1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TÔ XUÂN MẠNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây
dựng các công trình văn hoá, xã hội kinh tế, an ninh quốc phòng. Đất đai có những
tính chất đặc trưng khiến nó không giống bất cứ tư liệu sản xuất nào.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế của chúng ta đang đi theo hướng phát
triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước. Vì thế, phải có sự đối chiếu sử dụng hợp lý giữa các kiểu sử dụng
đất và loại hình sử dụng đất để sử dụng đất phải vừa hợp lý, tiết kiệm, khoa học vừa
phải đạt hiệu quả cao. Để đáp ứng mục tiêu đó, chúng ta phải quy hoạch sử dụng đất
hợp lý và tổ chức thực hiện quy hoạch đó một cách hiệu quả.
Quy hoạch sử dụng đất là sự bố trí, phân bổ các loại đất sao cho sử dụng phù
hợp với yêu cầu của cuộc sống con người, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và luôn
chú ý tới việc bảo vệ và bồi dưỡng quỹ đất. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài, tạo cơ sở pháp lý để
bố trí sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo cảnh quan môi trường, đồng thời
đáp ứng được yêu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai. Đặc biệt trong giai
đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất là yêu cầu ngày càng cấp thiết đối với mọi cấp, địa bàn lãnh thổ.
Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất lại đang gặp nhiều khó
khăn, trở ngại dẫn đến quy hoạch không thực hiện được theo kế hoạch, không đạt
được mục đích đề ra.
Phú Bình là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía nam của tỉnh,
thực hiện quy hoạch sử dụng đất cho các giai đoạn tiếp theo.
Trên cơ sở thực tiễn đó của địa phương, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục tiêu
- Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong phương án quy hoạch sử dụng
đất, kế hoạch sử dụng đất.
- Tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác thực hiện quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010 và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
đề xuất giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả của quy hoạch cho giai đoạn 2011 -
2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 - 2015.
2.2. Ý nghĩa
Ý nghĩa khoa học
- Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều
sâu của kiến thức ngành học cho bản thân.
- Nghiên cứu vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn để tìm ra cái mới cho lý
thuyết từ đó quay trở lại áp dụng cho thực tiễn.
- Bổ sung tri thức mới cho việc quy hoạch sử dụng tài nguyên môi trường có
hiệu quả.
Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, xác lập các giải pháp có tính thiết thực trước tiên là
cho địa phương tiến hành nghiên cứu huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đóng góp cơ sở khoa học cho các cơ quan ban ngành, UBND tỉnh Thái
Nguyên nghiên cứu trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất trong những giai đoạn tiếp theo.
2.3. Yêu cầu
- Chức năng giữ nước: Đất đai điều hòa sự lưu thông của nguồn tài nguyên
nước mặt và nước ngầm và những ảnh hưởng của chất lượng nước,
- Chức năng lưu trữ: Đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho
việc sử dụng của con người.
- Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm: Đất đai có khả năng hấp thụ,
lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Chức năng không gian sống: Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên tạo nên
không gian hoạt động sinh sống của con người cho việc xây dựng khu dân cư, nhà
máy và các hoạt động xã hội như thể thao, nghỉ ngơi.
Ngoài ra, đất đai còn có các chức năng bảo tồn di tích lịch sử: Đất đai là nơi
chứa đựng và bảo vệ các chứng tích lịch sử văn hóa của loài người và nguồn thông
tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá khứ và những sử dụng đất đai trong
quá khứ; chức năng nối liền không gian: Đất đai cung cấp không gian cho sự vận
chuyển của con người, đầu tư và sản xuất và cho sự di chuyển của thực vật, động
vật giữa những vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên. Đây là các chức năng nâng
cao chất lượng cuộc sống của con người.
1.1.2. Bản chất quy hoạch sử dụng đất đai
“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất,
mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên
hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế
độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ), tạo ra những
điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Như vậy, để sử
dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo
nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử
dụng đất nhất định [5].
Về mặt bản chất: Đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh
vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như “tư
kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về những
tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương.
1.1.3. Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất
- Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai.
- Sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- Tổ chức phân bổ quỹ đất cho các ngành đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội.
- Quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý.
- Phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
1.1.4. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng dất
Quy hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính
khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành
quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân. Các đặc
điểm của quy hoạch sử dụng đất đai được thể hiện cụ thể như sau [10].:
(1). Tính lịch sử - xã hội:
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử
dụng đất đai. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã
hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong quy hoạch
sử dụng đất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai, cũng như quan hệ
giữa người với người. Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc
đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất.
Vì vậy, nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội.
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai
mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý. Ở
nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng và quyền lợi
của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; Nhằm sử
dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế
được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất
(mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết
của sự thay đổi). Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến
lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và
khái lược về sử dụng đất của các ngành.
- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất
trong vùng;
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;
- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương
hướng sử dụng đất.
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá quy hoạch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
sẽ càng ổn định.
