của việc cho trẻ chuẩn bị vào lớp 1 7
III. . Nội dung của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 7-11
IV. nhiệm vụ của giáo viên trong công tác chuẩn bị cho cho trẻ
vào lớp 1
11-14
Chương II: Thực trạng của đề tài
I. Chương trình đổi mới với việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. 14-16
II.Đặc điểm phát triển của trẻ 5 tuổi đối với việc chuẩn bị cho trẻ
vào lớp1.
17-18
Chương III: Giải quyết vấn đề 18
1. Thực nghiệm1 18-20-
2. Thực nghiệm 2 20-21
Phần III: Kết luận kiến nghị 21
1
1.Kết quả 21-23
2.Bài học kinh nghiệm 23
3.ý kiến kiến nghị 23
kiện cho trẻ vào lớp 1 là vô cùng quan trọng.Tôi hy vọng qua việc thử nghiệm này
sẽ giúp cho học sinh của lớp tôi có 1 tâm thế vững vàng để bước vào lớp 1. Và qua
đó sẽ giúp tôi có được những kinh nghiệm trong công tác giáo dục trẻ.
2. Mục Đích Nghiên Cứu
“Một số vấn đề chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1." Để thấy được tầm quan trọng của việc
cho trẻ đi học ở trường mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 5 tuổi nói riêng là vô
cùng quan trọng cho việc học tập sau này của trẻ.
Thấy được vị trí trung tâm của trẻ trong công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
Giúp giáo viên có thêm những kiến thức về đặc điểm phát triển của trẻ 5 tuổi có
liên quan đến việc vào trường phổ thông
Giáo viên có được những kỹ năng chuẩn bị về mặt ngôn ngữ cho trẻ 5 tuổi vào
lớp1.
Giáo viên có được kỹ năng dạy trẻ "làm quen với các chữ cái" theo hướng tích cực
hóa hoạt động của trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về 1 số vấn đề chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1.Để thực hiện tốt đề tài
này cần chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý trẻ, cuộc sống của trẻ, phương pháp tổ chức
các hoạt động,
4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
4
Những vấn đề cho trẻ vào lớp 1 là vô cùng rộng lớn, do đó việc lựa chọn kiến thức
phải phù hợp, thiết kế môi trường phải phù hợp, phải biết vận dụng tất cả các hoạt
động trong ngày.
Vấn đề đảm bảo cho trẻ có thể học tập tốt ngay từ những năm đầu ở trường phổ
thông có tầm quan trọng đặc biệt đối với quá trình phát triển tương lai của trẻ. Bởi
sự phát triển của một giai đoạn vừa là kết quả của một giai đoạn trước đó vừa là
tiền đề cho giai đoạn phát triển kế tiếp.
Nếu chúng ta hình thành ở trẻ được tâm thế sẵn sàng cho trẻ thì việc trẻ vào
lớp 1một cách rất tự nhiên thỏa mái. Nhưng nếu trẻ không được dạy giao tiếp với
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương I: Cơ sở lý luận
I. Lý do của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1:
Sinh thời Hồ Chủ Tịch đã dạy
“ Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ Tịch Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm
đến sự phát triển giáo dục. Trong đó giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ
thông giáo dục quố dân. Thực hiện tốt định hướng chiến lược giáo dục mầm non là
cơ sở thực hiện vững chắc chiến lược phát triển giáo dục đào tạo.
Điều 19 của luật giáo dục về mục tiêu giáo dục mầm non là : Giúp trẻ
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên
của nhân cách, chuẩn bị cho trẻt vào học lớp 1.
Vậy vì sao cần phải chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông?
Đến 6 tuổi,bất cứ một em bé nào phát triển bình thường đều có thể đi học
được. Đối với trẻ việc đến trường phổ thông được coi như một bước ngoặt quan
trọng của cuộc đời. Đó là việc trẻ được chuyển qua một lối sống mới với những
hoạt động mới đồng thời trẻ cũng được chuyển qua một vị trí xã hội mới với những
mối quan hệ mới của một người học sinh thực thụ.
Đối với trẻ 5 tuổi hoạt đông vui chơi đang giữ vai trò chủ đạo chơi là hoạt
động mang tính tự do thỏa mái, không bắt buộc. trong khi chơi trẻ hoàn toàn tự do
tùy theo tình huống mà trẻ có thể chơi trò chơi này hay trò chơi khác, thích thì chơi
không thích thì thôi.
Còn khi vào1ớp phải làm nhiệm vụ của một người học sinh với hoạt động
chủ đạo bây giờ là hoc tập với tính chất bắt buộc trẻ phải tuân theo. Hơn nữa tới
trường trẻ phải hòa nhập với một môi trường hoàn toàn khác, xa lạ với những gì
quen thuộc trước đây “ cô giáo là mẹ hiền ’’ trẻ như được sống trong gia đình thì
giờ đây mọi thứ trở nên xa lạ đối với trẻ.
Hơn nữa, ở mỗi giai đoạn phát triển đều có những yêu cầu về sinh lý, tâm lý
về xã hội thì đòi hỏi học sinh phải thích ứng mới học tập được kết quả. Nếu không
phổ thông. Việc làm đó là không phù hợp với quy luật phát triển của trẻ dưới 6
tuổi, mà đáng ra ở lứa tuổi này trẻ phải được vui chơi làm những gì mà mình thích
thì giờ đây trẻ phải ngồi vào bàn học để tập viết, học tính Nhiều trẻ em trở nên
già trước tuổi so với bạn của mình.
Chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông không phải làm thay cho giáo dục tiểu
học. Không nên dạy trước những gì mà sau này trẻ sẽ được học ở trường phổ thông.
Không nên yêu cầu trẻ phải như một học sinh thực thụ ngay khi ở tuổi mẫu giáo,
mà phải đảm bảo cho trẻ sống đúng lứa tuổi của mình, hồn nhiên vui tươi .
7
Để giúp trẻ thích ứng với môi trường hoạt động mới và học tập có kết quả ở
trường, việc chuẩn bị cho trẻ phải được tiến hành một cách toàn diện và có cơ sở
khoa học:
1.1) Hình thành ở trẻ lòng mong muốn được đến trường:
Theo các nhà tâm lý thì lòng mong muốn được đi học, được trở thành người học
sinh được biểu hiện ở cuối tuổi mẫu giáo ( từ 5 tuổi ) đó là đặc điểm quan trọng để
chúng ta chuẩn bị tốt cho trẻ tâm thế sẵn sàng bước vào trường phổ thông.
Thông qua các hình thức đi dạo, đi tham quan trường tiểu học, gặp gỡ, quan sát
các anh chị học sinh lớp 1 làm quen vớ các đồ dùng của học sinh lớp 1: sách vở,
giấy bút, cặp sách, khăn đỏ để khơi dậy lòng mong mỏi, tâm thế náo nức được
đến trường được học tập như các anh chị.
1.2) Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ biết sử dụng tiếng phổ thông một
cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày.
-Tiếng phổ thông là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nên văn hóa dân
tộc, để hoạt động và giao lưu với những người xung quanh.
-Trình độ phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo được coi là một điều kiện hết
sức quan trọng trong việc tiếp thu tri thức và thực hiện nhiệm học tập có kết quả ở
trường phổ thông. Do vậy ở cuối tuổi mẫu giáo trẻ em biết sử dụng thành thạo tiếng
phổ thông là một yêu cầu nghiêm túc.
-Thông qua các hoạt động hàng ngày dạy trẻ phát âm đúng dùng ngữ điệu đúng khi
giao tiếp, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp diễn đạt mạch lạc những điều mình muốn nói.
-Về các hiện tượng thiên nhiên gần gũi với trẻ: nắng, mưa, gió, đất đai, sỏi
đá, nước, không khí, những tri thức này có thể cung cấp cho trẻ qua vui chơi( góc
thiên nhiên qua lao động )
1.4) Dạy trẻ biết định hướng không gian và thời gian :
*Dạy trẻ biết định hướng trong không gian
- Dạy trẻ biết lấy thân mình làm chuẩn để xác định các hướng trong không gian:
trên- dưới, trước- sau, phải- trái.
-Dạy trẻ biết xác định các hướng trong không gian nhưng không lấy mình làm
chuẩn mà lấy bất kỳ một vật nào đó tức là dạy trẻ biết cách tránh mình ra khỏi các
đối tượng.
VD: trẻ lấy cái bàn làm chuẩn để xác định cái ca cái cốc. ở trên bàn, ở dưới gầm
bàn, phía trước, phía sau, bên trái, bên phải cái bàn
1.5.Dạy trẻ định hướng trong thời gian dạy trẻ nhận biết các thời điểm
trong ngày( sáng,trưa, chiều, tối, đêm ) các ngày trong tuần từ thứ hai và chủ
nhật ); một số đặc điểm ngày kỷ niệm, nhưng ngày lễ lớn ( 1/ 6, 8/3, 5/9, 20/ 11,
22/ 12 ) các mùa trong năm “ xuân, hạ,thu,đông “
-Hình thành cho trẻ nhưng biểu tượng đúng với quá khứ hiện tại và tương lai: vừa
rồi, bây giờ, chốc nữa, ngày mai,hôm nay sau này
-Dạy trẻ ước lượng gần đúng khoảng thời gian đơn giản thông qua các hình thức kể
chuyện, múa hát, tạo hình, các công việc hàng ngày: Như ghi chép các con số theo
yêu cầu, ghi tiền đi chợ cho mẹ, viết tên các thành viên trong gia đình.
Hoặc:+ 10 phút nũa chung mình phải ăn xong!
+Ngày mai là chủ nhật đấy.
9
- Khả năng định hướng không gian và thời gian sẽ giúp trẻ tập đọc, tập viết dễ dàng
và thích ứng với giờ giấc học tập sinh hoạt khi vào lớp 1. Viêc hình thành khẳ năng
định hướng trong không gian và thời gian là một qua trình lâu dài và được thực
hiện thông qua mọi hoạt động của trẻ, trong đó vui chơi và tiết học giữ vai trò chủ
đạo.
2:Tổ chức cho trẻ hoạt động trí tuệ :
động giáo dục đặc biệt là qua việc tổ chứ các tiết học cần giúp trẻ phân loại hệ
10
thống hóa các sự vật hiện tượng khách quan theo một vài dấu hiệu đăc trưng ( đồ
dùng để ăn, đồ dùng để uống, gia cầm , gia súc, )
Cùng với việc phát triển tư duy trực quam hình tượng cho trẻ mẫu giáo 5
tuổi, chúng ta cần hình thành ở trẻ kiểu tư duy trực quan sơ đồ.
Tư duy trực quan sơ đồ được hình thành trong mọi hoạt động trong đó mô
hình, sơ đồ thay cho vật thật.
Chẳng hạn khi tổ chức cho trẻ chơi, cô giáo cần giúp trẻ sử dụng thành thạo các
vật thay thế và hành động với mô hình tưởng tượng trong đầu hay mô hình quan sát.
Thông qua việc phát triển tư duy trực quan hình tượng và tư duy trực quan sơ
đồ cần kích thích sự xuất hiện các yếu tố của tư duy lôgic ở trẻ 5-6 tuổi. Giúp trẻ
biết suy nghĩ, phán đoán trong quá trình giải quyết nhiệm vụ chơi, nhiệm vụ học
tập và bước đầu hình thành một số khái niệm đơn giản gần gũi với trẻ.
VD: “ bác sĩ : - là người kê đơn, cấp thuốc cho bệnh nhân
Y tá : - là người phát thuốc cho bệnh nhân và tiêm
Quá trình phát triển tư duy của trẻ phải chú ý hình thành, rèn luyện các thao
tác tư duy : phân tích, so sánh, tổng hợp, phán đoán, suy luận và những phẩm chất
của tu duy ( tính linh hoạt , mềm dẻo , tinh phê phán, )
Một yếu tố quan trọng để phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo là hình thành ở
trẻ nhu cầu nhận thức lòng ham thích hoạt đọng trí óc và tính độc lập tích cực trong
quá trình hoạt động.
4.Dạy trẻ biết cách ứng xử với mọi người xung quanh
Dạy trẻ biết được vị trí của mình và rèn luyện cho trẻ biết cách ứng sử theo đúng vị
trí của mình trong các mối quan hệ đó:
Lễ phép với người lớn xung quanh.
Kính trong yêu mến, giúp đỡ ông, bà cha mẹ và cô giáo.
Đoàn kết thân ái với bạn bè cùng tuổi, nhường nhịn em nhỏ.
Cảm thông, chia sẻ, sẵn sàng giúp đỡ người tàn tật và gặp cảnh ngộ éo le.
Biết cảm ơn, xin lỗi.
*Trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là hoạt động vui chơi giáo
viên có thể tạo ra những tình huống có vấn đề mà giúp trẻ hứng thú với trò chơi
vừa kích thích lòng ham hiểu biết, tìm tòi khám phá của trẻ.
Chẳng hạn khi trẻ tham gia trò chơi “ của hàng bách hóa ’’, ta có thể tạo ra tình
huống: mua 2 gói kẹo, 3 mớ rau, để trẻ phải tính tiền, trả lại tiền thừa, hoặc
trong trò chơi vận động “ tìm đúng số nhà ’’, ta có thể thay đổi vị trí số nhà để tạo
ra sự linh hoạt của trẻ khi tìm nhà,
Trong các tiết học, việc tạo tình huống có vấn đề để kích thích hứng thú của
trẻ là rất cần thiết.
VD: Trong tiết học, cho trẻ làm quen với chữ cái, ta có thể tạo ra tình huống : Cùng
một chữ p ta lật ngược xuống thành chữ b, lật sang trái thành chữ d, và lật ngược
xuống thành chữ q, cuối cùng ta có thể giúp trẻ phân biệt được 4 chữ nói trên ở vị
trí không gian của các nét chữ và trẻ hứng thú học.
Ngoài ra trong các hoạt động hàng ngày cần khuyến khích trẻ tìm tòi khám
phá những điều mới lạ và những sáng kiến của trẻ.
12
*Kích thích lòng ham muốn được đi học ở trẻ:
Trường học là nơi giải đáp được những vấn đề mà trẻ đang băn khoăn, thắc
mắc, mong muốn được giải thích. Do vậy trong quá trình tổ chức cuộc sống và hoạt
động cho trẻ cần cho trẻ biết rằng những băn khoăn thắc mắc của trẻ khi được đi
học ở trường phổ thông các cháu sẽ được giải thích một cách tường tận.
Mặt khác cần cho trẻ thấy được đi học là một niềm hạnh phúc.
Trong giao tiếp, việc tổ chức các hoạt động cho trẻ cần giúp trẻ hiểu được
rằng để trở thành người tốt, người tài giỏi, thì chúng ta phải đi học.
Ngoài ra, việc cho trẻ tiếp xúc với cảnh thực việc thực như xoay quanh chủ
đề trường học, chúng ta có thể giói thiệu cho trẻ quang cảnh của một ngôi trường:
có phòng học, bàn ghế , bản đen; Mỗi học sinh trong bộ quần áo đồng phục với cặp
sách trên vai trong đó những quyển sách, quyển vở, giáy trắng tinh nổi bên lề là
điểm số màu đỏ tươi ,của giáo viên với biết mực thước kẻ sẽ làm cho trí hiểu biết
của trẻ tăng lên về một mảng hiện thực mà chỉ nay mai thôi các cháu sẽ được sống
* Dạy trẻ biết định hướng vào môi trường xung quanh.
Khả năng định hướng về không gian và thời gian là một biểu hiện của sự
phát triển trí tuệ .nó không chỉ giúp trẻ thchs ứng với môi trường sống mà còn là
điều kiện cần thiết để trẻ tiếp thu, lĩnh hội chương trình học tập ở trường phổ
thông.ngay từ những tháng đầu của cuốc sống đứa trẻ đã có khả năng định hướng
vào không gian khi có tác nhân kích thích (âm thanh,ánh sáng) tác động vào giác
quan của trẻ , khả năng này ngày càng phát triển cùng với sự hoạt động tích cực của
cảm giác và tri giác, đến tuổi mẫu giáo khả năng định hướng vào không gian đã khá
phát triển.
Thoạt đầu trẻ lấy bản thân mình làm chuẩn để xác định với sự tổ chức của cô giáo
trong hoạt động chơi, giao tiếp và học tập. Ngoài ra chúng ta cần dạy trẻ tách mình
ra khỏi đối tượng, lấy một vật bất kỳ nào đó để xác định hướng trong không gian
của đối tượng.
VD: phía bên phải cửa sổ là cái gì?
phía trước cái ghế là cái gì?
Khả năng định hướng vào thời gian giúp trẻ lĩnh hội được diễn biến vận
động, phát triển của các sự vật trong không gian thời gian. Chúng ta phải hình
thành ở trẻ biểu tượng đúng đắn về quá khứ, hiện tại và tương lai; mặt khác phải
dạy trẻ ước lượng gần đúng khoảng thời gian đơn giản, thông qua các hoạt động
hàng ngày.
Môi trường xung quanh rất đa dạng và phong phú, nó gồm có môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội. Đó là các tri thức trong đời sông của con người, nhưng
tri thức về thế giới tự nhiên đó là nhưng tri thức cần thiết để trẻ làm hành trang học
tập tốt ở trường phổ thông.
*Những định hướng xã hội:
Vào lớp 1 là một bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ.Để trẻ thích ứng nhanh
chóng với môi trường sống mới , thiết lập được các mối quan hệ của trẻ, cho trẻ
làm quen với những quan hệ xã hội mà sau này khi vào lớp 1 các em phải giao tiếp
ứng sử.
Đó là trẻ phải nhận biết vị trí của mình để có thái độ ứng xử cho phù hợp.
phát triển giáo dục mầm non. Mục tiêu đó là hình thành ở trẻ những chức năng tâm
lý, những cơ sở ban đầu nhân cách, năng lực làm người của trẻ và chuẩn bị cho trẻ
bước vào trường phổ thông có hiệu quả.
Đổi mới phương pháp giáo dục mầm non cũng nhằm hình thành, phát triển
trẻ trên 5 lĩnh vực gắn liền với việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1, theo mục tiêu giáo
dục mầm non:
1-PT tình cảm quan hệ xã hội
2-Phát triển nhận thức
3- Phát triển ngôn ngữ
4-Phát triển thể chất
5.Phát triển thẩm mĩ
15
Với các nội dung cụ thể như sau:
1. Về tình cảm quan hệ xã hội:
Cung cấp cho trẻ một số hiểu biết về các hiện tượng xã hội xung quanh, từ đó giáo
dục và hình thành ở trẻ tình cảm thái độ tích cực đối với cộng đồng và môi trường
xung quanh. Giáo dục trẻ sự tự tin vào khả năng, năng lực bản thân; phát triển ở trẻ
tính tự lực, biết hành động theo sáng kiến của mình, biết chịu trách nhiệm về những
việc mình làm hình thành ở trẻ khả năng đánh giá và tự đánh giá tương đối phù
hợp. Hình thành ở trẻ nếp sống và hành vi văn hóa biết gần gũi, bảo vệ thành quả
lao động của người khác và môi trường sống, phát triển ở trẻ những xúc cảm thẩm
mĩ, yêu thích cái đẹp và thích tạo ra cái đẹp.
