Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN DUY HÀ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KỸ THUẬT PCR
PHÁT HIỆN TRỰC TIẾP MYCOBACTERIUM TUBERCULOSIS
TRONG MẪU BỆNH PHẨM LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ĐẮC TRUNG Thái Nguyên – Năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Đắc Trung – Phòng Xét
nghiệm Vi sinh vật và Sinh học phân tử - Bộ môn Vi sinh – Trường Đại học Y Dược
Thái Nguyên, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, kĩ thuật viên và nhân viên của Bộ
môn Vi sinh – Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về máy
móc và cơ sở vật chất giúp tôi hoàn thành đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch Tổng hợp,
các bác sỹ, kĩ thuật viên của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên đã cung cấp
mẫu bệnh phẩm, hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành một số thí nghiệm trong quá
trình nghiên cứu.
Cùng với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi tới toàn thể các thầy cô giáo trong
Khoa Sinh – KTNN, Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình đã động viên và giúp
đỡ tôi rất nhiều.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Học Viên
Danh mục các bảng
iv
Danh mục các hình vẽ
v
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh lao
3
1.2. Tình hình bệnh lao trên thế giới và ở Việt Nam
3
1.3. Đặc điểm của bệnh lao và đặc điểm của vi khuẩn lao
8
1.4. Các phương pháp chẩn đoán vi khuẩn lao và bệnh lao
16
1.4.1. Kỹ thuật soi kính trực tiếp
16
1.4.2. Kỹ thuật nuôi cấy
17
1.4.3. Kỹ thuật PCR
17
1.4.4. Kỹ thuật RFLP
17
1.4.5. Phương pháp ELISA
1.4.6. Miễn dịch tế bào
17
18
1.4.7. Miễn dịch dịch thể
18
mẫu bệnh phẩm
33
3.1.1. Kết quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis trong bệnh
phẩm đờm
33
3.1.2. Kết quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis trong bệnh
phẩm dịch màng phổi
35
3.2. Hiệu quả của kỹ thuật PCR trong việc phát hiện nhanh vi khuẩn lao
Mycobacterium tuberculosis
37
3.2.1. Hiệu quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis trong đờm
38
3.2.2. Hiệu quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis trong
dịch màng phổi
40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
48
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Viết đầy đủ
Sp
Specificity (độ đặc hiệu)
TCYTTG
Tổ chức Y tế thế giới
WHO
World Health Organization Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Trang
Bảng 1.1. Ước tính bệnh nhân lao mới mắc năm 2002 theo khu vực
5
Bảng 1.2. Số liệu ước tính bệnh lao của nước ta hàng năm
7
Bảng 2.1. Phân loại kết quả nhuộm soi
27
Bảng 2.2. Phân loại kết quả nuôi cấy
28
Bảng 2.3. Các thành phần phản ứng PCR
30
Bảng 3.1. Kết quả nhuộm soi phát hiện vi khuẩn AFB trong đờm
33
Bảng 3.2. Kết quả nuôi cấy phát hiện vi khuẩn Mycobacterium tubercuolosis
trong đờm
33
Bảng 3.3. Kết quả PCR phát hiện vi khuẩn Mycobacterium tubercuolosis
trong đờm
v
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1. Vi khuẩn lao Mycobacterium tubercuolosis soi dưới kính hiển vi
14
Hình 1.2. Khuẩn lạc vi khuẩn lao trên môi trường nuôi cấy
15
Hình 1.3. Cấu trúc thành vi khuẩn lao
15
Hình 2.1. Quy trình nghiên cứu
24
Hình .2.2. Sơ đồ chu trình nhiệt phản ứng PCR
30
Hình 3.1. So sánh kết quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium
tubercuolosis trong đờm bằng 3 phương pháp
34
Hình 3.2. So sánh kết quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium
tubercuolosis trong dịch màng phổi bằng 3 phương pháp
36
Hình 3.3. So sánh hiệu quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium
tubercuolosis trong đờm giữa phương pháp nhuộm soi và PCR
42
Hình 3.4. So sánh hiệu quả phát hiện vi khuẩn lao Mycobacterium
tubercuolosis trong dịch màng phổi giữa phương pháp nhuộm soi và PCR
43
Hình 3.5. Hình ảnh soi trên kính hiển vi quang học trực khuẩn lao AFB
nhuộm bằng phương pháp Ziehl-Neelsen
44
Hình 3.6. Đặc điểm phát triển của vi khuẩn lao trên môi trường nuôi cấy
hành cũng như bệnh nhân lao xuất hiện thêm hàng năm.
Để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong do bệnh lao, một trong
những biện pháp mà Tổ chức Y tế thế giới ưu tiên hàng đầu là đẩy mạnh việc phát
hiện sớm các trường hợp mắc lao, điều trị kịp thời để loại bỏ nguồn lây, hạn chế tối
đa sự lây nhiễm trong cộng đồng.
Bệnh lao là bệnh nhiễm khuẩn, tác nhân gây bệnh là trực khuẩn
Mycobacterium tuberculosis. Phát hiện và chẩn đoán lao quan trọng nhất chủ yếu
dựa vào việc phát hiện trực khuẩn lao trong cơ thể hoặc trong chất xuất tiết của
người bị bệnh lao. Tìm thấy trực khuẩn lao được coi là “tiêu chuẩn vàng” trong
việc chẩn đoán bệnh lao. Hiện nay có một số phương pháp giúp chẩn đoán xác định
hoặc hỗ trợ chẩn đoán xác định vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis gây bệnh lao
như: nhuộm soi trực tiếp, nuôi cấy phân lập, tiêm truyền động vật cảm nhiễm, test
tuberculin, ELISA,… [13, 23].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Ở Việt Nam, hiện nay tại hầu hết các bệnh viện, việc chẩn đoán bệnh lao vẫn
chủ yếu dựa vào phương pháp nhuộm soi bệnh phẩm tìm vi khuẩn lao AFB. Một số
bệnh viện chuyên khoa lao và bệnh phổi, thường là ở tuyến trung ương có điều kiện
có thể thực hiện thêm phương pháp nuôi cấy phân lập. Tuy nhiên những phương
pháp này ngoài ưu điểm vẫn còn một số hạn chế: Phương pháp nhuộm soi trực tiếp,
tuy đơn giản, dễ thực hiện, nhưng hiệu quả thấp, độ nhạy không cao, ngưỡng phát
hiện yêu cầu ≥10
3
vi khuẩn/ml. Còn phương pháp nuôi cấy, phân lập tuy có độ đặc
hiệu cao nhưng lại cho kết quả chậm sau 4-8 tuần. Do đó, việc có thêm một phương
pháp phát hiện nhanh vi khuẩn lao, với độ nhạy và độ đặc hiệu cao sẽ đáp ứng được
yêu cầu của thực tế, khắc phục được một số hạn chế còn tồn tại của những phương
pháp chẩn đoán vi khuẩn lao thường dùng hiện nay.
ông được giải thưởng Nobel y học năm 1905 và sau đó trực khuẩn lao được mang
tên nhà bác học R.Koch (trực khuẩn BK-Bacille de Koch) [16, 27, 28].
Từ đầu thế kỷ XX, xuất hiện nhiều công trình về dị ứng và phòng bệnh lao.
Năm 1907, Von Pirquet áp dụng phản ứng da để xác định tình trạng nhiễm lao.
Năm 1908, Mantoux dùng tuberculin tiêm trong da để phát hiện dị ứng lao (nay gọi
là phản ứng Mantoux). Cũng năm 1908, Calmette và Guérin bắt đầu nghiên cứu tìm
vacxin BCG (Bacille Calmette Guérin) được sử dụng phòng bệnh lao trên người
[14].
Thời kỳ đầu, điều trị lao gặp nhiều khó khăn, một số phương pháp được áp
dụng điều trị như dinh dưỡng, bơm hơi màng phổi, màng bụng, phẫu thuật thành
ngực hay cắt bỏ tổn thương. Tiếp sau đó, các thuốc điều trị lao như Rimifon,
Streptomycine, Rifampicin, Pyrazinamid, đã lần lượt được tìm ra. Hội nghị chống
lao quốc tế lần thứ 23 ở Mexico (1975) nêu 12 loại thuốc đặc hiệu điều trị bệnh lao.
Những thành tựu y học đã đạt được mở ra thời kỳ phòng chống và tiêu diệt bệnh lao
trên quy mô toàn cầu.
1.2. Tình hình bệnh lao trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình bệnh lao trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2,2 tỷ người đã nhiễm lao (chiếm 1/3 dân
số thế giới). Theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2004), ước
tính trong năm 2003 có thêm khoảng 9 triệu người mắc lao mới và 2 triệu người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
chết do lao. Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao ở các
nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao
động. Trong đó, có khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh
nặng bệnh lao cao.
Đến năm 2008, theo ước tính của WHO thì tỷ lệ bệnh nhân lao lưu hành là
11,1 triệu ca (tương ứng với tỷ lệ lưu hành là 164 ca/100.000 dân); tỷ lệ các trường
Các thể
AFB
(+)
Các thể
AFB
(+)
SL
(nghìn)
TL/100000
Châu Phi
2354 (26%)
1000
350
149
556
83
Châu Mỹ
370 (4%)
165
43
19
53
6
Trung Đông
622 (7%)
279
124
55
143
29
1.2.2. Bệnh lao và HIV/AIDS
Theo WHO đến cuối năm 2002, trên thế giới có 42 triệu người nhiễm HIV,
trong đó 50% đồng nhiễm lao.
HIV là yếu tố nguy cơ làm cho người nhiễm lao phát triển thành bệnh lao,
nguy cơ đó cao gấp 30 lần so với người HIV (-). Đại dịch HIV/AIDS đã làm tăng
ít nhất 30% số bệnh nhân lao trên loàn cầu, bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong
cho 1/3 số bệnh nhân HIV trên toàn cầu, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho
những người HIV (+). Như vậy, đại dịch HIV đang làm tăng thêm gánh nặng đồng
thời làm giảm hiệu quả của Chương trình chống lao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
WHO và nhiều đối tác đang kêu gọi tăng cường sự hợp tác và liên kết giữa
Chương trình chống lao quốc gia và Chương trình HIV/AIDS, đặc biệt là ở Cam-
pu-chia, Trung Quốc, Pa-pua-Niu-Ghi-nê và Việt Nam, là những nơi có số người
đồng nhiễm Lao/HIV đang gia tăng. Nghiên cứu về tỷ lệ HIV trong số bệnh nhân
lao tại Cam-pu-chia năm 2003 cho thấy tại thủ đô Phnom Penh, tỷ lệ bệnh nhân lao
có HIV (+) tăng gần gấp 3 lần so với năm 1995 (từ 11% năm 1995 lên 31% năm
2003) [15].
1.2.3. Tình hình bệnh lao ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh lao còn phổ biến và có tỷ lệ mắc cao. Việt Nam đứng thứ
12 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên loàn cầu (WHO, 2008). Trong khu
vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ ba sau Trung quốc và Philipinnes
về số lượng bệnh nhân lao lưu hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng
năm.
Năm 1995, trước những biến động xấu đi của tình hình dịch tễ bệnh lao toàn
cầu, công tác chống lao thực sự bắt đầu phải đối mặt với những thách thức mới là
bệnh lao kháng thuốc và Lao/HIV, Nhà nước và Bộ Y tế Việt Nam đã quyết định
Bảng 1.2. Số liệu ước tính bệnh lao của nước ta hàng năm (với dân số 70-80 triệu)
Số mới mắc lao (mọi thể):
130.000
Số lao phổi AFB (+) mới:
60.000
Tổng số trường hợp lao:
260.000
Tổng số lao phổi AFB (+):
120.000
Qua theo dõi một số địa phương cho thấy xu hướng tăng số lượng bệnh nhân
Lao/HIV hàng năm. Số lượng bệnh nhân Lao/HIV tăng sẽ làm tăng gánh nặng và
giảm hiệu quả của CTCLQG vì việc chẩn đoán bệnh lao ở người HIV(+) khó khăn
hơn, tỷ lệ tử vong trong số bệnh nhân Lao/HIV cao hơn sẽ làm giảm kết quả điều
trị khỏi bệnh của Chương trình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Theo số liệu giám sát trọng điểm của Chương trình HIV/AIDS cho thấy tỷ lệ
HIV(+) trong số bệnh nhân lao năm 2002 trên cả nước khoảng 3,2%, trong đó có
10 tỉnh tỷ lệ này là trên 3% (Hồ Chí Minh 9,4% và An Giang 4,8%). Năm 2007 tỷ
lệ này là 8,1%. Như vậy, lượng bệnh nhân đồng nhiễm Lao/HIV không ngừng tăng
lên, gây nhiều khó khăn cho Chương trình chống lao quốc gia, cũng như làm tổn
hại đến nền kinh tế [7, 8, 9, 10].