(5). Tính chính sách:
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách
xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên
quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất
đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế
- xã hội; đất đai và môi trường sinh thái.
(6). Tính khả biến:
Dưới tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện
khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi
hiện trạng sử dụng đất đai sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển
kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày
càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử
dụng đất đai không còn phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và
lý đất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hình thành hệ thống cơ cấu sử
dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất
đúng mục đích; hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm
đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất.
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp. Ngoài lợi ích chung
của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của
mình. Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử
dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước.
Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn
quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Tùy thuộc vào chức
năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác
nhau. Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của
cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp
trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô.
1.2. Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.2.1. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau:
Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong
quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội
dung và phương pháp quy hoạch. Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất
được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy
hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh
quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết
kế chi tiết.
Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: Quy hoạch sử
dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính. [17].
tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại
đất. Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây
dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội
dung sử dụng đất của ngành. Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và
có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành. Nói khác đi, quy hoạch
ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ.
Trong nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất theo ngành bao gồm quy hoạch
sử dụng đất các vùng sản xuất chuyên môn hoá và quy hoạch sử dụng đất các xí
nghiệp. Quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên môn hoá - sản xuất hàng hoá
có thể nằm gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính.
Do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hóa phải kết
hợp phát triển tổng hợp để sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai. Quy hoạch sử dụng đất
của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về tổ chức, kinh tế và kỹ thuật nhằm bố trí, sắp
xếp, sử dụng các loại đất như tư liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra nhiều nông
sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn. Nội dung quy hoạch đất đai của xí
nghiệp rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Quy hoạch ranh giới địa lý; Quy hoạch
khu trung tâm; Quy hoạch đất trồng trọt; Quy hoạch thuỷ lợi; Quy hoạch giao
thông; Quy hoạch rừng phòng hộ Quy hoạch sử dụng đất của xí nghiệp có thể tiến
hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hóa hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng.
1.2.2. Các loại hình kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất được phân kỳ thực hiện theo kế hoạch 5 năm. Kế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
hoạch sử dụng đất cũng được lập theo cấp lãnh thổ hành chính nhưng phải đáp ứng
được các yêu cầu sau:
- Bao quát được toàn bộ đất đai phục vụ cho nền kinh tế quốc dân;
- Phát triển có kế hoạch tất cả các ngành kinh tế trên địa bàn nhất định;
- Thiết lập được cơ cấu sử dụng đất hợp lý trên địa bàn cả nước, trong các
ngành và trên từng địa bàn lãnh thổ;
Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), quy hoạch sử dụng đất là bước
kế tiếp của phương pháp đánh giá đất. Kết quả của việc đánh giá đất sẽ đưa ra một
loại hình hợp lý nhất đối với đất đai trong vùng. Phương pháp quy hoạch đất đai tuỳ
thuộc vào đặc điểm đất đai của từng nước, tuy nhiên có hai loại hình quy hoạch:
- Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đảm bảo phát triển các mục
tiêu một cách hài hòa, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành.
Tiêu biểu cho trường phái này là Anh, Úc, Đức.
- Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng sau đó làm quy hoạch cơ bản,
lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ chế kế hoạch
hoá tập trung. Trong đó đất đai và lao động trở thành yếu tố cơ bản của vấn đề
nghiên cứu. Tiêu biểu cho trường phái này là Liên Bang Nga và một số nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây.
Ngoài ra ở một số nước khác còn có các phương pháp quy hoạch mang tính
đặc thù riêng như Bungari và các nước Đông Âu. Ở những nước này quy hoạch được
phân chia thành các vùng đặc trưng gắn với bảo vệ môi trường.
- Ở Angiêri, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo nguyên tắc nhất thể
hoá và đa phái và được tiến hành với sự tham gia của các phương tiện có liên quan,
các tổ chức ở cấp chính phủ, Nhà nước, cộng đồng…
- Ở Canada: Chính phủ Liên bang đã can thiệp vào quy hoạch cấp trung gian
và đưa ra mục tiêu chung ở cấp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích
các hoạt động lập quy hoạch ở các bang. Ngoài ra Chính phủ còn hỗ trợ để có sự
tham gia ở các lĩnh vực khác nhau có liên quan tới quá trình lập quy hoạch bao gồm
các ngành nông nghiệp, công nghiệp; nhất là vấn đề môi trường ngày càng được
quan tâm và bảo vệ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
- Ở Liên Xô (cũ), quy hoạch đất đai gắn với quy hoạch vùng, thực hiện trên quy
mô kết hợp một tỉnh, một tiểu vùng. Những tư liệu luận chứng kinh tế - kỹ thuật này
được chấp nhận là cơ sở khoa học cho công tác xây dựng kế hoạch. Trên cơ sở bản vẽ
“Từ kinh nghiệm phát triển Đài Loan có thể thấy sự phát triển nông nghiệp
Đài Loan tuy vẫn chiếm vị trí số một, nhưng cống hiến đối với phát triển kinh tế
vẫn dựa vào sự phát triển của nghề chế tạo. Đài Loan đã lấy nghề chế tạo làm chủ
lực, vì nó có thể sử dụng diện tích đất đai ít nhất, nhưng phát huy hiệu quả kinh tế
lớn nhất. Đối với phát triển nông nghiệp đã tích cực đưa vào kỹ thuật sản xuất tiên
tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giảm bớt diện tích và nhu cầu nhân
lực của nông nghiệp, chuyển một bộ phận nhân lực và đất nông nghiệp đưa vào sản
xuất trong nghề chế tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo cơ hội việc
làm, tiến tới nâng cao giá trị và thu nhập quốc dân trong nước”.
Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hoá
nếu không sớm có quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sử dụng
hợp lý thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt làm mất
an ninh lương thực.
Như vậy, có thể nói quản lý đất đai là một việc phức tạp không nơi nào giống
nhau nên mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ đều có một chính sách và công cụ quản
lý đất đai khác nhau; trong đó quy hoạch sử dụng đất là một công cụ rất quan trọng
giúp cho việc quản lý nhà nước về đất đai hiệu quả. Công tác quy hoạch sử dụng đất
đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ sở khoa học, một số quốc
gia ngay từ những năm trước công nguyên họ đã có quy hoạch xây dựng quốc gia
mình theo những mô hình hoá. Ở một số nước như: Anh, Pháp, Liên Bang Nga đã
xây dựng cơ sở lý luận của ngành quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh và ngày
càng tiến bộ. Các dự án phát triển vùng đều tiến hành trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc –
quy hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu
phát triển của vùng vĩ mô.
1.3.2. Một số vấn đề quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Việt Nam là nước có dân số đông, diện tích đất hạn hẹp (thuộc diện nước "đất chật
người đông”), vì vậy công tác quy hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả, hợp lý, ổn định,
bền vững luôn là một đòi hỏi tất yếu. Quá trình thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với sự
giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài. Đây là thời kỳ quy hoạch sử dụng đất đai
mang tính tự phát, tự túc, khôi phục và kế thừa truyền thống cây trồng, vật nuôi,
phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thể của chế độ
xã hội chủ nghĩa.
* Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975
Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất (1961 - 1965) cả nước bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất
nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai.
Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được
đặt ra ngay từ những năm 1960 này. Do đó có thể nói “Quy hoạch sử dụng đất đai
cũng đồng thời được đặt ra”. Các Bộ, ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những
điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho
tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử
dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các
phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công
trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ”.
Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Nam
thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến
hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị
lãnh thổ nào đó. Mặc dù vậy, với tư cách là một phần nội dung của các phương án
phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ
sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất. Nó là
một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệp
ngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này.
* Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra cơ
đất đai.
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982) đã
quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và
phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)”. Trong chương
trình lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 -
2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề về tài
nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai; coi
đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động và vừa là
nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá.
Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây
dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được
ví như 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả
nước hết sức sôi động.
Như vậy, đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai mà
thực chất là quy hoạch sử dụng đất đai. Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ
yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản
xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công
nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị.
Tiếp theo đó là thời kỳ Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa
về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11 tức là quy
hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý. Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công
cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch
nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đất
nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn. Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ)
và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyết
làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng.
càng lớn đối với đất đai. Tháng 7 năm 1993 Luật Đất đai được công bố. Trong các
Luật này, những điều khoản về quy hoạch sử dụng đất đai đã được cụ thể hóa hơn
so với Luật Đất đai 1988, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch
sử dụng đất. Cơ sở pháp lý về công tác lập quy hoạch sử dụng đất của giai đoạn này
được thể hiện cụ thể ở các mặt sau”.
- Sự cần thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất: Trong Luật đất đai 1993 quy
định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” (Điều 1),
xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là “Quy hoạch và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
kế hoạch hóa việc sử dụng đất” (Điều 13), căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê
đất: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt” (Điều 19); “Đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp
trong cả nước…” [16].
- Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ
hành chính, theo ngành cũng như trách nhiệm của ngành Địa chính về công tác này
(Điều 16 - Luật Đất đai 1993).
- Nội dung tổng quát của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 17 - Luật
Đất đai 1993).
- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 18 - Luật
Đất đai 1993).
Cùng với các văn bản có tính pháp lý ở mức độ cao (Hiến pháp và Luật
Đất đai), còn có các văn bản dưới luật và các văn bản ngành, cũng như các văn
bản của từng địa phương (dưới các hình thức Nghị định, Chỉ thị, Quyết định,
Công văn…) trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung
và hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
* Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 2003 đến nay
Đây là thời kỳ mà công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta được
triển khai thực hiện và điều chỉnh theo các quy định của pháp luật đất đai hiện hành,
tương đối hoàn chỉnh cho việc triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật đất đai đến thời điểm này cho thấy những
vấn đề liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cho quy định khá đầy
đủ, cụ thể và rõ ràng theo các nội dung:
+ Loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Theo kết quả báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đến hết năm 2008, tình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên