giải pháp huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh tại sở giao dịch ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam - Pdf 24

Chuyên đÒ tốt nghiệp
Lời mở Đầu
Vốn là một trong những yêu cầu hàng đầu cho việc đầu tư, xây dựng,
nó càng trở nên quan trọng hơn khi đất nước chúng ta đang trên con đường
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và nhÊt là trong bối cảnh đất nước
chóng ta vừa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Nhu cầu về vốn
đầu tư là rất lớn, Hiện nay chóng ta đã có tương đối nhiều các tổ chức kinh
tế làm nhiệm vụ huy động vốn, tuy nhiên các ngân hàng thương mại luôn
đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động này, là một trong các ngân hàng
thương mại quốc doanh lớn nhất, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam (NHNo&PTNT ) đã đạt được nhiều thành tựu trong hoạt
động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Góp phần
đáng kể vào những thành công trong hoạt động kinh doanh của
NHNo&PTNT là Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp. Tuy nhiên để đáp
ứng được xu hướng phát triển của tương lai cũng như là mục tiêu phát triển
của NHNo&PTNT thì việc phát huy các mặt đã làm được đồng thời tìm ra
các hạn chế còn tồn tại và đưa ra các giải pháp khắc phục là vô cùng cần
thiết. Qua một thời gian thực tập tại Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt nam.
Em nhận thấy mình cần phải tìm hiểu nhiều hơn về hoạt động huy động vốn,
một hoạt động quan trọng của ngân hàng.Vì vậy, em mạnh dạn chọn đề tài:
“Giải pháp huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh tại Sở
giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”.
Đây là một đề tài nghiên cứu về vấn đề lớn, bức xúc của ngành mà
không kém phần phức tạp do thực tiễn đề ra. Là một sinh viên, năng lực
nghiên cứu còn có hạn, chắc chắn khoá luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót. Em kính mong được sự chỉ đạo, hướng dẫn của các thầy cô giáo,
ban lãnh đạo Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam.
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
1
Chuyên đÒ tốt nghiệp

liên doanh có vốn điều lệ do các bên tham gia đóng góp.
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
2
Chuyên đÒ tốt nghiệp
Vốn điều lệ của ngân hàng không được nhỏ hơn vốn pháp định, ở
Việt Nam mức vốn pháp định do Ngân hàng Nhà Nước quy định, nhưng
mỗi NHTM có số vốn điều lệ khác nhau tuỳ thuộc vào chủ sở hữu ngân
hàng, qui mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng đó. Vốn điều lệ của mỗi
NHTM có thể thay đổi trong quá trình hoạt động, thường là được tăng lên
dưới các hình thức như được Ngân sách Nhà nước cấp bổ sung đối với
NHTM quốc doanh, huy động thêm vốn từ các cổ đông bằng cách phát hành
thêm cổ phiếu với NHTM cổ phần hay bổ sung từ lợi nhuận để lại hoặc các
quỹ đã được trích lập. Vốn điều lệ của NHTM thuộc sở hữu của ngân hàng
và ngân hàng có toàn quyền sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp
luật. Nguồn vốn này chủ yếu được ngân hàng sử dụng để mua xắm trang
thiết bị, cơ sở vật chất, góp vốn liên doanh, cho vay hoặc cho các hoạt động
khác của ngân hàng.
Ngoài vốn điều lệ, trong quá trình hoạt động và tồn tại, ngân hàng
thương mại còn trích lập các quỹ dự trữ theo luật định như quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt, quỹ đầu tư phát triển, hình thành nên
nguồn vốn tích luỹ của ngân hàng. Vốn điều lệ và phần lợi nhuận chưa chia
đều là nguồn vốn tự có của ngân hàng.
Nguồn vốn tự có của ngân hàng mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, nhưng đây là nguồn vốn quan
trọng vì nó cho thấy được thực lực về tài chính cũng nh quy mô của ngân
hàng. Vốn tự có của NHTM là điều kiện pháp lý cơ bản, đồng thời là yếu tố
tài chính quan trọng trong việc đảm bảo các khoản nợ đối với khách hàng, vì
vậy quy mô vốn tự có là yếu tố quyết định qui mô huy động vốn và quy mô
tài sản có. Vốn tự có không chỉ được xem như sự bảo đảm khả năng thanh
toán cho người gửi tiền khi ngân hàng phá sản mà góp phần duy trì khả năng

này. Đây là nguồn vốn có chi phí huy động thấp nhất. Nhưng tính ổn định
của nó là thấp nhất, do khách hàng gửi vào đây với mục đích thanh toán nên
họ có thể rót ra để chi trả, thanh toán bất cứ lúc nào, mà ngân hàng không
được phép từ chối. Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào chu kỳ
sản xuất kinh doanh, thời vụ, hoặc địa bàn hoạt động của ngân hàng. Để đo
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
4
Chuyên đÒ tốt nghiệp
độ biến động phức tạp của nguồn vốn này, ta có thể đo tần suất biến động
hoặc số vòng quay, hoặc dựa vào các con số thống kê trong lịch sử mà ngân
hàng đưa ra kết luận. Sử dụng nguồn vốn tiền gửi thanh toán là ngân hàng
phải thận trọng, nếu không rủi ro chi trả sẽ xảy ra, điều này có thể làm giảm
uy tín của ngân hàng, hoặc phải tốn quá nhiều chi phí để đi vay, thậm chí có
thể là bị phá sản. Để huy động tiền gửi thanh toán , ngân hàng thương mại
cần khuyến khích các cá nhân và tổ chức kinh tế mở tài khoản. Lãi suất đôi
khi cũng không phải là yếu tố quan trọng, mà ngân hàng cần chú ý tới những
tiện Ých và dịch vụ do ngân hàng đem lại cho khách hàng.
*Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn (thường chiếm khoảng 45% tổng số tiền gửi) là
loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi
tiền. Trong khoảng thời gian thỏa thuận đó, ngân hàng tùy ý sử dụng số tiền
do khách hàng ký gửi, khi khách hàng cần rút tiền thì phải báo trước cho
ngân hàng và phải được sự đồng ý của ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn do các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội tạo ra, từ các quỹ nh quỹ khấu
hao, quỹ đầu tư, từ các nguồn thu nhập của doanh nghiệp.
Việc huy động tiền gửi có kỳ hạn là nguồn có chi phí cao song ổn
đÞnh. Vì vậy, lãi suất cho số dư tiền gửi là rất có ý nghĩa cho việc huy động
vốn ở ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại có thể tăng lượng vốn
bằng cách tăng lãi suất cho số dư ở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn.
*Tiền gửi tiết kiệm

cung tiền sẽ áp dụng mức lãi suất chiết khấu thấp khuyến khích các ngân
hàng thương mại vay để mở rộng cung tiền. Ngược lại khi muốn thắt chặt
cung tiền, NHTW áp dụng mức lãi suất chiết khấu cao làm cho NHTM
không dám mở rộng cho vay mà luôn phải có một lượng dự trữ thích hợp để
tránh phải vay NHTW với lãi suất cao. Hơn nữa để đảm bảo tính điều tiết
của mình, NHTW chỉ cho NHTM vay ngăn hạn và có tài sản đảm bảo vì chỉ
như vậy NHTW mới có phản ứng nhanh nhạy với những biến động của nền
kinh tế cũng như trong hệ thống tiền tệ vốn chịu nhiều nhân tố tác động. ở
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
6
Chuyên đÒ tốt nghiệp
Việt Nam hiện nay, NHTW cho vay các ngân hàng thương mại dưới các
hình thức sau:
- Cho vay chiết khấu và tái chiết khấu trái phiếu kho bạc, khế ước mà
các NHTM đã cho khách hàng vay chưa đáo hạn và các thương phiếu.
- Cho vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ của các tổ chức tín dụng.
- Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: đây là hình thức tài
trợ vốn theo kế hoạch và chỉ phân phối cho các ngân hàng thương mại Quốc
doanh.
* Vay các tổ chức tài chính, tín dụng (TCTD) trên thị trường tiền tệ
liên ngân hàng : Thị trường tiền tệ liên ngân hàng là thị trường mua bán các
chứng từ có giá ngắn hạn giữa các ngân hàng, các TCTD. Thị trường tiền tệ
liên ngân hàng hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các ngân hàng, bổ sung kịp
thời cho nhu cầu vốn thông qua việc điều hoà các nguồn vốn từ nơi thừa đến
nơi thiếu, qua đó góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đã có tại các
ngân hàng.Trên thị trường này, các ngân hàng, các TCTD vay mượn lẫn
nhau thông qua việc mua bán các trái phiếu ngắn hạn. Khi thiếu hụt tiền
mặt, NHTM có thể phát hành phiếu nợ trên thị trường tiền tệ để tìm thêm
nguồn vốn hoạt động. NHTM thường vay nợ trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng dưới các hình thức như phát hành các chứng chỉ tiền gửi (CDs),

