skkn làm thế nào giúp hs có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn tiếng anh - Pdf 24

Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
AnhPhòng GD và ĐT Bình Sơn
Trường THCS Bình Minh
*********
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM:
Người thực hiện: UNG THỊ THU HIỀN
Năm học: 2010-2011
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
1
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
A . PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua Giáo dục nước ta đã có những đổi mới cả về mục
tiêu, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên một thực tế
cho thấy rằng, hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học vẫn chưa đáp ứng được
u cầu đổi mới giáo dục, chất lượng giáo dục Việt Nam chưa đáp ứng được với
u cầu hội nhập và tồn cầu hóa.
Thật vậy, trong những năm qua chúng ta tiến hành đổi mới phương pháp,
đổi mới nội dung chương trình nhưng việc đổi mới đó được tiến hành trên đội
ngũ giáo viên “cũ”. Một lúc họ vừa phải thâm nhập với phương pháp giảng dạy
mới vừa phải học thêm những kiến thức mới để sáng mai ra truyền thu lại cho
học sinh. Cùng với cuộc sống bộn bề thì những hoạt động ấy khơng tránh khỏi
những khập khễnh. Chính vì vậy, nhiều giáo viên “chưa kịp” linh hoạt nên vẫn

thường vấp phải cũng như những băn khoăn, trăn trở của người giáo viên nhằm
đạt đến những điều mong muốn đặt ra trong q trình dạy học. Chính vì vậy tơi
đã chọn đề tài “Làm thế nào giúp học sinh có động cơ và thái độ học tập tốt bộ
mơn Tiếng Anh” cho bài viết của mình.
II/ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI
1- Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài.
2- Phân tích thực trạng việc thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học bộ môn Tiếng Anh ở các trường THCS trên đòa bàn huyện Bình Sơn.
3- Đề xuất một số giải pháp để “Làm thế nào giúp học sinh có động cơ và
thái độ học tập tốt mơn Tiếng Anh”, nâng cao hiệu quả thực hiện đổi mới nội
dung, phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh ở các trường THCS trên đòa
bàn huyện Bình Sơn.
III/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI .
1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Được phân cơng giảng dạy ở khối 7 và khối 9,vì vậy tơi chủ yếu tập
trung nghiên cứu ở đối tượng học sinh lớp 7C, 7D, 9A.
2.PHẠM VI ĐỀ TÀI
Một số biện pháp thơng qua “ Kỹ năng tiếp cận và phong thái của người giáo
viên đối với học sinh; cách lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý ” làm động
lực thúc đẩy động cơ, thái độ học tập của các em, giúp các em học tập bộ mơn
Tiếng Anh một cách hiệu quả nhất.
IV/ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Phương pháp quan sát- điều tra
* Phương pháp so sánh đối chiếu
* Phương pháp phân tích tổng hợp
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
3
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
A- N I DUNGỘ

Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
4
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
nhất của khoa học cơng nghệ, văn hóa phù hợp với chân lý khách quan, phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam cũng như
phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh
mà vẫn đảm bảo được tính hệ thống, tính lơgic khoa học. Trong bối cảnh đổi mới
giáo dục phổ thơng ở nước ta hiện nay, trước u cầu đó, trong q trình tổ chức
điều khiển học sinh lĩnh hội những tri thức, người giáo viên phải hình thành cho
học sinh hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, đặc biệt những kỹ năng, kỹ xảo có
liên quan tới hoạt hoạt động học tập, tự học và giải quyết vấn đề nhằm giúp cho
các em khơng những nắm vững tri thức mà còn biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo
trong các tình huống khác nhau. Người giáo viên phải thường xun học tập, nắm
vững kiến thức và rèn luyện các kỹ năng dạy học để giúp cho học sinh tiếp nhận
kiến thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, có hiệu quả. Trên cơ sở tổ chức
cho học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức
mà hình thành cho các em cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo
đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung theo mục đích giáo dục đã đề ra.
Muốn được như thế người giáo viên đứng lớp cần phải hết sức chu đáo
trong việc tìm hiểu đối tượng, thiết lập tình huống, xây dựng các thủ thuật,
phương pháp giảng dạy theo đặc trưng bộ mơn. Tất cả phải dựa trên mục tiêu
của bài học, để có cơ sở xây dựng nội dung, thủ thuật, phương pháp với một mục
đích được xác định cụ thể, rõ ràng cần phải đạt đến. Bên cạnh đó, chính phong
cách của giáo viên đóng vai trò quan trọng giúp các em an tâm khi vào tiết học
và tự tin vào khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh của mình.
Trong phạm vị đề tài này, bên cạnh u cầu người giáo viên phải có trình
độ chun mơn, tơi muốn chú trọng đến “ Kỹ năng tiếp cận và phong thái của
người giáo viên đối với học sinh; cách lựa chọn phương pháp dạy học” làm
động lực thúc đẩy động cơ, thái độ học tập của các em, giúp các em học tập bộ

