Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm TT.Enzym vào khẩu phần ăn của gà mía X Lương Phượng nuôi tại thành phố Thái Nguyên - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM THỊ BÌNH
ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM TT.ENZYM
VÀO KHẨU PHẦN ĂN CỦA GÀ MÍA X LƢƠNG PHƢỢNG
NUÔI TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HẢI


ii
LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian tham gia học tập tại trường, đồng thời tiến hành đề tài:
“Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm TT.Enzym vào khẩu phần ăn của
gà Mía x Lương phượng nuôi tại thành phố Thái Nguyên”, đến nay tôi đã
hoàn thành luận văn của mình.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã được sự quan tâm
giúp đỡ nhiệt tình của nhà trường, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi thú y -
trường Đại học Nông Lâm cùng các thầy cô, các cơ quan, gia đình và bạn bè
đồng nghiệp.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu
đó đã giúp tôi hoàn thành chương trình học tập thuận lợi. Đặc biệt, tôi xin cảm
ơn cô giáo TS. Nguyễn Thị Hải đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài để hoàn thành bản luận văn này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn chân
thành tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, Ban

1.1.2.2. Enzyme trong chăn nuôi 13
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiểu khí hậu chuồng nuôi 14
1.1.4. Một số nét về chế phẩm TT.enzym 17
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 25
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 28
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 31
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 31
2.1.3.Thời gian nghiên cứu. 31 iv
2.2. Nội dung nghiên cứu 31
2.3. Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 31
2.3.2. Chế phẩm TT. Enzym 32
2.3.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33
2.3.2.1. Sức sống, khả năng sinh trưởng, cho thịt và chuyển hóa và thức ăn . 33
2.3.2.2. Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế 36
2.3.2.3. Đánh giá tác động của chế phẩm TT. Enzym tới môi trường 37
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 37
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1. Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của gà thí nghiệm 38
3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 38
3.1.2. Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 39
3.1.2.1. Sinh trưởng tích lũy 39
3.1.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 42

vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Diễn giải
Ca
:
Calcium (can xi)
CP
:
Protein thô
cs
:
Cộng sự
đ
:
Đồng
ĐC
:
Đối chứng
ĐVT
:
Đơn vị tính
EN

:
Nhà xuất bản
PI
:
Performamce - In dex
S.sánh
:
So sánh
TB
:
Trung bình
TCCP
:
Tiêu chuẩn cho phép
TCVN
:
Tiêu chuẩn Việt Nam
TN
:
Thí nghiệm
TT
:
Tuần tuổi
TTTĂ
:
Tiêu tốn thức ăn
VCK
:
Vật chất khô



Hình 1.1. Lactobacillus acidophillus 18
Hình 1.2. Lactobacillus sporogenes 20
Hình 1.3. Nấm men của L. kefir 21

Đồ thị 3.1. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 41

Biểu đồ 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 43
Biểu đồ 3.3. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 45
Biểu đồ 3.4.Tiêu tốn thức ăn cộng dồn của gà thí nghiệm………………… 49
Biểu đồ 3.4. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 56
Biểu đồ 3.5. Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 58 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp nói chung, ngành chăn

cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi cho vật chủ.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, vi khuẩn có lợi có nhiều tiềm năng trong ứng
dụng vì nó mang lại sản phẩm nhiều hơn, tốt hơn, nhanh hơn, giá trị kinh tế cao
hơn. Tuy nhiên, những ứng dụng cụ thể cũng như sự hiểu biết về vi khuẩn có
lợi và enzyme còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm TT.Enzym vào khẩu phần
ăn của gà Mía x Lương phượng nuôi tại thành phố Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm TT.Enzym với tỷ lệ
0,05%, 0,075%, 0,1% vào khẩu phần ăn đến sức sống, khả năng sinh
trưởng, sức sản xuất thịt của gà Mía x Lương phượng.
- Đánh giá tác động của chế phẩm TT.Enzym tới môi trường.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm TT.Enzym trong khẩu
phần tới năng suất chăn nuôi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và các nghiên
cứu tiếp theo.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm TT.Enzym trong
khẩu phần tới hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất trong chăn nuôi.
- Có cơ sở khoa học để khuyến cáo người dân sử dụng chế phẩm
TT.Enzym với tỷ lệ hợp lý trong chăn nuôi nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, góp
phần phát triển ngành chăn nuôi bền vững. 3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


9
-10
12
CFU/ml chất
chứa tương ứng) (Jans, 2005) [60].
Sức khỏe của vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: Trạng thái sinh lý
của vật chủ, khẩu phần thức ăn và hệ vi sinh vật. Các yếu tố này chịu tác động
của môi trường, các tác nhân gây stress và tác động qua lại lẫn nhau. Trong số
các nhân tố trên, hệ vi sinh vật đường tiêu hóa đóng vai trò trung tâm, chỉ một
biến động bất lợi của một trong hai yếu tố còn lại cũng ảnh hưởng xấu tới hệ 4
vi sinh vật (Conway, 1994) [40]. Sự cộng sinh của các loài vi sinh vật trong
đường tiêu hoá của vật nuôi (chủ yếu là trong ruột) tạo nên một hệ sinh thái
mở và mối cân bằng của quần thể vi sinh vật được xác lập chỉ một thời gian
rất ngắn sau khi sinh.
Có nhiều quan điểm khác nhau về mối tương quan cân bằng của hệ vi
sinh vật đường ruột. Theo Jans (2005) [60], để đánh giá trạng thái cân bằng,
các vi sinh vật đường ruột được chia thành 3 nhóm: (1) nhóm chủ yếu (Main
flora) gồm các loài vi khuẩn kỵ khí (Clostridium; Lactobacillus;
Bifidobacteria; Bacteroides, Eubacteria); (2) nhóm vệ tinh (Satellite flora),
gồm chủ yếu là Enterococcus và E. coli, và (3) nhóm còn lại (Residual flora)
gồm các vi sinh vật có hại như: Proteus, Staphylococcus và
Pseudomonas…Một quần thể vi sinh vật được coi là cân bằng khi tỷ lệ của các
nhóm dao động trong khoảng 90; 1,0; 0,01 % tương ứng. Trạng thái mà các
nhóm này hình thành một tỷ lệ 90; 1,0; 0,01 % được gọi là trạng thái
“eubiosis” (tiếng Hy Lạp có nghĩa là sự chung sống có lợi giữa các vi khuẩn
với nhau và với vật chủ). Ở trạng thái “eubiosis”, vật chủ cung cấp các điều
kiện sống lý tưởng như nhiệt độ ổn định, pH trung tính, dinh dưỡng và sự đào

nhân tìm ra đó là chế phẩm sinh học.
1.1.2. Chế phẩm sinh học trong chăn nuôi
Chế phẩm sinh học là sản phẩm có chứa vi sinh vật sống nhằm mục đích
cải thiện sức khỏe con người và vật nuôi. Chế phẩm sinh học đã được sử dụng
rộng rãi để hạn chế dịch bệnh, tăng sức đề kháng cho vật nuôi, tăng khả năng hấp
thu thức ăn, tăng năng suất và sản lượng. Khác với các biện pháp hóa học và
kháng sinh, chế phẩm sinh học cung cấp một phương thức chăn nuôi an toàn bền
vững đối với con người và sản phẩm chăn nuôi. Chế phẩm sinh học được coi là
một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi. 6
Chế phẩm sinh học có khả năng hạn chế nhiễm trùng do vi khuẩn và virus
(như virus rota gây tiêu chảy), kích thích hoạt động của hệ miễn dịch, làm giảm
cholesterol Các chế phẩm sinh học có tác động làm ổn định khu hệ vi sinh vật
đường ruột, làm tăng các vi khuẩn có ích (các vi khuẩn sinh vitamin, sinh chất
kháng khuẩn, vi khuẩn phân giải đường bột ), làm giảm các vi khuẩn có hại
(các vi khuẩn cạnh tranh thức ăn, sinh chất độc).
Các chế phẩm sinh học phải có 3 quá trình sau:
- Khống chế sinh học: Những dòng vi khuẩn có ích trong chế phẩm có
khả năng sinh các chất kháng khuẩn.
- Tạo sức sống mới: Các vi khuẩn trong chế phẩm khi đưa vào cơ thể vật
nuôi sẽ phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và hoạt tính, có khả năng tồn tại cả
ngoài môi trường và trong đường ruột, ảnh hưởng có lợi đối với vật nuôi.
- Xử lý sinh học: Khả năng phân giải các chất hữu cơ trong nước giải
phóng axit amin, glucose, cung cấp thức ăn có vi sinh vật có ích, giảm thiểu
thành phần nitơ vô cơ như: Amoniac, nitrit, nitrat, giảm mùi hôi thối, cải thiện
chất lượng nước.
Việc sử dụng các vi sinh vật hữu ích nhằm cạnh tranh với các vi khuẩn gây
bệnh đã được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi, thay thế cho việc sử dụng hóa

đối với một số vi sinh vật gây bệnh đường ruột thì khả năng bám chặt được
xem là điều kiện trước hết đối với việc xâm chiếm và lây nhiễm.
Vi khuẩn lactic có khả năng sử dụng prebiotic (oligossaccharides,
insulin, tinh bột) để phát triển. Nó có khả năng tổng hợp và sử dụng vitamin
(nhóm B, folate, vitamin K). Ngoài ra nó còn có khả năng ngăn chặn các mầm
bệnh như: Salmonella, Escherichia coli, Candida albicans…Có khả năng
tổng hợp acid, hydrogen peroxide, các bacteriocin, D- lactic acid. Nó có thể
sử dụng kết hợp với các loại vi khuẩn khác. 8
* Chức năng sinh học của vi khuẩn lactic
- Tăng khả năng tiêu hoá nhờ hệ thống enzyme
Vi sinh vật đường ruột có lợi của động vật nuôi có một vai trò quan
trọng trong sự tiêu hoá và hấp thu thức ăn của vật chủ. Chúng tham gia vào
quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần như: Carbonhydrate,
protein, lipid…thành những chất dễ hấp thu hơn nhờ hệ thống enzyme của
chúng như: Amylase, protease, cellulase…Nhóm này gồm những vi khuẩn:
Bacillus subtilis, Ruminococcus, Cellulomonas, Lactobacillus…
Theo một số nghiên cứu của Sameh. H. M. (2003) [76], việc bổ sung
Lactobacillus vào khẩu phần bắp, lúa mạch, đậu nành đã kích thích tính thèm
ăn và tăng tích luỹ mỡ, N, Ca, P, Cu và Mn cho gà đẻ. Ngoài ra, việc bổ sung
chế phẩm Saccharomyces boulardi vào khẩu phần ăn của gà thịt làm giảm
FCR, làm tăng sức đề kháng, giảm tỷ lệ chết, tăng hiệu quả chăn nuôi.
- Tổng hợp vitamin K và vitamin nhóm B
Hệ vi sinh vật có khả năng tổng hợp vitamin nhóm B như B1, B2, B3,
B6, B12 và vitamin K ở manh tràng và đại tràng. Bản thân tế bào nấm men có
chứa một lượng dinh dưỡng rất cao bao gồm: Protein, lipid, glucid, khoáng và
nhiều vitamin nhất là vitamin nhóm B, cải thiện sinh trưởng và sức đề kháng.
- Trung hoà độc tố và phân huỷ một số độc chất

Nhóm vi khuẩn lactic là những vi sinh vật tiêu biểu cho hoạt động đối
kháng của probiotic. Chúng chống lại các vi khuẩn gây bệnh nhờ vào các sản
phẩm do chúng tạo ra như: Bacteriocin, acid hữu cơ, hydrperoxydase,
lactocidin…Lactocidin có phổ kháng khuẩn rất rộng. Các acid acetic và lactic
làm giảm pH đường ruột khiến môi trường trong ruột trở nên bất lợi cho sự
tồn tại của vi khuẩn gây bệnh gram (-). Một số bacteriocin thường gặp như:
Mycobacillin, subtilis (do Bacillus subtilis sinh ra), nizin (do Lactobacillus
lactis sinh ra), penicillin (do nấm penicillium sinh ra) Lactobacillus
acidophillus tạo ra lactacin B có tác dụng ức chế loài Lactobacillus khác và
acidocin ức chế vi sinh vật gây bệnh [37]. 10
- Kích thích hệ thống miễn dịch
Yếu tố được xác định có vai trò trong hệ thống miễn dịch là thành phần của
vách tế bào vi khuẩn peptidoglycan. Sự phân huỷ peptidoglycan tạo thành chất
muramyl peptid có tác dụng kích thích đại thực bào [81]. Saarela (2000) [75] cho
rằng khả năng bám vào niêm mạc của các vi khuẩn lactic tạo ra sự tương tác giúp
vi khuẩn lactic tiếp xúc với hệ thống lympho đường ruột và hệ thống miễn dịch,
nhờ đó thúc đẩy hiệu quả miễn dịch và tạo nên hàng rào bảo vệ ruột.
- Sản xuất bacteriocin và các cơ chất kháng khuẩn
Bacteriocin là protein hay hợp chất protein do vi khuẩn sản xuất có
hoạt tính diệt khuẩn trực tiếp. Cơ chất này giúp vi khuẩn Lactobacillus thể
hiện hoạt tính ức chế đối với vi sinh vật gây thối trong hệ tiêu hoá [65], [80].
Vi khuẩn Lactobacillus còn có thể ức chế sự phát triển của các vi sinh
vật gây thối nhờ vào những sản phẩm trao đổi chất khác như: H
2
O
2
, CO