kinh doanh. Chính vì vậy, có thể nói vốn là điểm đầu trong kinh doanh của
ngân hàng. Ngân hàng muốn mở rộng kinh doanh, thu được lợi nhuận, muốn
tăng uy tín thì ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật
định thì ngân hàng phải thường xuyên quan tâm tới việc tăng trưởng vốn
trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng.
*Thứ hai, vốn đầu tư của ngân hàng sẽ quy định quy mô hoạt động
tín dụng trung và dài hạn và các hoạt động khác của ngân hàng. Vốn của
ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng.
Thông thường, nếu so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có các
khoản mục đầu tư kém đa dạng hơn, khối lượng và phạm vi tín dụng cũng
nhỏ hơn. Trong các ngân hàng lớn có nhiều vốn đầu tư trung và dài hạn cho
vay được cả thị trường nước và quốc tế, thì ngân hàng nhỏ thiếu vốn nói
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
8
Chuyên đÒ tốt nghiệp
chung và vốn trung dài hạn nói riêng sẽ bị giới hạn cho vay trong phạm vi
hẹp, chủ yếu trong cộng đồng. Thêm vào đó khả năng vốn hạn hẹp nên ngân
hàng nhỏ không phản ứng nhạy với những biến động về lãi suất, gây ảnh
hưởng đến khả năng thu hút vốn từ các thành phần kinh tế và dân cư.
*Thứ ba, vốn quyết định năng lực thanh toán của ngân hàng, đảm
bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường từ đó quyết định năng lực
cạnh tranh của ngân hàng đó.
Ngân hàng vừa là chủ nợ, vừa là con nợ. Để đáp ứng nhu cầu chi trả
của ngân hàng cho các khoản vay đến hạn, ngoài dự trữ bắt buộc , ngân
hàng còn phải đảm bảo khả năng thanh toán dưới dạng tiền mặt, tín phiếu
kho bạc, các giấy tờ có giá hoặc các tài sản có tính lỏng hơn.
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng phải
giữ được chữ tín. Uy tín thể hiện bằng khả năng chi trả của ngân hàng khi
đáo hạn. Vốn khả dụng càng cao thì khả năng thanh toán càng lớn. Nói một
cách khác, khả năng thanh toán tỷ lệ thuận với nguồn vốn của ngân hàng nói

nhiên, trong mỗi ngân hàng, do có sự không khớp nhiẹp giữa xuất và nhập
trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên
tồn khoản mà ngân hàng được phép sử dụng một phần làm vốn kinh doanh.
Đây là nguồn vốn huy động có chi phí thấp của ngân hàng. Ở các
nước phát triển, loại tiền gửi này thường không được hưởng lãi, nhưng bù
lại, khách hàng có thể được sử dụng các dịch vụ ngân hàng một cách miễn
phí.
- Tiền gửi có kì hạn:
Đây là lại tiền gửi có sự thoả thuận trước khách hàng và ngân hàng về
thời hạn rút tiền. Khách hàng sử dụng loại tiền gửi có kì hạn để đánh đổi
tính lỏng lấy thu nhập từ tài khoản lấy thu nhập từ tài sản của họ. Có nghĩa
là họ gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi hoặc chi tiêu cho tương lai. đặc tính
hưởng lãi hoặc chi tiêu cho tương lai. Đặc tính chung của loại tiền gửi này là
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
10
Chuyên đÒ tốt nghiệp
hưởng mức lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán và mức lãi suất này
là tỉ lệ thuận với thời hạn gửi và người gửi tiền không được phát hành séc
hoặc sử dụng các dịch vụ ngân hàng từ tiền gửi này.
Tiền gửi có kì hạn về nguyên tắc được rót ra khi đoá hạn, nhưng thực
tế để cạnh tranh, các ngân hàng thương mại thường chấp nhận việc khách
hàng có nhu cầu rút tiền trước kì hạn bằng cách cho hưởng lãi suất của kì
hạn ngắn hơn hoặc lãi suất của tiền gửi không kì hạn.
Tiền gửi này là nguồn vốn tương đối ổn đinh, ngân hàng có thể sử
dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh, chính vì vậy, các ngân hàng
thương mại luôn tìm cách đa dạng hoá loạ tiền gửi này bằng cách áp dụng
nhiều kì hạn lãi suất khác nhau với mức lãi suất linh hoạt cùng với nhiều
chính sách khách hàng để thu hút tối đa nguồn vốn này.
- Nhận tiền gửi tiết kiệm:
Là nguồn vốn mà ngân hàng huy động tạm thời tiền nhàn rỗi trong