2. Về phát triển nhận thức:
Nhằm cung cấp cho trẻ một số hiểu biết về thế giới xung quanh, biết hành động
hợp lý trong môi trường đó hình thành và phát triển các năng lực hoạt động trí tưẹ
cho trẻ ( quan sát, phân tích, so sánh, phân loại, khái quát, khả năng giải quyết vấn
đề theo nhiều cách khác nhau). Trẻ hiểu được một số quan hệ nhân quả trong môi
trường gần gũi với trẻ. Hình thành ở trẻ một số kiến thứ kỹ năng cần thiết cho việc
học tập của trẻ trong trường phổ thông: ( các biểu tượng toán sơ đẳng, những kỹ
năng ban đầu cho việc học đọc học viết ở lớp 1 ) phát triển ở trẻ tính tò mò, ham
thoe nội dung chủ điểm, dựa trên những hiểu biết về kinh nghiệm của trẻ, giúp trẻ
phát huy hết tiềm năng vốn có của mình.
Đổi mới giáo dục mầm non dựa trên quan điểm sư phạm thích hợp, đó là sự
nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con người như một thể thống nhất, nó đối lập
với cách nhìn chia cắt rạch ròi các sự vật và hiện tượng trong cuộc sống chỉnh thể
của trẻ. Xuất phát từ việc yêu cầu hình thành những năng lực kỹ năng chung, nhằm
tới sự phát triển chung của trẻ để hình thành những nền tảng nhân cách ban đầu ở
trẻ để hình thành những nền tảng nhân cách ban đầu ở trẻ. Chuẩn bị tốt cho trẻ khi
vào lớp 1và học tập tốt ở trường phổ thông.
5.Về PT thẩm mĩ:
Thích tìm hiểu và biết bộc lộ cảm xúc phù hợp trước vẻ đẹp của thiên nhiên,
cuộc sông các tác phẩm nghệ thuật.
Thích nghe nhạc, nghe hát ; chăm chú lắng nghe và nhận ra những giai điệu
khác nhau của các bài hát bản nhạc.
Hát đúng và biết thể hiện sắc thái .
II- Đặc điểm phát triển của trẻ 5 tuổi đối với công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
Công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là công việc được tiến hành từ khi trẻ
vào bước vào tuổi mẫu giáo tức là lúc trẻ 3-4 tuổi vì vậy ta cung phải cónhững
biện pháp thích hợp để thực hiện công tác chuẩn bị được chu đáo, đạt kết quả đó là:
người giáo viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3,4,5 tuổi nhưng do
điều kiện thực tế,thời gian tiến hành đề tài nên tôi chỉ đi sâu vào đặc điểm cuae trẻ
5 tuổi giai đoạn cuối của trẻ mẫu giáo, chuẩn bị bước vào trường phổ thông.
Đến 5 tuổi là trẻ đang ở giai đoạn cuối cùng của lứa tuổi mẫu giáo và đã trải
qua một thời kỳ phát triển mạnh mẽ với tốc độ rất nhanh cả về thể chât lẫn tâm lý.
1.1. Đặc điểm phát triển thể chất
Về tâm lý trẻ 5 tuổi tăng nhanh về chều cao cân nặng, hệ xương của trẻ bắt đầu
được cốt hóa, cơ bắp to ra, cơ quan hô hấp và hệ tuần hoàn phát triển mạnh, trọng
17
lượng của não và vai trò điều chỉnh hành vi, các phản xạ tăng lên, hệ thống tín hiệu
thứ hai phát triển mạnh mẽ.