tập, các em khơng thỏa mãn với vai trò là người tiếp thu thụ động, khơng chỉ
chấp nhận các giải pháp có sẵn được đưa ra. Ở lứa tuổi này nảy sinh một u cầu
và cũng là một q trình: sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kĩ năng.
Nhưng các phương thức học tập tự lập ở học sinh nếu muốn được hình thành và
phát triển một cách có chủ định thì cần thiết phải có sự hướng dẫn đồng thời tạo
các điều kiện thuận lợi. Điều này rất cần kỹ năng tiếp cận người học của người
giáo viên để hoạt động dạy và hoạt động học khơng tách rời nhau, cả hai đều là
mục đích của nhau.
Hơn nữa, lượng nội dung kiến thức được đưa vào trong chương trình tiếng
Anh mới nhiều và rộng hơn so với nội dung kiến thức chương trình cũ. Nội dung
chương trình mới được thiết kế theo ngun tắc xốy trơn ốc theo 6 chủ điểm cơ
bản (You and me, Education, Community, Health, Recreation, The world around
us) được lặp đi lặp lại xun suốt từ lớp 6 đến lớp 9, khơng những hay, phù hợp
với nhu cầu, sở thích, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, … mà còn đáp ứng được nhu
cầu giao tiếp.
Tuy nhiên, khơng một sớm một chiều có thể tiếp thu và cập nhật tất cả nội
dung chương trình và phương pháp giảng dạy mới một cách đồng nhất và linh
hoạt được, đặc biệt là đối với những giáo viên lớn tuổi. Đồng thời, giữa nội dung
chương trình giảng dạy hiện hành có sự khác biệt lớn đối với chương trình giảng
dạy mà giáo viên được tiếp thu, học tập ở các trường sư phạm trước kia như: cách
phát âm (pronunciation), từ vựng (vocabulary) cũng như ngữ pháp (grammar)
đòi hỏi giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, vận dụng các phương
pháp một cách năng động, linh hoạt để giờ dạy đạt được hiệu quả cao.
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
6
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
Việc đổi mới phương pháp tư duy hay phát huy được tính tư duy, tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức một cách
hiệu quả. Tuy nhiên việc đổi mới đó lại được tiến hành trên đội ngũ giáo viên

trình mới rất hay và phù hợp với đổi mới phương pháp giảng dạy, thể hiện rõ
phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên hiệu quả của việc đổi mới đó phụ thuộc
rất nhiều vào khả năng của mỗi giáo viên. Nhưng theo tơi để khắc phục những
tồn tại nói trên và thực hiện việc đổi mới một cách hiệu quả từ phía giáo viên
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
7
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
cũng như học sinh, trong q trình giảng dạy tơi đã rút ra cho mình một số kinh
nghiệm được thể hiện qua một số biện pháp sau:
1. Kỹ năng tiếp cận học sinh:
Trong mọi lĩnh vực, một trong những vấn đề thăng chốt dẫn đến thành cơng
là hiểu rõ đối tượng mà chúng ta đang tiếp cận, vì vậy việc tìm hiểu và xếp loại
học sinh là điều tất yếu. Đối với việc rèn luyện ngơn ngữ, giáo viên nên chia học
sinh làm hai loại :
• Loại A: Những học sinh hoạt bát, phát âm rõ ràng, chuẩn mực, có
khả năng tiếp thu và tái hiện tốt.
• Loại B: Những học sinh nhút nhát, e ngại, phát âm thiếu chính xác
và khơng tích cực trong học tập.
Qua q trình giảng dạy và giao tiếp, giáo viên phát hiện những những học
sinh có cá tính đặt biệt. ví dụ: Có những học sinh nhanh nhẹn, thơng minh nhưng
hấp tấp, thiếu chính chắn, vì vậy, kết quả bao giờ cũng sai sót; có những học sinh
xuất sắc nhưng tự mãn với chính mình, tự cao với bạn bè; có những em nắm
được mẫu lời nói, biết nội dung thơng tin nhưng khơng nói được câu nào. Nói về
những em loại B lại có nhiều vấn đề đặt ra hơn nữa, giáo viên cần phải tìm hiểu
lý do vì sao một em thường xun khơng thuộc bài (vì lười biếng hay hệ thần
kinh có vấn đề, vì hồn cảnh hay vì bài vở q nhiều khơng “tải “ nổi), giáo viên
phải biết vì sao học sinh phát âm sai (do bẩm sinh hay do ảnh hưởng âm địa
phương) giáo viên phải nhận ra lý do do đâu học sinh ngại nói (vì nhút nhát hay
bướng bĩnh, vì muốn “an bài” hay ngại bị nói sai)