hàng tích trữ vàng, ngoại hối hay đầu tư vào tài sản khác. Trong điều kiện
nền kinh tế bất ổn định, giá cả và sức mua của tiền tệ biến động phức tạp,
lạm phát xảy ra , tiêu cực thì người dân nhằm mục đích an toàn tài sản nên
thường có xu hướng tích trữ vàng, mua ngoại tệ hoặc các dạng tài sản khác
(như bất động sản, các tài sản quý giá ). Ngược lại, nền kinh tế phát triển
ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân có cái nhìn khả quan hơn và
có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng làm cho nguồn vốn trong ngân hàng
thương mại được tăng lên.
- Nhân tố tiết kiệm trong nền kinh tế: Thực tế cho thấy người dân có
thu nhập càng cao, lượng tiền để dành càng lớn, đặc biệt khi thu nhập bình
quân đầu người đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm không
phải tăng lên theo tương quan tỷ lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với
một mức tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do nhu cầu thiết yếu lúc này được
thỏa mãn hoàn toàn và lượng tiền dư sẽ tăng nhanh. Tuy nhiên, lượng tiền
tiết kiệm trong dân cư còn phụ thuộc vào xu hướng tiết kiệm mà nhân tố này
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
12
Chuyên đÒ tốt nghiệp
lại phụ thuộc vào tâm lý tiêu dùng của dân cư, do các điều kiện kinh tế xã
hội văn hóa quyết định.
Bên cạnh nguồn tiết kiệm từ dân cư, thì nguồn tiết kiệm từ các tổ
chức kinh tế xã hội cũng rất quan trọng. NHTM có thể huy động nguồn vốn
này thông qua nghiệp vụ phát hành các giấy tờ có giá. Do đó, để NHTM
thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính, phục vụ đầu tư phát triển thì
đòi hỏi các tổ chức cá nhân và nhà nước có chính sách thực hiện hợp lý và
coi tiết kiệm là quốc sách hàng đầu.
- Chính sách của nhà nước: Để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh
tế xã hội văn hóa của một quốc gia, các chính phủ thường ban hành các
chính sách. Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác
huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Bởi vì, khi nhà nước khuyến

