đặc điểm câu kể trong chương trình tiếng việt lớp 4 - Pdf 24

Bĩ GIAẽO DUC VAè AèO TAO
AI HOĩC HU
TRặèNG AI HOĩC Sặ PHAM
L THậ KIM DUYN
C IM CU K TRONG CHNG
TRèNH TING VIT LP 4
Chuyón ngaỡnh : GIO DC HC TIU HC
Maợ sọỳ : 60.14.01.01
LUN VN THAC Sẫ GIAẽO DUC
HOĩC
NGặèI HặẽNG DN KHOA HOĩC
TS. NGUYN THậ BACH NHAN
Huóỳ, nm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Kim Duyên
ii
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng và
nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân.
Bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc
của mình tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Bạch
Nhạn, giáo viên hướng dẫn của tôi, người đã cho
tôi những góp ý chuyên môn vô cùng quý báu
cũng như luôn quan tâm, động viên tôi trước
những khó khăn trong khi thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng đào

4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Đối tượng nghiên cứu 8
6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu 8
7. Phương pháp nghiên cứu 8
8. Giả thuyết khoa học 9
9. Đóng góp của đề tài 9
10. Cấu trúc của luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 10
CÂU KỂ THEO LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC 10
TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI 10
1.1. Các quan niệm về câu kể trong ngôn ngữ học 10
1.1.1. Câu kể trong quan niệm ngôn ngữ học truyền thống 10
1.1.2. Câu kể trong quan niệm ngôn ngữ học hiện đại 11
1.1.2.2. Lí thuyết hành động ngôn từ và câu kể 13
1.1.2.3. Câu kể và hành động ở lời trực tiếp, hành động ở lời gián tiếp 14
1.2.2.4. Các nhân tố giao tiếp, đặc điểm văn hóa và việc sử dụng câu kể trong hoạt
động giao tiếp 15
1.2. Tổng quan về câu kể trong chương trình lớp 4 20
1.3. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 với việc dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao
tiếp qua việc dạy câu kể 21
1.3.1. Ngôn ngữ 22
1.3.2. Trí nhớ 22
1.3.3. Tưởng tượng 23
1.3.4. Tư duy 24
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2 26
PHÂN LOẠI CÂU KỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH 26
TIẾNG VIỆT LỚP 4 26
2.1. Các dạng câu kể trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 27

TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4 51
3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của câu kể 54
3.1.1. Cơ sở để phân loại câu theo nghĩa biểu hiện 54
3.1.2. Các loại câu kể phân theo ngữ nghĩa 55
3.1.2.1. Câu chỉ hành động 55
3.1.2.2. Câu chỉ quá trình 56
3.1.2.3. Câu chỉ trạng thái 57
3.1.2.4. Câu chỉ quan hệ 58
3.1.2.5. Câu tồn tại 59
3.1.2.6. Câu chỉ hành động và trạng thái 60
3.2. Đặc điểm chức năng của câu kể trong văn bản 60
3.2.1. Trình bày, diễn tả hoạt động của sự vật, hiện tượng 60
3.2.1.1. Diễn tả vận động, quá trình thuộc về hoạt động hành vi của chủ thể 61
3.2.1.2. Diễn tả vận động, hoạt động mang ý nghĩa trao nhận 62
3.2.1.3. Diễn tả hoạt động có tác động gây khiến 62
3.2.1.4. Diễn tả vận động, hoạt động về cảm nghĩ nói năng 63
3.2.1.5. Diễn tả vận động mang ý nghĩa di chuyển 64
3.2.1.6. Diễn tả vận động mang ý nghĩa tồn tại 65
3.2.1.7. Diễn tả vận động, quá trình hoạt động khác 65
3.2.2. Miêu tả trạng thái của hoạt động, sự vật, hiện tượng 67
3.2.2.1. Miêu tả những thuộc tính về màu sắc, mùi vị, hình dáng, kích thước 67
3.2.2.2. Kể, miêu tả trạng thái của sự vật 68
3.2.2.3. Miêu tả những thuộc tính vật lí của chủ thể 69
3.2.2.4. Miêu tả trạng thái tâm lí, tình cảm 69
3.2.2.5. Miêu tả tính cách của nhân vật 70
3.2.2.6. Diễn tả sự so sánh 70
3.2.3. Giới thiệu sự vật, hiện tượng 71
3.2.3.1. Giới thiệu về bản thân, quê hương 71
3.2.3.2. Đánh giá sự vật, hiện tượng 72
2

nghiên cứu về ngữ pháp hiện đại đó là đi sâu phân tích chức năng của câu vận dụng
trong đời sống thực tiễn và hoạt động hành chức của nó.
1.2. Câu kể là loại câu thông dụng nhất được sử dụng thường xuyên trên cả hai
phương diện của ngôn ngữ: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Tần suất sử dụng câu kể
trong hoạt động giao tiếp là yếu tố quyết định việc tạo lập văn bản nói và văn bản
viết. Do đó, việc nghiên cứu câu kể cả về mặt cấu trúc ngữ pháp và chức năng sử
dụng trong hoạt động giao tiếp (theo lí thuyết hành động ngôn từ) là yêu cầu quan
trọng cần đặt ra trong việc nghiên cứu hoạt động sử dụng câu trong đời sống thực
tiễn hàng ngày và trong học tập, nghiên cứu hiện nay.
1.3. Nội dung xuyên suốt chương trình phân môn Luyện từ và câu của sách
giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 bao hàm các vấn đề liên quan đến câu kể và cách sử
dụng câu kể trong nói và viết. Hơn thế nữa, ngữ liệu của hầu hết các phân môn của
môn Tiếng Việt lớp 4 nói riêng và các môn học trong chương trình lớp 4 nói chung
đều có sự xuất hiện câu kể với tần suất cao, được lặp đi lặp lại thường xuyên.
1.4. Xét từ góc độ lí luận dạy tiếng, việc dạy câu kể trong nhà trường Tiểu học
luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Ở lớp 4 các em được làm quen với câu kể
dưới ba dạng: Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?. Đây được coi là ba kiểu câu cơ bản
được sử dụng rất nhiều trong giao tiếp cũng như tạo lập các văn bản. Nhưng như ta
đã biết mỗi kiểu câu có một chức năng riêng mà trong thực tế sử dụng câu rất đa
dạng và phong phú. Mặc dù học sinh đã nắm được cấu trúc của ba kiểu câu trên,
nắm được kiến thức về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) nhưng khi đứng trước một
số câu kể không có cấu trúc hoàn toàn giống với ba kiểu câu kể đã được học hoặc
những câu kể không có dấu câu kết thúc bằng dấu chấm thì các em trở nên lúng
túng không xác định được. Ngay bản thân giáo viên nếu không có kiến thức vững
vàng, không có sự linh hoạt trong tư duy và phương pháp giảng dạy mà cứng nhắc
dựa vào cấu trúc cơ bản của từng kiểu câu đó thì cũng trở nên lúng túng trong việc
5
giúp học sinh xác định câu kể và các dạng của câu kể. Bên cạnh đó, phần lớn giáo
viên chỉ đang dừng lại ở việc dạy câu kể trong cấu trúc tĩnh tại vốn có của nó mà
chưa thực sự quan tâm đến việc đạt được mục đích cuối cùng của việc dạy học câu