trò mình. Trong những phạm trù đề cập đến, ở đây muốn nói phong cách giáo
viên là điều muốn được quan tâm hơn hết để tạo nên sự tự tin cho các em học
sinh trong giờ học. Chính vì biết được giáo viên của mình sẽ tận tình giúp đỡ khi
mình sai sót thì học sinh mới mạnh dạn tham gia đàm thoại, giao tiếp bằng Tiếng
Anh với nhau theo những tình huống giáo viên đặt ra. Giáo viên phải biết cách
mỉm cười khi học sinh phát âm sai hay có sự nhầm lẫn dùng từ, phải biết tươi
cười và thân thiện u cầu học sinh nhắc lại theo mẫu (trường hợp này nên gọi
nhiều học sinh nhóm A làm mẫu).
Ngồi ra, giáo viên phải hiểu những cảnh đời riêng lẻ của học sinh để biết
u thương, trân trọng học sinh của mình. Từ lòng u thương ấy, giáo viên sẽ đủ
điều kiện giúp học sinh của mình chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh như người
mẹ tập cho con mình nói từ thời còn bập bẹ. Những từ ngữ , cấu trúc được lập đi
lập lại thành kỹ năng, kĩ xảo, khơng mang tính máy móc khơ khan và trĩu nặng
tình cảm, có như vậy học sinh mới có thể u ngơn ngữ thứ hai như tiếng mẹ đẻ,
mới gây được sự hứng thú tự nhiên và học sinh say mê mơn học, say mê tìm tòi
khám phá, chắt lọc được những điều tốt đẹp từ ngơn ngữ xứ người.
3. Phương pháp giảng dạy:
Song song với phong thái đúng mực, chân tình, giáo viên cần phải xây
dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng cụ thể. Ngồi những phương
pháp cơ bản tiếp thu được dưới mái trường Sư phạm, giáo viên ln ln lấy đặc
trưng bộ mơn là thực hành giao tiếp làm kim chỉ nam mà vận dụng sáng tạo.
Ở mỗi đơn vị bài học, mỗi phần giáo viên cần phải xác định rõ trọng tâm kiến
thức cần khai thác và lựa chọn các thủ thuật, các phương pháp sao cho phù hợp.
Giáo viên chủ động, sáng tạo, linh hoạt điều tiết sao cho có hiệu quả. Phải thể
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
9
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
hiện trách nhiệm của người giáo viên trong mỗi hoạt động, mỗi nội dung mà
giáo viên dự định cung cấp cho học sinh. Nên tạo ra những tình huống thật, có

sau khi cung cấp từ, và giáo viên cũng khơng nên cứng nhắc trong các thủ thuật
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
10
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
kiểm tra từ. Giáo viên linh động kiểm tra như thế nào để nắm bắt được khả năng
hiểu và nhận biết từ của các em, giáo viên nên tạo những bất ngờ để tránh sự
nhàm chán, giúp học sinh ln trong tư thế chủ động sẵn sàng tham gia vào hoạt
động.
Ví dụ: English 8 UNIT 4 OUR PAST
Lesson: Listen and read
* Khi dạy từ vựng của phần này tơi sử dụng các thủ thuật: example,
synonym, situation, eliciting, translation như sau:
- equipment (n) : trang thiết bị (use the poster “crosswords”)
- folktale (n) : chuyện dân gian ( Example:Tấm Cám, Sọ Dừa, …).
- traditional (a) : cổ truyền, truyền thống (Synonym:Tên gọi khác của
chuyện dân gian “traditional story”)
- once (a) : ngày xửa ngày xưa (Situation:Những câu chuyện
dân gian thường bắt đầu bằng gì?)
- light, lit, lit : thắp sáng (Translation:Who can say “thắp sáng” in
English)
- electricity (n) : điện (Eliciting:Chúng ta được thắp sáng bằng gì?)

* Và tơi sẽ kiểm tra từ (checking vocabulary) với thủ thuật “Ordering
vocabulary/ Listen and Number” mà khơng dùng thủ thuật “Slap the board” hay
“What and Where”, những thủ thuật này đơi khi khơng phù hợp với học sinh
khối, lớp 8, 9 (vì các em ngại lên bảng). Với thủ thuật này, học sinh khơng những
được kiểm tra từ mà còn kiểm tra được cách phát âm của từ. Thủ thuật này được
tiến hành như sau: tơi sẽ đọc cho học sinh nghe một đoạn văn ngắn, trong đó có
những từ mà các em vừa mới được học, học sinh nghe từ nào xuất hiện trước thì

sinh (thay đổi thơng tin) khuyến khích chúng tham gia vào hoạt động, kết quả ở
phần Pre được giải quyết rõ ràng cụ thể ở phần While -> học sinh nắm được bài
và sẽ biết cách vận dụng hiệu quả kiến thức ngơn ngữ đã học.
Với tơi qua thực tế nhiều năm giảng dạy tơi nhận ra rằng chỉ cần giáo viên
có kiến thức, linh hoạt trong việc kết hợp các thủ thuật, phương pháp cũng như
đầu tư, sáng tạo trong việc soạn giáo án, thiết kế bài dạy phù hợp với nội dung,
có thể thay thế một số yếu tố, dữ liệu ở sách giáo khoa nhưng vẫn đảm bảo được
u cầu về nội dung của sách giáo khoa. Như vậy, tơi có thể giúp học sinh tư duy
thảo luận chứ khơng máy móc, rập khn theo sách giáo khoa (các em sử dụng
sách hướng dẫn để đối phó) sẽ giúp các em khắc sâu nội dung kiến thức đã học.
Sở dĩ tơi thay đổi mà khơng sử dụng ngun bài tập trong sách giáo khoa
vì hiện nay hầu hết học sinh sử dụng sách hướng dẫn để soạn bài và làm bài, nếu
giáo viên sử dụng ngun bài tập, câu hỏi trong sách giáo khoa thì học sinh trả
lời nhanh chóng, học sinh yếu thì trả lời một cách máy móc đơi khi khơng hiểu
gì, học sinh khá, giỏi thì nhàm chán khơng hứng thú học tập và dẫn đến việc đơi
khi giáo viên chủ quan trong cách đánh giá kết quả học tập của học sinh, thậm chí
có trường hợp đánh giá khơng đúng, khơng chính xác.
Ví dụ: English 9 UNIT 3 A TRIP TO THE COUNTRYSIDE
Lesson 1 : Listen and read
* Nội dung sách giáo khoa:
True or false? Check ( ) the boxes. Then correct the false sentences
T F
1. Ba and his family had a two-day trip to their home village.
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
12
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
2. Many people like going there for their weekends.
3. There is a small bamboo forest at the entrance to the village.
4. Liz had a snack at the house of Ba’s uncle.

Celebration Time Activities Food Country
Easter
Vietnam
Hoặc có thể thay đổi câu hỏi từ dạng “Yes/No questions” sang câu hỏi “Or
questions” hoặc “Wh- questions” hoặc ngược lại mà vẫn đảm bảo được nội dung
cần truyền đạt, xốy sâu được trọng tâm bài, giúp học sinh dể dàng hiểu được nội
dung bài và vận dụng tốt kiến thức vào tình huống giao tiếp cụ thể giao tiếp
Ví dụ: English 9 UNIT 2 CLOTHING
*Nội dung sách giáo khoa (Wh questions)
Answer the questions
1.Who used to wear the ao dai by tradition ?
2.Why do the majority of Vietnamese women prefer to wear modern
clothing at work these days ?
3.What have fashion designers done to modernize the ao dai ?
* Giáo viên có thể thay đổi (Yes/No questions, Or questions)
1. Did men and women use to wear the ao dai by tradition ?
2. Do the majority of Vietnamese women prefer to wear modern clothing
or the ao dai at work these days ?
3. Have fashion designers printed lines of poetry and added symbols: suns,
stars, crosses, and stripes to modernize the ao dai ?
Hơn nữa, để giúp học sinh u thích bộ mơn tiếng Anh, hứng thú, say mê,
tìm tòi, học tập đối với bộ mơn này, đòi hỏi người giáo viên đứng lớp ngồi việc
khơng ngừng nghiên cứu, học hỏi làm giàu vốn kiến thức của mình mà còn phải
tìm cách kích thích sự hứng thú học tập của học sinh bằng mọi cách như: lồng
ghép những mẫu chuyện vui hoặc những câu đố trong q trình giảng dạy để
giảm bớt sự căng thẳng hay đơn điệu tạo được sự tươi vui, phấn khởi cho học
sinh trong giờ học.
* Riddles: * Eat is alive but drink is dead. What’s this? (Fire)
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
14

2) Season: (n) sping, summer, fall, winter
• Hoặc:
1) Collect (v) -> collection (n) -> collective (a)
2) Produce (v) -> product (n) -> production (n) …
Việc cung cấp ngữ liệu đảm bảo cả cách viết (Spelling), cách phát âm
(Pronunciation), khái niệm về ngữ nghĩa (Meaning) và phải được nằm trong mẫu
lời nói cụ thể, tránh rời rạc thiếu ngữ cảnh (context)
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
15
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
Học sinh sẽ dể dàng liên tưởng và thâm nhập thật sự vào thế giới từ ngữ
với những đồ dùng trực quan (visual aids) đơn giản nhưng gần gũi dễ hiểu. Giáo
viên phải lựa chọn những đồ dùng vừa bổ ích, vừa dễ làm, vừa phù hợp với tài
chính nhà giáo. Bảng, giấy bìa di động (flash card) đồ vật thật (real objects) hoặc
dưới dạng đồ chơi (toys) các biểu đồ (chart) … giúp giáo viên có thể sử dụng linh
hoạt, tiện lợi trong từng tiết học, giáo viên nên cố gắng tự làm đồ dùng trực quan.
vừa đỡ tốn kém lại sát với thực tế và hợp với ý muốn, thể hiện đầy đủ nội dung.
Theo tơi nghĩ với những phương tiện đồ dùng trực quan như thế khơng
những giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt được những gì mình phải làm và làm
như thế nào để dễ tiếp thu và vận dụng kiến thức, hơn nữa giáo viên cũng thường
xun được bồi dưỡng về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy.
Khi học sinh nắm được nội dung thơng tin, giáo viên đưa ra u cầu rèn
luyện kỹ năng và hướng dẫn học sinh thực hành. Hiệu quả giờ học được thể hiện
ở bước này. Lớp học có sinh động, có giao tiếp được ở bước này hay khơng phụ
thuộc vào phong thái giáo viên hướng dẫn. vì vậy, trong giảng dạy giáo viên phải
chú trọng khâu rèn luyện chu đáo, cẩn thận.
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm theo sách giáo khoa hoặc sách bài tập,
luyện cá nhân hoặc từng cặp hay từng nhóm. Theo trình tự:
+ GV-HS (A)

