Đánh giá hiện trạng và đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững tại huyện tân yên, tỉnh bắc giang - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
  
PHÙNG THỊ TRANG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRANG VÀ ĐỀ XUẤT
ĐỊNH HƢỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI
HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2012

Thái Nguyên - 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn Phùng Thị Trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
LỜI CẢM ƠN Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản
thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các đơn vị và cá nhân. Tôi xin

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới 3
1.1.2. Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam 4
1.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 6
1.2.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 6
1.2.1.1. Bản chất của hiệu quả 6
1.2.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 9
1.2.2.1 Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững 9
1.2.2.2. Tiêu chí đánh giá tính bền vững 10
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 13
1.2.3.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên 13
1.2.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác 13
1.2.3.3. Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức 14
1.2.3.4. Nhóm các yếu tố xã hội 14
1.3.1. Đất nông nghiệp và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 15
1.3.1.1. Khái quát về đất nông nghiệp 15
1.3.1.2. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 16
1.3.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 17
1.3.2.1. Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp 17
1.3.2.2. Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 17
1.3.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 18
1.4. Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sản xuất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 20
1.4.1. Những nghiên cứu trên Thế giới 20
1.4.2. Những nghiên cứu trong nước 22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv

3.2.1. Tiểu vùng 1 41
3.2.2. Tiểu vùng 2 41
3.2.3. Tiểu vùng 3 41
3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
3.3.1. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 42
3.3.2. Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính trong huyện 44
3.3.2.1. Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính ở tiểu vùng 1 44
3.3.2.2. Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính ở tiểu vùng 2 45
3.3.2.3. Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính ở tiểu vùng 3 47
3.3.3. Đánh giá hiệu quả loại hình sử dụng đất nông nghiệp 49
3.3.3.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế 49
3.3.3.2. Đánh giá chung về hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 54
3.3.4. Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất 56
3.3.4.1. Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất 56
3.3.4.2. Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất 62
3.3.5. Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất 64
3.3.5.1. Sử dụng phân bón: 65
3.3.5.2. Sử dụng thuốc BVTV: 66
3.3.5.3. Luân canh, kiểu sử dụng đất thích hợp 68
3.4. Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai 69
3.4.1. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Tân Yên 69
3.4.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp từ 5 - 10 năm tới 70
3.5. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 72
3.5.1. Giải pháp quy hoạch sử dụng đất: 72
3.5.2. Giải pháp kĩ thuật: 72
3.5.3. Giải pháp về chính sách và vốn: 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74

NXB
Nhà xuất bản
KT-XH
Kinh tế - xã hội
NN-PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND
Uỷ ban nhân dân
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
UNDP
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
CHDCND
Cộng hòa dân chủ nhân dân
PNN
Phi nông nghiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1: Biến động về sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam (1999 -2009) 5
Bảng 3.1: Lượng mưa, nhiệt độ trên địa bàn huyện qua các tháng trong năm 28
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Yên năm 2011 33
Bảng 3.3: Tình hình chuyển dịch cơ cầu kinh tế của huyện từ 2001 - 2011 35
Bảng 3.4: Tình hình dân số huyện Tân Yên qua các giai đoạn 36
Bảng 3.5: Phân vùng kinh tế theo đơn vị hành chính 40
Bảng 3.6: Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở 3 vùng kinh tế 42

Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nông nghiệp
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng, góp phần đáng kể vào
việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo ông Diệp Kỉnh Tần phát biểu trên
báo kinh tế nông thôn: Nông nghiệp nước ta cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng
hoá, phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá (bình quân năm 5,5%/năm), sản
lượng lương thực tăng 5%/năm, gấp hơn 2 lần tỷ lệ tăng dân số. Nông nghiệp đóng
góp 25,43% tổng GDP tính theo giá trị hiện hành và đóng góp tới 70% GDP ở khu
vực nông thôn. Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực
quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông
sản xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu đạt 4,2 tỷ USD chiếm 24% kim ngạch xuất
khẩu cả nước.
Bên cạnh những thành tựu đó nền nông nghiệp nước ta vẫn phải đang đối
mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng
suất và chất lượng nông sản hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh
yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm [Đặng Minh Sơn, 2006]. Trong điều kiện các
nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp đặc biệt là đất sản
xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công
nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp theo hướng hàng hoá trong cả nước nói chung và huyện Tân Yên nói riêng là
hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông
nghiệp bền vững.
Huyện Tân Yên gồm 22 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là
20.660,86 ha (Số liệu thống kê năm 2011); dân số 160.020 người (năm 2011).
Trong những năm qua do quá trình phát triển không ngừng theo hướng công nghiệp,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
tiểu thủ công nghiệp và thương mại làm diện tích đất nông nghiệp giảm lớn, tính
đến hết năm 2011 diện tích đất nông nghiệp của huyện Tân Yên là 12.914,57 ha,
chiếm 62,51 % diện tích đất tự nhiên.

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.
Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không
giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng
thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát
triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm
là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường
các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều
vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ
độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng. Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá
trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị
xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới
15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con
người gây ra. Theo P.Buringh, toàn bộ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của thế
giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ
ha) không dùng được vào sản xuất nông nghiệp.
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng
nhưng có khả năng trồng trọt. Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha
(chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt). Như
vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác.
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều. Châu Á là nơi có
diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ
lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác, Châu Á
là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì
thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Châu Á cũng là nơi đất đồi núi chiếm
35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn

phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động,
theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê thì biến động về số lượng đất sản xuất
nông nghiệp của nước ta trong 10 năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.1.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
Bảng 1.1: Biến động về sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
(1999 -2009)
Năm
Tổng diện tích đất
sản xuất nông nghiệp
(1000 ha)
Dân số
(1000 ngƣời)
BQ đất sản xuất
nông nghiệp/ ngƣời
(m
2
)
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009

1372
1203
1118
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [9], đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm
28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng. Đây
là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được
diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau. So với một số nước trên
thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào sản xuất nông nghiệp rất thấp.
Theo Lê Thái Bạt thì trong khoảng 33 triệu ha đất tự nhiên của Việt Nam, diện
tích “đất có vấn đề” về độ phì nhiêu và khả năng sản xuất đã chiếm hơn 50%.
Về vấn đề sử dụng đất, hiện nay tài nguyên đất ngày càng được sử dụng hợp
lý và có hiệu quả hơn so với các năm trước. Ở nước ta, trong cơ cấu sử dụng đất
nông nghiệp, cây lâu năm chiếm hơn 30%, cây hàng năm khoảng trên 60% diện
tích. Tuy nhiên, với trên 3/4 diện tích tự nhiên là đất dốc thì tỷ lệ cây lâu năm cần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
phải tăng hơn nữa. Tuy nhiên, ở miền núi du canh, quảng canh, độc canh còn khá
phổ biến, năng suất cây trồng thấp so với các nước khác [6]. Vấn đề thoái hoá đất
Việt Nam đang là một thách thức to lớn. Nguyên nhân thoái hoá đất bắt nguồn từ
các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hậu quả của chiến tranh. Thoái hoá đất
điễn ra trên quy mô rộng lớn từ đồng bằng ven biển đến trung du miền núi. Hậu quả
thoái hoá đất rất nghiêm trọng dẫn tới sự suy thoái tài nguyên động thực vật, suy
giảm và mất khả năng sản xuất của đất.
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, nhằm bảo vệ, quản lý và
sử dụng tài nguyên đất bền vững và đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy
nhiên các chính sách, giải pháp đó chưa được thực hiện đồng bộ và triệt để, mạng
lưới quan trắc và quản lý môi trường đất còn quá mỏng.
Để bảo vệ môi trường đất, cần khắc phục các tồn tại đồng thời áp dụng các
biện pháp ưu tiên như:

cao nhất với mức hao phí ít nhất.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một "Thế giới phẳng" nên con người
ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên, kinh tế- xã hội và môi trường.
Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động sản xuất
của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế - xã hội mà vấn đề môi
trường ngày càng trở nên cấp bách đối với toàn cầu, đòi hỏi mỗi quốc gia phải quan
tâm đúng mức.
Quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải tiết kiệm thời
gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ được
môi trường.
1.2.1.2. Phân loại hiệu quả
Mọi hoạt động sản xuất của con người đều có mục tiêu chủ yếu là kinh tế.
Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà
đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người
[10]. Những kết quả đó là:
- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập.
- Cải tạo môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động.
- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong sử
dụng đất đai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Để phân loại hiệu quả thì có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn cứ vào
nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả được phân thành 3 loại: hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
* Hiệu quả kinh tế
Theo C. Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy
luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo
các ngành sản xuất khác nhau, các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer,
Simmerman - 1995) cho rằng: hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm

Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được
chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả. Điều này có ý nghĩa
là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản
lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu
đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm
ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học. Có được điều đó mới đảm bảo
cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả
cộng đồng quốc tế.
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu
dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó
gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường
sinh thái.
Bên cạnh cách phân loại hiệu quả nói trên, người ta còn có thể căn cứ vào
yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế, căn cứ vào các yếu tố cơ bản về sản xuất,
phương hướng tác động vào sản xuất cả về mặt không gian và thời gian. Tuy nhiên,
dù nghiên cứu ở bất cứ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả cũng phải xem xét về
mặt không gian và thời gian, trong mối liên hệ chung của toàn bộ nền kinh tế. Ở đó,
hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường với một mối quan hệ
mật thiết thống nhất và không thể tách rời nhau. Có như vậy mới đảm bảo cho việc
đánh giá hiệu quả được đầy đủ, chính xác và toàn diện.
1.2.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững
1.2.2.1 Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững
Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smith A.J và Julian Dumanski
(1993) [44] đã nghiên cứu và xác định ra 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử
dụng đất bền vững là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất.
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất.

11
nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các
quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước
(bảo vệ)
- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền)
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) [26]
Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là
những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu
cần phải đạt được. Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả
năng bền vững chỉ mang tính bộ phận.
Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau đây:
* Bền vững về kinh tế: Ở đây cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận.
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân
vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và
phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại). Một hệ bền vững phải có
năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ
chế thị trường.
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong
nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng.
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của
hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất. Tổng giá trị trong một giai đoạn
hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người
sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn
ngân hàng [26].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



13
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.2.3.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993) [24], (Vũ Thị Phương Thuỵ 2000)
[37], (Nguyễn Duy Tính, 1995) [38], (Vũ Thị Ngọc Trân, 1996) [39]. Bởi vì, các yếu
tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Do vậy, cần
đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực
phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I.
Theo N. Borlang - Người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước
phát triển cho rằng yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm
cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là
độ phì đất [37].
1.2.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây
trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để
hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những tác động thể hiện sự
hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể
hiện sự dự báo thông minh và sắc sảo [13]. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa
chọn chủng loại và cách sử dụng các yếu tố đầu vào phù hợp với các quy luật tự
nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Theo Frank Ellis và Douglass
C.North [37], ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống
mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với việc sử
dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất
cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông
nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế
[13]. Như vậy, nhóm các yếu tố kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá
trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.

triển nông nghiệp của Nhà nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của
các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư.
Theo Douglas C.North, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi hợp lý các thể
chế là những yếu tố then chốt cho sự tiến triển của kinh tế xã hội [38].
1.3.1. Đất nông nghiệp và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1.1. Khái quát về đất nông nghiệp
Theo báo cáo của World Bank (1995)[45], hàng năm mức sản xuất so với
yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có
từ 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn. Trong 1200 triệu ha đất bị
thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng
không hợp lý.
Luật đất đai 2003 phân loại đất thành 3 nhóm theo mục đích sử dụng, đó là
nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Đất
nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như
đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng, đất rừng trồng, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí
nghiệm về nông nghiệp. Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất
và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội [19].
Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những tính chất đặc trưng
riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác, đó là đất có độ
phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời
gian nếu biết sử dụng đúng.
Nhận thức đúng đắn các vấn đề trên sẽ giúp người sử dụng đất có các định h-
ướng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả các tiềm năng tự
nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái. Xét cho

- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa
học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi
có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu [16].
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính ở tiểu vùng 1 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính ở tiểu vùng 2 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính ở tiểu vùng 3 Đánh giá chung về hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất Sử dụng phân bón:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status