1.3. Đặc điểm của bệnh lao và đặc điểm của vi khuẩn lao
1.3.1. Đặc điểm của bệnh lao
1.3.1.1. Bệnh lao là một bệnh nhiễm trùng
Nguyên nhân gây ra bệnh lao được Robert Koch tìm ra năm 1882 do trực
khuẩn lao Bacille de Kock gọi tắt là BK (Hiện nay trực khuẩn lao được gọi tắt là
AFB-Axit Fast Bacilli). Chủ yếu là loại trực khuẩn lao người Mycobacterium
thực bào làm cho một số vi khuẩn bị chết. Nhưng một số vi khuẩn không bị tiêu
diệt, tiếp tục phát triển nhân lên trong đại thực bào. Sự thay đổi về hình thể và chức
năng của một số tế bào tại tổn thương dần dần hình thành nang lao. Trong đa số
trường hợp tổn thương có thể tự khỏi (có hiện tượng lắng đọng calci, hình thành nốt
vôi) và không có biểu hiện lâm sàng. Phản ứng da với Tuberculin bắt đầu dương
tính từ tuần thứ 3, sau khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, nhưng miễn dịch đầy đủ
của cơ thể chống lại bệnh lao phải sau 2 - 3 tháng. Như vậy, nhiễm lao là giai đoạn
đầu tiên khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây tổn thương đặc hiệu (thường là ở
phổi). Đa số trường hợp không có biểu hiện lâm sàng; cơ thể hình thành dị ứng và
miễn dịch chống lao. Khi chưa có đại dịch HIV/AIDS thì chỉ có khoảng 5 - 10%
người bị nhiễm chuyển thành bệnh lao. Nếu nhiễm lao đồng thời với có HIV thì ít
nhất 30% nhiễm lao chuyển thành bệnh lao.
Giai đoạn lao bệnh
Đa số người bị bệnh chỉ ở tình trạng nhiễm lao (80- 90%) không chuyển sang
giai đoạn lao bệnh. Gọi lao bệnh là lao thứ phát khi sức đề kháng của cơ thể giảm,
số lượng và độc tính của vi khuẩn lao tăng nhanh, đặc biệt ở các nhóm người mắc
bệnh toàn thân như: loét dạ dày, đái tháo đường, nghiện rượu, nghiện ma túy,
HIV,… sẽ hình thành lao thứ phát.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
1.3.1.4. Bệnh lao có thể phòng và điều trị có kết quả
Phòng bệnh
- Giải quyết nguồn lây:
Giải quyết nguồn lây bằng cách phát hiện sớm và điều trị khỏi bệnh là làm
mất một mắt xích quan trọng trong vòng xoắn lan truyền bệnh. Có thể nói giải quyết
nguồn lây là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất.
- Tiêm phòng lao bằng vaccin BCG cho trẻ sơ sinh và dưới 1 tuổi có thể hạn chế
mắc lao tới 80%.
Một số bệnh tạo điều kiện cho bệnh lao dễ phát sinh và phát triển là bệnh đái
tháo đường, bệnh bụi phổi, bệnh loét dạ dày - tá tràng,
Đại dịch HIV/AIDS
Là một trong những nguyên nhân làm cho bệnh lao “quay trở lại”. HIV đã
tấn công vào tế bào TCD4, là tế bào “Nhạc trưởng” chỉ huy đáp ứng miễn dịch của
cơ thể chống lại vi khuẩn lao.
Phụ nữ ở thời kỳ thai nghén
Bệnh lao dễ phát sinh và phát triển trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén
và sau đẻ. Điều này được giải thích do thay đổi nội tiết của cơ thể mẹ tạo điều kiện
cho vi khuẩn phát triển.
Yếu tố cơ địa
Sự khác nhau về khả năng mắc bệnh lao giữa các dân tộc đã được y học nhận
xét từ lâu. Sự khác nhau về kháng nguyên hoà hợp tổ chức HLA (Human Leucocyte
Antigene), về di truyền haptoglobulin, về các gene cảm thụ giữa người bệnh và
người không mắc bệnh đã được nêu lên. Tuy nhiên cần phải tiếp tục nghiên cứu về
vấn đề này [26, 27, 31, 32].
1.3.1.7. Các thể bệnh lao
Lao phổi: là thể lao chủ yếu thường gặp ở người lớn chiếm 80% tổng số
trường hợp lao mọi thể. Nguyên nhân chính là do trực khuẩn lao M. tuberculosis,
ngoài ra còn do một số trực khuẩn lao bò (M. bovis), M. kansassii, M. avium.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Lao màng não: thể lao này chiếm 12% trong tổng số các thể lao ngoài phổi
thường gặp ở người lớn. Còn ở trẻ em, đây là thể lao chiếm tỉ lệ cao thứ hai sau sơ
nhiễm.