- Tăng cử động đẩy thức ăn xuống dạ dày.
- Là nguồn năng lượng cho quá trình hô hấp.
Chính những ưu điểm trên đã phần nào chứng minh hiệu quả của việc ứng
dụng Lactobacillus. Tuỳ thuộc vào loài nuôi cấy, Lactobacillus sản xuất ra hai loại
đồng phân quang học: D (-) và L (+) acid lactic. Cả hai loại đồng phân này đều
được hấp thu trong đường ruột:
+ L (+) acid lactic được chuyển hoá hoàn toàn và nhanh chóng trong
quá trình tổng hợp glycogen.
+ D (-) acid lactic được chuyển hoá ít hơn và phần không chuyển hoá
sẽ được bài tiết ra ngoài dưới dạng urine.
Ngoài ra, acid lactic còn làm hạ pH đường ruột còn 4 - 5. Do đó, sự phát
triển của vi sinh vật gây thối và E.coli (thích nghi ở pH 6 - 7) bị ức chế [33].
Lợi ích của việc sử dụng Lactobacillus
+ Các lợi ích về mặt dinh dưỡng: Nghiên cứu trên chuột cho thấy tốc
độ phát triển và lượng ăn vào tăng lên khi cho ăn sữa chua chứa Lactobacillus
[52]. Vài loài Lactobacillus có khả năng tự tổng hợp vitamin B nên hàm
lượng các loại vitamin nhóm B và K trong sữa chua thường cao hơn trong sữa
tươi. Ngoài ra, tính chất sinh học tự nhiên của Cu, Fe, Ca, Zn, Mg và P cũng
tăng lên khi dùng sữa chua làm thức ăn cho chuột [51]. 12
+ Các lợi ích về mặt trị liệu: Các chế phẩm chứa Lactobacillus đều cho
thấy hiệu quả trong chữa trị các bệnh về rối loạn và viêm nhiễm bao gồm:
Viêm ruột kết, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, lượng cholesterol trong máu cao,
cải thiện tình trạng không sử dụng được lactose. Khẩu phần chứa
Lactobacillus có tác dụng làm hạ cholesterol trong máu, làm giảm lượng
cholesterol gắn vào khoang ruột [56].
Lactobacillus tạo ra enzyme beta- galactosidase (lactase), có tác dụng
thuỷ phân lactose thành acid lactic [64]. Vì vậy, Lactobacillus giúp cải thiện