3)Đặc điểm phát triển mặt cảm xúc và ý chí
3.1) Đặc điểm phát triển xúc cảm
Nét đặc biệt trong đời sống tình cảm của trẻ 5 tuổi là sự hình thành tương đối
rõ nét của các loại tình cảm bậc cao như một tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ.
18
3.2) Đặc điểm phát triển ý chí
ý chí của trẻ 5 tuổi đã bắt đầu phát triển tọa cho trẻ khẳ năng điều chỉnh hành
vi. Đặc điểm nổi bật trong sự phát triển ý chí của trẻ 5 tuổi là ý chí gắn liền với
động cơ hành vi, bên cạnh đó là động cơ xã hội bắt đầu được hình thành.
4) Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Trẻ 5 tuổi có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt
hàng ngày.
Về ngữ điệu và ngữ âm của trẻ gần giống với người lớn trong giao tiếp và
đặc biệt là khi kể chuyện.
Về vốn từ và ngữ pháp trẻ có thể nghe và biểu đạt ý nghĩ của mình trong sinh
hoạt hàng ngày với những người xung quanh.
ở trẻ 5 tuổi ngôn ngữ giải thích và ngôn ngữ mạch lạc tăng lên rõ riệt, biết
trình bày ý nghĩ của mình theo một trật tự hợp lý, biết nhấn mạnh những điểm yếu
để người xung quanh nghe được một cách rễ ràng.
Trên đây là một số đặc điểm chủ yếu của trẻ 5 tuổi nói chung. Người ta có
thể so sánh trình độ phát triển riêng của từng trẻ với trình độ chung đẻ đua ra các
biện pháp giáo dục phù
ChươngIII : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- Cách tiến hành thực nghiệm
Để thấy được một số vấn đề chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1, trong giai đoạn hiện
nay với nội dung chương trình chăm sóc giáo dục trẻ theo chương trình đổi mới
việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 của chương trình cải cách tôI đã tiến hành thự c
nghiệm : 1 theo chương trình cải cách và một theo chương trình đổi mới để thấy
được sự ưu việt của chương trình đổi mới đối với công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp
1.
_ còn lại chữ gì?
_cô chỉ vào chữ S và nói đây là chữ S
_ cho trẻ phát âm lại từ “ con sóc”
_ cô đua các tranh và các đồ vật có chứa chữ S
cho trẻ phát âm.
_ Cô treo tranh chữ X có trong từ “ xe đạp
’’( tương tự như với chữ X )
+ Cô cho trẻ phát âm chữ X và đọc từ “xe đạp’’
_ Cô sửa sai cho trẻ, và liên hệ
_ Cho trẻ so sánh hai chữ S, X.
4) Củng cố
_ Cho trẻ chơi trò chơi “ Cô phát âm trẻ lấy
_ Trẻ nói và rút thẻ chữ cái đã
học ở trên bảng.
_ Trẻ trả lời
_ Cả lớp đọc “ S ’’
20
chữ; cô giáo chữ trẻ phát âm ”.
_ Cho trẻ về chữ S, X trên không vừa phát âm
5) Nhận xét tuyên dương
( lồng vao phần bài mới )
2) Thực nghiệm 2
Tôi tiến hành tiết làm quen với chữ cái S, X theo chương trình đổi mới với chủ
điểm: Quê hương- Đất nước- Bác Hồ- Trường tiểu học.
I, Mục đích yêu cầu:
1) Kiến thức: trẻ nhận biết và phân biệt chữ cái S, X
2) Kỹ năng: Trẻ có kỹ năng nhận biết phân biệt nhanh các chữ cái.