Lao màng phổi: là thể lao ngoài phổi đứng thứ 2 sau lao hạch. Tại Việt
Nam, lao màng phổi là bệnh phổ biến. Lao màng phổi là căn nguyên hàng đầu trong
các bệnh lý gây tràn dịch màng phổi. Theo ước tính của Chương trình chống lao
13
Một số cách phân loại:
- Phân loại dựa vào khả năng gây bệnh cho người và các động vật: Vi khuẩn lao
người, vi khuẩn lao bò, vi khuẩn lao chim, vi khuẩn lao chuột.
- Phân loại dựa trên cấu trúc DNA: Đoạn IS6110 với 1361 cặp base chỉ có ở 4 loài
là: M. tuberculosis, M. bovis, M. africanum và M. microti mà không có ở các chi
khác. Tại khoa Vi sinh - Bệnh viện lao phổi Trung ương nhận thấy với các chủng vi
khuẩn lao ở Châu Á thì có 71% vi khuẩn có từ 5 đoạn IS6110 trở xuống, trong khi
vi khuẩn cổ điển tỷ lệ này là 10%.
- Vi khuẩn kháng cồn, kháng toan không điển hình: Đây là nhóm không phân biệt
được với vi khuẩn lao bằng phương pháp nhuộm soi kính, trước thập kỉ 80 của thế
kỉ XX chúng ít gây bệnh ở người, thường chỉ gây bệnh lao ở bệnh nhân bị bụi phổi,
ghép cơ quan và điều trị corticoid kéo dài [7, 27, 28, 31, 32, 33].
Một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao
- Vi khuẩn lao có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài. Ở điều kiện tự
nhiên, vi khuẩn có thể tồn tại 3 – 4 tháng. Trong phòng thí nghiệm người ta có thể
bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm.
- Vi khuẩn lao là loại vi khuẩn hiếu khí. Khi phát triển vi khuẩn cần đủ oxy, vì vậy
giải thích tại sao lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất và số lượng vi khuẩn nhiều
nhất trong các hang lao có phế quản thông.
- Vi khuẩn lao sinh sản chậm. Trong điều kiện bình thường, trung bình 18- 24 giờ vi
khuẩn lao phân bào 1 lần, nhưng có khi hàng tháng, thậm chí “nằm vùng” ở tổn
thương rất lâu (Persister), khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể tái triển lại.
- Vi khuẩn lao có nhiều quần thể chuyển hoá khác nhau ở tổn thương. Có những quần
thể vi khuẩn phát triển mạnh, nằm ngoài tế bào (Nhóm A); có những quần thể vi
khuẩn phát triển chậm, từng đợt (Nhóm B); có những vi khuẩn nằm trong tế bào
(Nhóm C). Những quần thể vi khuẩn này chịu tác dụng khác nhau tuỳ từng thuốc
chống lao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trên bề mặt môi trường, khuẩn lạc có thể rộng, tròn, nhẵn sau đó sần sùi như hoa
súp lơ, màu kem và rất khó tan trong nước. Kết quả âm tính nếu sau 8 tuần nuôi cấy
không thấy có khuẩn lạc mọc [12, 24, 25].
Hình 1.2. Khuẩn lạc vi khuẩn lao trên môi trƣờng nuôi cấy
1.3.2.3. Một số đặc điểm về thành phần hóa học và cấu trúc vi khuẩn
Thành phần hoá học: 85,9% nước, đạm, đường, mỡ và muối khoáng.
- Đạm (tuberculo protein khác): 56% trọng lượng khô của vi khuẩn.
- Đường (15%) ở dạng polysaccharide (không độc, ít có tính kháng nguyên, không
gây hiện tượng mẫn cảm, nhưng có hoạt tính trong các phản ứng huyết thanh, các vi
khuẩn độc lực cao thì giảm các đường như arabinose, galactose, và tăng glucose.
- Lipit chiếm 10-14%: mycozit-c, cord-factor và các chất sáp, chúng liên quan đến
độc tính và khả năng gây bệnh.
Siêu cấu trúc của vi khuẩn:
Thành của vi khuẩn:
1. Lớp bên ngoài
2. Lớp axit mycolic
3. Lớp polysacharide (arabinogalactan)
4. Lớp peptidoglycan
Hình 1.3. Cấu trúc thành vi khuẩn lao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
5. Lớp màng plasma
6. Lớp lipoarabinomannan (LAM)
7. Lớp phosphatidylinositol mannoside
8. Lớp khung vách tế bào
Bào tương và nhân:
- Bào tương sát thành vi khuẩn gồm 3 lớp phức hợp lipoprotein.