3
và hạn chế vi sinh vật gây thối nhiễm
vào đường ruột, Lactobacillus có hiệu quả kích thích tăng trưởng ở thú nuôi.
1.1.2.2. Enzyme trong chăn nuôi
Bổ sung các enzyme tạo ra bằng con đường công nghệ vi sinh
(celllulase, beta-glucanase, xylanase, mannanase…) nhằm phân giải các
polysaccharid cấu tạo vách tế bào thực vật, tạo điều kiện cho các enzyme nội
sinh (protease, amylase, lipase tiết ra từ ống tiêu hóa) tiếp cận với các chất
hữu cơ bên trong tế bào chất đã làm tăng được tỷ lệ tiêu hóa hấp thu thức ăn,
từ đó giúp cơ thể con vật có thêm chất dinh dưỡng để tăng năng suất sản
phẩm cũng như tăng cường sức đề kháng để chống đỡ bệnh tật.
Các chủng vi sinh vật có khả năng sinh một hệ enzyme rộng, phong
phú như: Amylaza, xenlulaza, xylanaza, xyclodextrin, glucozyl, transperaza
và proteaza nhưng hầu hết các loại enzyme kiềm được đặc chưng bởi pH tối
ưu, nghiêng về phía kiềm. Tuy nhiên trong nông nghiệp, từ lâu các enzyme
xenlulaza chịu kiềm, chịu nhiệt (như proteaza) đã được bổ sung vào các chế
phẩm tẩy rửa và bảo vệ môi trường sống.
Các enzyme có nguồn gốc vi sinh vật như: Amylase, protease, lipase,
cellulase, chitinase, một số vitamin thiết yếu hoặc axit amin và chất khoáng
có tác dụng kích thích hoạt tính ban đầu của vi sinh vật trong chế phẩm và
xúc tác cho sự hoạt động của enzyme trong môi trường. Các vi sinh vật được
lựa chọn làm enzyme phải có đặc điểm sau đây:
- Không sinh độc tố, không gây bệnh cho vật chủ và không ảnh hưởng
xấu tới hệ sinh thái môi trường.
- Có khả năng bám dính niêm mạc đường tiêu hóa và các mô khác của
vật chủ, cạnh tranh vị trí bám với các vi sinh vật gây bệnh, không cho chúng
tiếp xúc trực tiếp với các cơ quan của cơ thể. 14
15
Độ ẩm không khí: Là một đại lượng chỉ sự có mặt của hơi nước trong
không khí. Nhiệt độ và độ ẩm không khí có mối mật thiết với nhau. Nhiệt độ
cao và độ ẩm cao (nóng ẩm) gây cản trở quá trình thải nhiệt, cơ thể tích nhiệt
dẫn đến say nóng. Nhiệt độ cao và độ ẩm thấp (nóng khô) gây mất nước
nhiều, dẫn đến hiện tượng suy kiệt. Nhiệt độ thấp và ẩm độ thấp (lạnh khô)
gây khô da nứt nẻ, chảy máu. Độ ẩm và nhiệt độ không khí quyết định khả
năng tồn tại của vi sinh vật, ký sinh trùng gây bệnh, đặc biệt là các loại nấm
thường thích nghi ở nơi có độ ẩm cao [3], [11].
Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi do hơi nước từ các chất thải của
gia súc, gia cầm như hơi thở, nước tiểu, phân (chiếm tới 75%), còn lại do hơi
nước từ nền chuồng, máng uống. Độ ẩm không khí thấp làm hạn chế sự phát
triển của vi sinh vật, ký sinh trùng, làm quá trình phân giải chất hữu cơ giảm,
lượng khí độc trong chuồng ít. Độ ẩm không khí thấp là điều kiện để gió, bụi
dễ phát tán mầm bệnh đi xa, tăng khả năng lây lan bệnh [32].
Ảnh hưởng của khí CO
2
: Khí cacbonic còn gọi là anhydrite cacbonic là
một chất khí không màu, không mùi, nặng hơn không khí, tỷ trọng là 1,524, do
đó anhydrite cacbonic thường có nhiều ở chỗ trũng trên mặt đất như hầm mỏ,
cống rãnh, chuồng trại. CO
2
được sinh ra do quá trình hô hấp của sinh vật, nhất
là khí thở của người, các sinh vật thở ra hoặc là khi đốt cháy cácbon [3], [6]. Ở
các chuồng nuôi không đảm bảo kỹ thuật , lậy lội, ẩm ướt, kín gió lượng CO
2

tăng cao do sự phân giải của vi sinh vật với các chất thải và sự thải ra qua hô


tăng cao trong nước thải của các trang trại chăn nuôi lợn.
Ảnh hưởng của H
2
S: H
2
S là sản phẩm phân huỷ các hợp chất có chứa lưu
huỳnh như: methionin, cystein và đặc biệt trong thức ăn có chứa nhiều protein
và gia súc đó bị bệnh đường ruột làm khả năng phân huỷ các chất này không
hoàn toàn và sản sinh ra H
2
S. Trong môi trường chuồng trại có chứa nhiều H
2
S
sẽ gây ra một số bệnh như: Viêm mắt, phổi, dạ dày mạn tính.
Vi sinh vật trong không khí: Trong không khí bao gồm vi khuẩn, virus,
ký sinh trùng, nấm, xạ khuẩn…Trong môi trường nông nghiệp có nhiều loại vi
khuẩn và nấm. Vi khuẩn phát triển được ở nhiệt độ 20 đến 40
0
C, nhiệt độ thích
hợp là 37
0
C, pH = 7, môi trường để nuôi cấy vi sinh vật là trong môi trường
lỏng hoặc môi trường đặc. Thông thường để xác định vi sinh vật trong môi
trường nông nghiệp thường xác định tổng số vi sinh vật hiếu khí trong môi
trường không khí và trong môi trường thạch thường. Môi trường chuồng trại bị
ô nhiễm là do vi sinh vật từ chất thải của gia súc, gia cầm như phân, nước
tiểu…chuồng trại ẩm ướt, bẩn, tối. Vi sinh vật được phán tán nhờ gió, nước,
nồng độ vi sinh vật có nhiều trong đất, phát tán vào môi trường không khí [32].
Theo nghiên cứu của Nesbakken T và cs (2008) [70] ô nhiễm môi trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status