loại các kiểu câu theo mục đích nói nhưng đối với câu kể, tác giả cho rằng “Việc
miêu tả cấu tạo của câu trình bày trong tiếng Việt rất khó thực hiện vì động từ tiếng
Việt không biến hình theo thức như trong ngôn ngữ biến hình từ ”.
Khi lí thuyết ngữ dụng học được giới thiệu và nghiên cứu ở Việt Nam, nhiều
nhà nghiên cứu đã chú ý hơn đến lí thuyết hành động ngôn từ, chính vì vậy việc
phân loại câu theo mục đích nói năng đã được cụ thể hóa hơn phù hợp với thực tế
nói năng, điều này cũng đã được những nhà giáo dục học chú ý nên việc biên soạn
sách giáo khoa đã có những nội dung bổ sung về câu theo mục đích nói năng cụ thể
như vấn đề câu phân theo mục đích nói năng trực tiếp / gián tiếp được đưa vào
chương trình Trung học Cơ sở, và vấn đề ưu tiên dạy câu kể trong chương trình
Tiếng Việt ở tiểu học đã thể hiện rõ tính định hướng dạy tiếng theo quan điểm giao
tiếp. Các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy câu chia theo mục đích nói, trong đó có
câu kể. Đó là các công trình nghiên cứu:
- Chu Thị Thủy An, Bàn về nội dung dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở tiểu học, ,
Dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học, Dạy học Luyện từ và câu ở
tiểu học, Một số suy nghĩ về việc dạy các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học
hiện nay.
- Lã Thị Trà My, Dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học
Các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học Tiếng Việt ở tiểu học thông qua hoạt
động giao tiếp, vấn đề dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói theo quan điểm
giao tiếp trong đó có câu kể. Đây là những đóng góp rất cần thiết trong dạy học
Tiếng Việt ở Tiểu học. Tuy nhiên dạy như thế nào để hữu ích đối với học sinh thì
chúng ta cần nắm rõ đặc điểm, giá trị sử dụng của câu kể trên cơ sở của lí thuyết
ngôn ngữ học và thực tế sử dụng trên văn bản để vận dụng có hiệu quả nhất.
Mặc dù câu phân loại theo mục đích nói đã được đề cập đến rất nhiều trong các
công trình nghiên cứu ngôn ngữ học và các tác giả có đề cập đến vấn đề dạy câu
chia theo mục đích nói nhưng chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu về
đặc điểm của một kiểu câu, cụ thể là câu kể được đưa vào sách giáo khoa ở tiểu học.
Từ những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, trên cơ sở vấn đề được
đặt ra trong nội dung dạy câu kể ở sách giáo khoa lớp 4 và trên thực tế việc sử dụng

7.1.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích, khái quát các quan điểm về câu
kể trong Tiếng Việt để xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài.
7.2. Phương pháp thống kê phân loại: thống kê và phân loại các hình thức câu kể
trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, xử lí số liệu thống kê và nêu những kết luận
về đối tượng nghiên cứu này.
8
8. Giả thuyết khoa học
Nếu luận văn hệ thống được đặc điểm của câu kể trong chương trình Tiếng
Việt lớp 4 thì chất lượng của việc dạy học câu kể cho học sinh sẽ được nâng cao.
9. Đóng góp của đề tài
Qua kết quả khảo sát, phân tích đặc điểm của câu kể trong chương trình Tiếng
Việt lớp 4, luận văn mong góp phần giúp người nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt ở
Tiểu học có thể đi sâu vào tìm hiểu câu kể, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho việc giảng dạy câu kể ở lớp 4 tại các trường tiểu học hiện nay
được tốt hơn.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc 3 chương như sau:
Chương 1: Câu kể theo lí thuyết ngôn ngữ học truyền thống và hiện đại
Chương 2: Phân loại câu kể trong chương trình Tiếng Việt lớp 4
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và chức năng của câu kể trong chương trình
Tiếng Việt lớp 4
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CÂU KỂ THEO LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC
TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
1.1. Các quan niệm về câu kể trong ngôn ngữ học
1.1.1. Câu kể trong quan niệm ngôn ngữ học truyền thống
Trong ngôn ngữ học truyền thống, câu chia theo mục đích nói nói chung và câu
kể nói riêng là vấn đề mà tất cả các nhà ngôn ngữ học đều quan tâm nghiên cứu.

Câu kể là loại câu được sử dụng phổ biến trong giao tiếp cũng như trong các
văn bản nghệ thuật. Xét về mặt lô-gic ngữ pháp, câu kể được chia thành hai loại:
câu khẳng định và câu phủ định.
Câu kể khẳng định thường nêu lên sự vật, hiện tượng được nhận định là có tồn tại.
Ví dụ:
- Mùa hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực trên cành.
- Vịnh Lăng Cô là vịnh đẹp thế giới.
Câu kể phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của vật, hiện tượng hay sự kiện,
sự vắng mặt của đối tượng hay của đặc trưng đối tượng trong hiện thực hoặc trong
tưởng tượng, bằng những phương tiện hình thức xác định. [6, tr.261]
Ví dụ:
- Không đâu đẹp hơn quê hương ta.
- Nông trường không phải là nơi an dưỡng.
Xét về mặt hình thức, phương tiện biểu hiện câu kể là kiểu câu có cấu trúc cú
pháp ổn định nhất có hai thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ) hoặc một thành phần
chính biểu thị nội dung mệnh đề. Nhưng hình thức này không phải của riêng câu kể.
Câu nghi vấn, câu cầu khiến đều có nội dung mệnh đề nên đều có cấu trúc cú pháp
cơ bản và được phân biệt bằng các dấu hiệu đặc trưng nhất định. Tuy nhiên, câu kể
là loại câu phản ánh sát nhất cấu trúc mệnh đề.
1.1.2. Câu kể trong quan niệm ngôn ngữ học hiện đại
Ngôn ngữ học hiện đại đã kế thừa những thành tựu đạt được của ngôn ngữ học
truyền thống và lí thuyết hành động ngôn từ ra đời đã kịp thời bổ khuyết cho những
vấn đề chưa được đề cập đến ở ngôn ngữ học truyền thống.
11
Trong ngôn ngữ học hiện đại, câu kể được xem xét trong thực tiễn đa dạng của
nó. Bởi trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể sử dụng câu kể để thực hiện
nhiều chức năng giao tiếp khác nhau.
1.1.2.1. Lí thuyết ba bình diện của tín hiệu học và vấn đề nghiên cứu câu
Mô hình lí thuyết ba bình diện vốn xuất phát từ công trình nghiên cứu về tín
hiệu học của Ch. Morris (1938). Lí thuyết này được áp dụng cho việc nghiên cứu tín

Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các
kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung.
[16, tr.88]
Hành vi mượn lời là những hành vi mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả
ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói.
[16, tr.88]
Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu
quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một
phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. [16, tr.89]
Nhờ có thuyết hành vi ở lời mà ngữ pháp hiện đại mới thấy được: hỏi, kể, yêu
cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo,… là những hành động ngôn ngữ. Các hành
vi ở lời này được sử dụng dưới hình thức nhất định đó là câu. Hệ thống câu chia
theo mục đích nói chung và câu kể nói riêng thực chất được phân chia theo hai tiêu
chí: hành vi ở lời và dấu hiệu hình thức.
J. R. Searle cho rằng có thể chia hành động ngôn từ thành 5 loại. Đó là:
- Tái hiện: là những hành vi ở lời miêu tả một sự việc, một mệnh đề và người
nói phải chịu trách nhiệm về giá trị chân lí của mệnh đề được biểu đạt.
Ví dụ: miêu tả, khẳng định, tường thuật,…
- Điều khiển: là những hành vi ở lời yêu cầu người nghe có trách nhiệm thực
hiện hành động tương lai.
Thuộc vào nhóm này có những động từ như: yêu cầu, xin, van nài, ra lệnh –
khuyên, hỏi (hỏi cũng là một hành động cầu khiến) …
Ví dụ:
+ Xin anh cho tôi một vài lời khuyên.
- Cam kết: là những hành vi ở lời mà người nói cam kết sẽ thực hiện một hành
động nào đấy trong tương lai.
Ví dụ: Hành vi hứa hẹn, tặng, biếu,…
13
- Biểu cảm: là những hành vi ở lời bày tỏ một trạng thái tâm lí của người nói
đối với một sự tình trong nội dung mệnh đề. Động từ được dùng tiêu biểu cho phạm

Ví dụ:
- A: Ngày mai em về quê với anh nhé!
- B: Mai em phải đi dạy rồi.
Một câu kể ở lời trực tiếp có thể thực hiện nhiều hành vi ở lời gián tiếp như
mong ước, cầu khiến, hỏi.
Ví dụ: Ở lời trực tiếp: kể ở lời gián tiếp: cầu khiến
- Anh ơi, điện thoại của em hỏng rồi. Anh mua điện thoại mới cho em đi!
Như vậy, dùng câu kể ở lối gián tiếp giúp chúng ta thấy được sự sống động,
phong phú, đa dạng của hoạt động ngôn ngữ trong đời sống thường nhật. Chúng ta
luôn truyền tải được nhiều hơn những gì chúng ta nói. Vì vậy người giáo viên cần
nắm rõ đặc điểm này để giúp học sinh lĩnh hội những tri thức cần thiết về câu nói
chung và câu kể nói riêng để các em có thể sử dụng sáng tạo trong học tập cũng như
trong cuộc sống.
1.2.2.4. Các nhân tố giao tiếp, đặc điểm văn hóa và việc sử dụng câu kể trong hoạt
động giao tiếp
a. Các nhân tố giao tiếp
Ta nói câu kể là một dạng câu dùng để giao tiếp nhưng nếu không gắn câu kể
với các nhân tố của cuộc giao tiếp trong đó nó được tạo ra thì trong một số trường
hợp sẽ rất khó hiểu về nó. Các nhân tố giao tiếp bao gồm: ngữ cảnh, ngôn ngữ và
diễn ngôn.
a.1. Ngữ cảnh
Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài
diễn ngôn. Ngữ cảnh là tổng thể những hợp phần sau đây:
- Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc
giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó
mà tác động vào nhau. Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ. Giữa các nhân
vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân. Xác định được nhân
vật giao tiếp cực kì quan trọng, ngoài việc sản sinh ra lời nói, lựa chọn hình thức
diễn đạt phù hợp, nhân tố này còn liên quan đến việc đảm bảo tính lịch sự khi sử
dụng câu.

tiếp nhận không phản hồi tại chỗ).
Trong cuộc giao tiếp người tham gia này phải xây dựng nên một hình ảnh tinh
thần về các đặc điểm, trạng thái năng lực của người kia theo đích giao tiếp của mình
16
để rồi căn cứ vào các hình ảnh tinh thần đó mà định ra chiến lược hay kế hoạch giao
tiếp, kế hoạch này là một tổ chức gồm các hành động chủ yếu bằng lời để đạt đến
đích của mình.
Quan hệ liên cá nhân: Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao
tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ xét
trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau.
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo 2 trục: trục
tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy, trục hoành là trục của quan hệ
khoảng cách, còn gọi là trục thân cận. Quan hệ này có thể thay đổi ít nhiều trong
quá trình giao tiếp. Thường thì quan hệ quyền uy sẽ giữ nguyên trong quá trình giao
tiếp còn quan hệ khoảng cách có thể thay đổi.
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức
diễn ngôn. Trong các ngôn ngữ, đặc biệt là trong tiếng Việt, xưng hô chịu áp lực rất
mạnh của áp lực liên cá nhân.
Ví dụ:
Một hôm, Trạng túc trực trong phủ chúa. Chúa bảo:
- Ta ăn đủ của ngon vật lạ trên đời mà vẫn không thấy ngon miệng. Ngươi biết
thứ gì ngon thì mách cho ta.
Trạng bẩm:
- Chúa đã xơi “mầm đá” chưa ạ?
Nghe có món lạ, chúa bèn sai Trạng dâng lên.
Bữa ấy, chúa đợi món “mầm đá” đã quá bữa, thấy đói bụng bèn hỏi:
- “Mầm đá” đã chín chưa?
Trạng đáp:
- Dạ, chưa ạ.
(Ăn mầm đá – Truyện dân gian Việt Nam) [38, tr. 157]

Ngôn ngữ tự nhiên là ngôn ngữ có đường kênh cơ bản là đường kênh thính
giác. Về sau, cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị giác.
Từ đó, diễn ngôn có hai dạng thức: diễn ngôn nói (miệng) và diễn ngôn viết.
Ngôn ngữ thị giác với chữ viết là thứ phát so với ngôn ngữ nguyên phát là ngôn
ngữ viết. Vì là thứ phát nên ngôn ngữ viết phải đồng nhất cơ bản với ngôn ngữ nói.
Tuy nhiên vì đã ra đời và sử dụng hai thể chất cảm tính khác nhau cho nên mỗi thứ
ngôn ngữ nói và viết vẫn có tính độc lập tương đối. Sự sai biệt giữa chúng ngày một
trở nên đáng kể tuy nhiên không thể tuyệt đối hóa sự sai biệt giữa ngôn ngữ nói và
18
ngôn ngữ viết. Những quy tắc chi phối ngôn ngữ nói vẫn là cơ sở để lí giải những
cái có trong ngôn ngữ viết mặc dù không thể lí giải được tất cả.
a.3. Diễn ngôn
Michael Hoey định nghĩa: “Diễn ngôn là bất kì một dải nói và viết nào của
ngôn từ được cảm nhận là tự nó đã hoàn chỉnh” [16, tr. 33]
Diễn ngôn là lời từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp. Cũng có những
diễn ngôn do hai hay hơn hai nhân vật giao tiếp xây dựng nên (như trường hợp
trong một cuộc hội thoại tay ba, hai người liên kết với nhau để chống lại người thứ
ba). [16, tr. 34]
Tùy theo đường kênh, hay tùy theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta
có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết. Diễn ngôn viết là các văn bản. Văn bản là
những diễn ngôn liên tục do một người tạo nên. Diễn ngôn có thể là một phát ngôn
mà cũng có thể là hợp thể của nhiều phát ngôn.
Về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố: thứ nhất là nội dung thông tin bị quy
định bởi tính đúng - sai lôgic, thứ hai là nội dung liên cá nhân bao gồm tất cả các
nội dung của diễn ngôn không bị quy định bởi tính đúng - sai lôgic.
b. Đặc điểm văn hóa
Mỗi đất nước, mỗi vùng miền sẽ có những sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo,
kinh tế, chính trị,… chính điều này đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trong văn hóa
giao tiếp. Đặc điểm văn hóa của mỗi vùng miền đã và đang chi phối đến văn hóa
giao tiếp nói chung và việc sử dụng câu kể trong giao tiếp nói riêng. Cụ thể là:

đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy.
b. Kiến thức:
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu
biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và
nước ngoài.
c. Thái độ:
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. [40, tr.3]
Mục tiêu dạy câu – câu kể ở lớp 4
- Phân môn Luyện từ và câu thực hiện mục tiêu cung cấp những kiến thức sơ
giản về tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho
học sinh. [40, tr.7]
20
- Do vậy, mục tiêu của việc dạy câu kể ở lớp 4 là phải hình thành và rèn luyện
cho học sinh kĩ năng sử dụng câu - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ trong giao tiếp,
đồng thời cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cấu tạo câu kể và chức năng
của các thành phần câu kể; về mục đích nói và vận dụng các quy tắc sử dụng các
kiểu câu kể trong hoạt động giao tiếp.
- Ở lớp 4, việc hình thành các kiến thức và kĩ năng nói trên được thực hiện chủ
yếu thông qua các bài tập dạy về câu kể. Mục tiêu của việc dạy học câu kể không
chỉ hình thành cho học sinh kĩ năng sản sinh ra các câu kể đúng về mặt ngữ pháp
mà quan trọng hơn là học sinh phải sử dụng câu kể hay, phù hợp với từng hoàn
cảnh giao tiếp, phù hợp với từng tình huống, lời nói sinh động, phù hợp với văn hóa
giao tiếp của người Việt. Những kĩ năng này phải được hình thành trên cơ sở tri
thức về đặc điểm cấu tạo hình thức, mục đích nói và công dụng của các kiểu câu kể,
nhất là quy tắc sử dụng câu kể trong giao tiếp.
Khái niệm câu kể trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4
Từ mục tiêu dạy học và các quan điểm về câu kể như trên, sách giáo khoa

vốn ngôn ngữ của các em còn khá nghèo nàn, ít ỏi. Các em chỉ mới làm quen và
nắm được vốn từ về những sự vật, hiện tượng gần gũi, quen thuộc hay theo các chủ
điểm về nhà trường, gia đình, quê hương, … nên việc dùng từ để tạo câu của các em
vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến việc diễn đạt nội dung còn lúng túng, câu văn (viết
và nói) còn lủng củng, nội dung ý nghĩa câu văn thiếu phong phú. Mặt khác, vốn
sống của học sinh còn nghèo nàn nên trong tư duy của các em có được ít vốn từ để
tạo câu và sử dụng câu. Đặc biệt, học sinh lớp 4 lần đầu tiên được làm quen với câu
kể gồm ba kiểu câu (Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?) các em có phần lúng túng khi
phân biệt ba kiểu câu này do các em chưa nắm vững được đặc điểm của từng kiểu
câu cũng như hoạt động hành chức của nó trong giao tiếp. Nhưng học sinh tiểu học
có đặc điểm trực quan trong tư duy, những cái mới lạ dễ thu hút và đi vào nhận thức
của các em nên kiến thức về câu kể sẽ được các em nhanh chóng nắm bắt và vận
dụng trong học tập, giao tiếp sau này.
1.3.2. Trí nhớ
Học sinh lớp 4 có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí
nhớ từ ngữ – lôgíc, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các
em tương đối chiếm ưu thế. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện
tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời.
Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực học tập của học sinh
quy định. Điều này còn phụ thuộc vào kĩ năng nhận biết và phân biệt các nhiệm vụ
22

Trích đoạn Diễn tả vận động, quâ trình hoạt động khâc Miíu tả những thuộc tính về mău sắc, mùi vị, hình dâng, kích thước Miíu tả trạng thâi tđm lí, tình cảm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status