3) Thái độ: Giáo dục trẻ tình yêu quê hương đất nước, trẻ có nề nếp trong học tập
II . Chuẩn bị
Tranh “ nhà sàn ’’, “ tre xanh ’’
-Cho trẻ nhận xét sự giống và khác nhau của
chữ S, X về cấu tạo và cách phát âm
d) Trò chơi
- Cho trẻ chơi trò chơi “ Thi xem ai nhanh ’’
+ Cô nói đặc điểm trẻ do chữ cái
+ Cô phát âm chữ cái trẻ giơ và nói cấu tạo
- Cho trẻ chơi ‘’ viết chữ lên lưng của bạn ’’
-Cho trẻ chơI trò chơi xếp chữ theo yêu cầu
của cô. Vùa chơI vừa đọc thơ hoặc hát theo
chủ điểm
1) 3)Hướng hoạt động góc
- Dẫn dắt trẻ để tự tiếp tục hoạt động với chữ
cái tong góc học tập hoặc nghệ thuật.
_ Trẻ Phát âm cá nhân, tổ,
nhóm, cả lớp.
Phần thứ ba:kết luận và kiến nghị
1. Kết quả;
* Kết quả thực nghiệm 1.
_ 80% trẻ phát âm đúng hai chữ cái S, X và biết phân biệt 2 chữ cái
_ 70% trẻ có nề nếp ngoan, nghe lời tích cục học tập
_ 50% trẻ tham gia giơ tay phát biểu, mạnh dạn
* Kết quả thực nghiệm 2:
22
90% trẻ hứng thú vào tiết học biế liên hệ ở xung quanh lớp, nhận biết phân biệt
được chữ cái S, X
- 90% trẻ tích cực hoạt động, chơI hứng thú
- 80% trẻt có kỹ năng chơi
- Trẻ đã có nề nếp trpng học tập
+ So sánh kết quả thực nghiệm:
Căn cứ vào việc tiến hành hai tiết học: 1 theo chương trình đổi mới, một theo
22
90
90
95
90
Căn cứ vào bảng thực nghiệm ta có thể thấy được sự ưu việt của trương trình
đổi mới. Mặc dù cùng một giáo viên, cùng một đối tượng nhưng với cách tác động
khác nhau của hai chương trình một cải cách và một đổi mới trên một tiết dạy mà
cho kết quả khác nhau tại sao vậy ?
Trong đổi mới phương pháp, điều quan trọng là phải chú ý tới đặc điểm
của trẻ, khả năng của trẻ để vận dụng ling hoạt các biện pháp giáo dục như : gây
hứng thú cho trẻ như thế nào ? làm thế nào để phát huy tính tích cực của trẻ ?
Chương trình đổi mới với các nội dung kiến thức trên tiết học trẻ đã được
làm quen ở mọi lúc mọi nơi với các hình thức khác nhau và trên tiết học trẻ được
23
cô giáo gợi ý để trẻ có thể tự hoạt động trong một hoạt động chung nhưng lại có
mụch đích học tập chứ không như chương trình cảI cách trẻ tiếp thu kiến thức một
cách thụ động, trẻ không được phát huy hết khả năng của mình.
Mặc dù nội dung của bài học cần chuyền đạt với trẻ ở hai thực nghiệm là
như nhau nhưng ở thực nghiệm 2 lại cho kết quả cao hơn là vì nó được thiết kế xây
dựng theo một chủ đề với một nội dung xuyên suốt do vậy mà tiết học chôI qua sẽ
không tạo cảm giác như một tiết học trước kia, trẻ bị thu hút vào sự điều khiển của
cô giáo. Trong tiết học , trẻ được chơI, được hát, được đọc thơ với mong muốn ca
ngợi que hương đất nước. Qua đó trẻ được tiếp thu tri thức từ nhiều góc độ, nhiều
lĩnh vực khác nhau đó là những kinh nghiệm mang tính tích hợp. Nhờ đó mà công
tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 khi được tiến hành trong mọi nơi sẽ được thuận lợi
hơn khi có chương trình đổi mới.
2. Bài học kinh nghiệm:
Thông qua hai thực nghiệm trên cho chúng ta thấy việc chuẩn bị cho trẻ vào