- Chính sách lãi suất cạnh tranh: Bao gồm các lãi suất huy động và
cho vay. Đây là một chính sách quan trọng của NHTM, nó đòi hỏi phải có
sự linh hoạt vừa hấp dẫn người gửi, đồng thời phải đảm bảo hiệu quả kinh
doanh cho ngân hàng. Thông thường, quy mô tiền gửi vào NHTM biến động
tỷ lệ thuận với lãi suất huy động nhưng cũng có khi lãi suất huy động giảm
mà người gửi vẫn thu được một khoản lợi tức sau khi đã trừ đi tỷ lệ trượt giá
thì vốn huy động của NHTM có thể tăng lên. Như vậy lãi suất huy động vốn
có ảnh hưởng đến quy mô của NHTM, đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm. Việc
người dân thường quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh với tỷ lệ trượt
giá của đồng tiền và khả năng sinh lời của hình thức đầu tư khác như: cổ
phiếu, trái phiếu từ đó dân chúng sẽ đưa ra quyết định có nên gửi tiền vào
NHTM hay không? Gửi bao nhiêu và dưới hình thức nào?
Đối với các tổ chức kinh tế xã hội thì lãi suất huy động Ýt ảnh hưởng đến
lượng tiền gửi của họ mà họ thường quan tâm tới công nghệ ngân hàng, thái
độ phục vụ của nhân viên ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất và tiện Ých còng
nh tính thanh khoản của tín phiếu, trái phiếu ngân hàng cũng được các tổ
chức này đặc biệt quan tâm.
- Sự đa dạng của các loại hình huy động: Trong nền kinh tế thị
trường, việc đưa ra nhiều sản phẩm khác nhau cho người tiêu dùng lựa chọn
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
14
Chuyên đÒ tốt nghiệp
là hết sức cần thiết, bởi vì nhu cầu của mỗi người là khác nhau. Các sản
phẩm của ngân hàng là khá đơn điệu, việc đa dạng hóa các hình thức huy
động vốn là rất khó. Tuy nhiên, các NHTM cho ra đời nhiều sản phẩm vừa
mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại nh: tiền gửi tiết kiệm, kỳ
phiếu, trái phiếu với nhiều kỳ hạn, mệnh giá , chủng loại khác nhau. Qua đó
từng bước đã thu hút được nhiều khách hàng hưởng ứng. Một NHTM có sự
đa dạng trong nghiệp vụ huy động vốn thỏa mãn được nhu cầu của người
gửi tiền, một sản phẩm phù hợp sẽ làm cho khách hàng quan tâm và bị thu

phát triển nông thôn việt nam
2.1. Khái quát về Së Giao Dịch ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn việt nam.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch
NHNo&PTNT Việt Nam:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
(NHNo&PTNTVN) được thành lập ngày 26/3/1988 theo nghị định
53/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).
Qua nhiều năm phát triển và trưởng thành, đến nay NHNo&PTNT Việt Nam
là NHTM Quốc doanh không chỉ giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư vốn phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà còn đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy mọi lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt nam.
Sở Giao Dịch NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập theo quyết
đinh số 232/QD/HĐQT-02 ra ngày 13/5/1999.Việc thành lập sở giao dịch
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
16
Chuyên đÒ tốt nghiệp
NHNo&PTNT dựa trên sự xắp xếp, tổ chức lại sở giao dịch hối đoái
NHNo&PTNT Việt Nam. Trong cơ cấu bộ máy tổ chức của
NHNo&PTNT, sở giao dịch là một đơn vị hoạch toán phụ thuộc loại 1. Với
sự cố gắng của lãnh đạo sở giao dịch và tập thể cán bộ công nhân viên, được
sự quan tâm của HĐQT, ban điều hành và các ban nghiệp vụ tại Trung tâm
điều hành, sở giao dịch đã đảm nhiệm được chức năng sở đầu mối của toàn
ngành.
2. 1.2. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Sở giao dịch
2.1.2.1. Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Sở giao dịch:
Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt nam thành lập trên cơ sở sắp xếp lại
Sở kinh doanh hối đoái, là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc, đại diện
theo uỷ quyền của NHNo&PTNT Việt Nam có quyền tự chủ kinh doanh
theo phân cấp của NHNo&PTNT Việt Nam, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ

* Thực hiện quan hệ đại lý thanh toán và dịch vụ ngân hàng đối với
ngân hàng nước ngoài.
* Đầu tư dưới các hình thức như: hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần
và các hình thức đầu tư khác với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác khi
được NHNo cho phép.
* Thực hiện thử nghiệm các dịch vụ, sản phẩm mới trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
* Thực hiện kiểm tra, kiểm toán nội bộ việc chấp hành thể lệ, chế độ
nghiệp vụ trong phạm vi Sở giao dịch quy định.
* Chấp hành đầy đủ các báo cáo, thống kê theo chế độ quy định và
theo yêu cầu đột xuất của Tổng giám đốc NHNo
* Thực hiện các nhiệm vụ khác được Tổng giám đốc NHNo giao.
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức và điều hành
Theo quyết định 235/HĐQT/NHNo-02 của Chủ tịch Hội đồng quản trị
NHNo&PTNTVN, cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch gồm có: Phòng kinh
doanh, phòng kinh doanh ngoại tệ, phòng kế toán ngân quỹ, phòng SWIFT,
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
18
Chuyờn ề tt nghip
phũng thanh toỏn quc t, phũng hnh chớnh nhõn s,phũng kim tra kim
toỏn ni b ,phũng vi tớnh ,phũng hnh chớnh nhõn s ,phũng giao dch .
S c cu t chc ca S giao dch NHNo&PTNT Vit nam
Chc nng, nhim v ca cỏc phũng nh sau:
- Phũng kinh doanh:
Tip nhn cỏc ngun vn ti tr, vn u thỏc tớn dng ca chớnh ph,
cỏc t chc kinh t, cỏ nhõn trong v ngoi nc. Trin khai, thc hin cỏc
chng trỡnh d ỏn bng ngun vn ch nh, u thỏc ca chớnh ph, t chc
ti chớnh, cỏ nhõn trong v ngoi nc. Trc tip thm nh d ỏn v: Tớn
dng ti tr xut nhp khu; bo lónh L/C tr chm Cho vay ngn, trung
v di hn bng ng Vit Nam v ngoi t. Cho vay chit khu cỏc loi giy

Kiểm
tra
kiểm
toán
nội bộ
Phòng
Vi tính
Phòng
Hành
chính-
Nhân
sự
Phòng
Kinh
doanh
Phòng
Giao
dịch
Chuyên đÒ tốt nghiệp
của Sở giao dịch. Tổ chức thực hiện các sản phẩm dịch vụ mới trong kinh
doanh.
Xây dựng và tổ chức kế hoạch kinh doanh; tổng hợp, phân tích, đánh
giá kết quả kinh doanh hàng năm, hàng quý, hàng tháng.
- Phòng kinh doanh ngoại tệ:
Thường xuyên theo dõi diễn biến tỷ giá, lãi suất trong thị trường trong
và ngoài nước, tham mưu cho lãnh đạo điều chỉnh họat động kinh doanh của
Sở giao dịch. Lập hệ thống tỷ giá tại Sở giao dịch và trao đổi giúp các chi
nhánh NHNo&PTNTVN xác định tỷ giá cạnh tranh với các ngân hàng
thương mại trên cùng địa bàn. Đại diện NHNo&PTNTVN giao dịch mua
bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng. Thực hiện các nghiệp vụ mua

hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho các chi nhánh. Kiểm soát chuyển
ngoại tệ và thanh toán ra ngoài hệ thống theo chỉ định của Tổng giám đốc.
Tham gia công tác đào tạo, đào tạo lại cho các chi nhánh về việc thực hiện
nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo tiêu chuẩn SWIFT. Thực hiện quan hệ đại
lý trong thanh toán quốc tế và quản trị, cập nhật, vận hành hệ thống mạng sử
dụng trong thanh toán quốc tế.
- Phòng thanh toán quốc tế
Mở và theo dõi thư bảo lãnh, thư tín dụng. Thực hiện các nghiệp vụ
thanh toán quốc tế. Thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng
từ. Lập các điện tra soát, xác nhận mua bán ngoại tệ, giao dịch tiền gửi, điện
chuyển vốn, chuyển tiền thanh toán qua mạng SWIFT. Tham gia đào tạo, tổ
chức hướng dẫn các nghiệp vụ về thanh toán quốc tế trong hệ thống
NHNo&PTNT Việt Nam. Thực hiện các nghiệp vụ khác do Giám đốc giao.
- Phòng hành chính nhân sự
Thực hiện công tác văn thư, hành chính, quản trị. Thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Thực hiện tuyên truyền, tiếp thị, lễ tân, tiếp
khách. Giúp Giám đốc quy hoạch cán bộ; sắp xếp, bố trí cán bộ trong Sở,
làm các quyết định về khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ khi đã có quyết
định của hội đồng khen thưởng và kỷ luật cán bộ của cơ quan, thực hiện các
chính sách và chế độ đối với người lao động. Đề xuất việc cử cán bộ đi học
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
21
Chuyên đÒ tốt nghiệp
tập, tham quan, khảo sát trong và ngoài nước. Thực hiện các nhiệm vụ khác
do Giám đốc giao.
- Phòng kiểm tra kiểm toá nội bộ
Giống như bộ phận chức năng về kiểm toán ,kiểm tra ở bất kỳ một
đơn vị nào khác ,phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ của NHNo thực hiện việc
rà soát lại hệ thống kế toán và các qui chế kiểm toán nội bộ ,kiêm tra các
thômg tin do kế toán cung cấp,xem xét việc tính và ghi các chỉ tiêu trên báo

* Tống nguồn vốn huy động đến ngày 31/12/2003 đạt 3.810 tỷ đồng,
tăng 1.120 tỷ đồng (tăng 41,6%) so với 31/12/ 2002; đạt 101% kế hoạch
2003 được giao. Trong đó:
- Về cơ cấu vốn theo thời gian:
-Tiền gửi không kỳ hạn 1.182 tỷ đồng, chiếm 31% trong tổng nguồn
vốn huy động.
- Tiền gửi có kỳ hạn là 2.628 tỷ đồng, chiêm 69% trong tổng nguồn
vốn. Trong đó: tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1.759 tỷ đồng tăng
749 tỷ đồng.
- Về cơ cấu vốn theo thành phần kinh tế:
- Tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu của dân cư là 1.225 tỷ đồng tăng 119 tỷ
đồng (tăng 4%) so với 31/12/2002 chiếm 32,6% trong tổng nguồn vốn.
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 2.585 tỷ đồng, chiếm 67,4% tổng
nguồn vốn.
- Về cơ cấu vốn theo đồng tiền huy động:
- Tiền gửi nội tệ đạt 2.814 tỷ đồng, chiếm 74% trong tổng nguồn vốn.
- Tiền gửi ngoại tệ là 61,9triệu USD và 1,4 triệu EUR(tương đương
996 tỷ đồng ) chiếm 26% trong tổng nguồn vốn.
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
23
Chuyên đÒ tốt nghiệp
* Đến 31/12/2004 tổng nguồn vốn đạt đến 6.380 tỷ đồng, tăng 2.570
tỷ đồng (tăng 67,454%) so với 31/12.2003, bằng 125,2% chỉ tiêu kế hoạch
huy động vốn năm 2003 được giao.
- Về cơ cấu vốn theo thời gian:
+ Nguồn vốn không kì hạn đạt 2.231 tỷ đồng, tăng 1.049 tỷ đồng
(tăng 88,75%) so với 31/12/2003; chiếm tỷ trọng 35% trong tổng nguồn
vốn.
+ Nguồn vốn có kỳ hạn đạt 4.149 tỷ đồng, tăng 1.521 tỷ đồng so với
năm 2003; chiếm 65% trong tổng nguồn vốn. Trong đó, nguồn vốn có kỳ

đồng (tăng 5,2%) so với 31/12/2004; chiếm 70% trong tổng nguồn vốn.
+ Nguồn vốn của các tổ chức Tín dụng đạt 124 tỷ đồng, giảm 627 tỷ
đồng so với 31/12/2004; chiếm 1,9% trong tổng nguồn vốn.
- Về cơ cấu vốn theo đồng tiên huy động:
+ Nguồn vốn nội tệ đạt 5.236 tỷ đồng, tăng 85 tỷ đồng (tăng 1,65%)
so với 31/12/2004; chiếm 80,7% trong tổng nguồn vốn.
+ Nguồn vốn ngoại tệ đạt 73,45 triệu USD va 4,12 triệu EUR (tương
đương 1.252 tỷ VND) giảm 1 triệu USD và tăng 1,5 triệu EUR so với
31/12/2004; chiếm 19,3% trong tổng nguồn vốn.
* Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2006 đạt 8.221 tỷ đồng, tăng
1.733 tỷ (tăng 26,7%) so với đầu năm, vượt 621 tỷ đồng ( vượt 8,2%) kế
hoạch đầu năm.
- Về cơ cấu vốn theo thời gian:
+ Nguồn vốn không kì hạn đạt 3.491 tỷ đồng, tăng 1.012 tỷ đồng
(tăng 40,8%) so với 31/12/2005; chiếm tỷ trọng 42,5% trong tổng nguồn
vốn.
Khoa: Ngân Hàng Hoàng Träng Khiªm - NHE - K6
25

Trích đoạn Hoạt động tớn dụng: Hoạt động thanh toỏn quốc tế: Cụng tỏc kế toỏn, tài chớnh và ngõn quỹ: Cụng tỏc kiểm tra, kiểm toỏn nội bộ: Kết quả tài chớnh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status