được.
Nếu gặp học sinh bướng bỉnh hoặc q kém, trong khi hướng dẫn học sinh
loại A-A thực hành, giáo viên nên tranh thủ thời gian luyện tập cho học sinh yếu
kém hoặc bướng bỉnh trước, sau đó gọi thực hành trước lớp. Nếu gặp trường hợp
học sinh mệt mỏi hay chán nản, giáo viên nên trò chuyện (bằng tiếng Việt), hoặc
hỏi đáp (bằng tiếng Anh) hoặc có thể cho học sinh ra ngồi vài phút để thư giãn.
Tránh học sinh làm việc q sức, tránh dọa sng hoặc có hình phạt nặng đối với
học sinh.
IV/ HIỆU QUẢ:
Qua q trình vận dụng những biện pháp trên trong q trình giảng dạy,
tơi nhận thấy bản thân có trách nhiệm hơn đối với nhiệm vụ giảng dạy của mình,
khơng ngừng nghiên cứu, tìm tòi, khơi dậy niềm sáng tạo để mỗi bài giảng có
chất lượng hơn, kiến thức ngày càng được củng cố và mở rộng, các thủ thuật,
phương pháp để chuyển tải nội dung kiến thức cho học sinh ln được tơi lựa
chọn dựa trên mục tiêu bài học, đối tượng học sinh để kết hợp sử dụng linh hoạt
và khai thác hiệu quả. Cũng chính vì vậy, tơi thấy mình gần gũi với các em học
sinh, dễ tạo mơi trường giao tiếp cho các em, tạo cho các em một niềm tin bằng
chính sự cố gắng rèn luyện của bản thân, các em chia sẻ những khó khăn, đặc biệt
là những khó khăn trong học tập.
Đối với học sinh, có thể nói hầu hết các em rất thích giờ dạy của tơi, u
thích bộ mơn Tiếng Anh. Các em có thái độ và động cơ học tập tốt hơn, khả năng
tiếp nhận và vận dụng kiến thức ngơn ngữ đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Các em tự
giác tìm hiểu kiến thức khi soạn bài (khơng còn sử dụng sách hướng dẫn khi soạn
bài). Học sinh khơng còn thụ động tiếp thu kiến thức mà đã có được khả năng
độc lập, sáng tạo, tư duy và mạnh dạn thảo luận để cùng nhau giải quyết vấn đề.
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
17
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng
Anh
Tinh thần học tập thoải mái, khơng khn mẫu, khơng gò bó; hướng học sinh tới

Tóm lại, trong q trình giảng dạy tiếng Anh việc áp dụng mọi phương
pháp, thủ thuật dạy học cần phải chú ý đến tính khoa học, tính phù hợp và tính
hiệu quả đảm bảo được mục đích đặt ra. Một người giáo viên giỏi khơng những
chỉ có trình độ chun mơn vững vàng, biết vận dụng các thủ thuật, các phương
pháp một cách linh hoạt mà còn phải rèn luyện đức tính khoan hòa, nhỏ nhẹ, tâm
thái tươi vui, cùng với học sinh hòa mình vào q trình giao tiếp với những tình
huống như thật. Kiến thức ấy, kỹ năng ấy, sự đức độ ấy phải thường xun được
rèn luyện, bồi dưỡng. Một người giáo viên có kiến thức, nắm vững các phương
pháp mà khơng có những tình cảm chân thật, khơng là người bạn lớn của học
sinh để tạo mơi trường giao tiếp thì kiến thức, phương pháp ấy sẽ trở nên cứng
nhắc, khơ khan, khơng thể nào linh hoạt và kết quả sẽ khơng có một giờ dạy, một
giờ học tốt được.
Với những biện pháp nêu trên, tơi hy vọng chúng ta sẽ giúp học sinh cảm
thấy được u thương trân trọng và tin tưởng. Học sinh sẽ tích cực, chủ động
tham gia luyện tập, bình tĩnh, tự tin trong hoạt động học và khả năng đúng chuẩn
mực, chính xác sẽ đạt được rất cao. Giờ luyện tập sinh động, mỗi giờ một vẻ, đều
tươi vui, thoải mái, sẽ gây được hứng thú với học sinh, sẽ khó mờ phai trong ký
ức, các em sẽ ngày càng u thích mơn học, càng mạnh dạn tự tin trong mơn học
tiếng Anh.
Hình thành đựợc tình cảm này qua những tiết dạy trong trường phổ thơng
sẽ là hành trang cho các em ngày mai bước vào đời cũng mạnh dạn, cũng tự tin
trao đổi giao lưu với nền văn hóa các nước bè bạn năm châu. Một tiết dạy hơm
nay sẽ có âm hưởng đến ngày mai tươi đẹp. Thiết nghĩ những người đứng lớp
nên cẩn trọng đến vơ cùng.
Bình Sơn, ngày 10 tháng 11 năm 2010
NGƯỜI VIẾT
Ung Thị Thu Hiền
Người thực hiện: Ung Thị Thu Hiền – Trường THCS Bình Minh
19
Làm thế nào giúp học sinh có thái độ, động cơ học tập tốt bộ môn Tiếng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status