Tiểu luận môn tài chính ngân hàng thâu tóm và sát nhập ngân hàng - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với những biến
động suy giảm của nền kinh tế, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã
và đang lâm vào thế khó. Bên cạnh những yếu điểm riêng vốn có cùng với sự phát triển chưa
toàn diện và vững mạnh tại các ngân hàng thương mại, một tác động xấu của thị trường cũng có
thể khiến tình trạng của hệ thống ngân hàng ngày một khó khăn chồng chất. Thực tế cho thấy
trong những năm gần đây, chất lượng tín dụng giảm, tỷ lệ nợ xấu tăng cao, những cuộc đua lãi
suất diễn biến phức tạp, tình trạng mất thanh khoản trong diện rộng, trạng thái vàng âm rầm rộ
tại các ngân hàng, tăng trường ảo tại các ngân hàng.
Để cải thiện tình trạng trên, NHNN đã có những khuyến nghị, chính sách cụ thể cho việc tái cơ
cấu các ngân hàng nằm trong diện cảnh báo nhằm cải thiện sức khỏe của các ngân hàng thương
mại này nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung theo hai hướng: sáp nhập –
hợp nhất và tự tái cơ cấu.
Bài viết đề cập đến việc sáp nhập và thâu tóm trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt
Nam trong giai đoạn vừa qua. Nội dung bài viết gồm 4 phần:
Phần 1: Động cơ thâu tóm-sáp nhập
Phần 2: Thâu tóm-sáp nhập ngân hàng Việt Nam thời kỳ sơ khai
Phần 3: Một vài điển hình sáp nhập giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2011-
2013
Phần 4: Bàn luận về vấn đề lợi ích nhóm, sở hữu chéo và vấn đề giám sát tại các NHTM của
NHNN.
Phần 5: Kết luận
PHẦN 1: ĐỘNG CƠ THÂU TÓM-SÁP NHẬP
1. Động cơ bên mua
1.1 Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô
Một ngân hàng lớn sẽ có ưu thế hơn khi tiến hành giao dịch hoặc đàm phán với các đối tác. Mặt
khác, quy mô lớn cũng giúp ngân hàng giảm bớt sự chòng chéo trong cơ cấu tổ chức, giảm các
chi phí không cần thiết, từ đó làm tăng lợi nhuận biên của ngân hàng mới.
1.2 Tác động tương hỗ để phát triển
Việc mua lại hoặc sáp nhập sẽ giúp các ngân hàng tận dụng và chia sẽ những nguồn lực sẵn có
như chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, tận dụng những kết quả nghiên cứu, thậm chí

đáng kể và nhiều thay đổi quan trọng. Năm 1990 đánh dấu mốc quan trọng trong ngành ngân
hàng Việt Nam với sự thành lập của 4 NHTM NN, kể từ đó hệ thống ngân hàng hai cấp đã thay
thế hệ thống ngân hàng đơn cấp, hoạt động theo định hướng thương mại.
Thời điểm năm 1989-1990, Việt Nam gặp cuộc khủng hoảng kinh tế từ đó kéo theo phần lớn các
TCTD lâm vào tình trạng khó khăn, nợ xấu có ngân hàng đến 40-50% tổng dư nợ. Đến thời điểm
1996 – 1997, nền kinh tế Việt Nam lại chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực
với việc hàng loạt các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và không có khả năng trả nợ ngân hàng và
các vụ án liên quan đến lĩnh vực ngân hàng.
Vào đầu năm 1998, một số NH TMCP, đặc biệt là các NH TMCP nông thôn đã lâm vào tình
trạng mất khả năng thanh toán, có nguy cơ đổ vỡ gây ảnh hưởng dây chuyền đến cả hệ thống.
Trước tình hình đó, NHNN đã áp dụng hàng loạt các biện pháp để xử lý, củng cố và hỗ trợ các
NH TMCP yếu kém, cải tổ cơ cấu lại toàn bộ hệ thống ngân hàng. Các NH TMCP kinh doanh
thua lỗ, năng lực tài chính yếu bị giải thể, sáp nhập, hợp nhất với ngân hàng khác.
Vụ sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam diễn ra lần đầu tiên năm 1997 là trường hợp NH TMCP
nông thôn Đồng Tháp sáp nhập với NH TMCP Phương Nam (Southern Bank). Ngân hàng
Phương Nam với số vốn điều lệ là 10 tỷ đồng với mạng lưới gồm một hội sở và một chi nhánh,
huy động được 31.6 tỷ đồng tạo lợi nhuận 259 triệu. Sau khủng hoảng tài chính Châu Á năm
1997, Ngân hàng TMCP Đồng Tháp với số vốn điều lệ là 5 tỷ đồng mặc dù làm ăn rất hiệu quả
nhưng vẫn phải sát nhập vào ngân hàng Phương Nam do yêu cầu vốn điều lệ. Đến lúc này ngân
hàng Phương Nam tăng vốn điều lệ thành 100 tỷ đồng.
Đến năm 1999 NHTMCP Đại Nam sát nhập vào NHTMCP Phương Nam, với việc sát nhập này
cho phép NHTMCP Phương Nam được thực hiện dự trữ bắt buộc bằng trái phiếu, tín phiếu kho
bạc trong thời hạn không quá 3 năm. Nguồn lãi thu được từ nguồn này ngân hàng dùng để bồi
đắp dần số tiền tổn thất của Ngân hàng Đại Nam trước khi sát nhập. Cũng từ hậu khủng hoảng
tài chính năm 1997 Ngân hàng MeKong sát nhập vào Ngân hàng Hoa Việt. Đồng thời Ngân
hàng Hoa Việt tăng vốn từ 70.5 tỷ lên thành 200 tỷ đồng. Và cũng trong năm 1999 này,
NHTMCP Đông Á đã mua lại NHTMCP Tứ Giác Long Xuyên tăng vốn điều lệ và mở rộng địa
bàn hoạt động về Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Năm 2001, Ngân hàng TMCP Châu Phú được NHNN cho phép sát nhập vào NHTMCP Phương
Nam.

Sau khi được NHNNVN cho phép nâng vốn đầu tư trên 15%, Đầu tháng 09/2008, HSBC trở
thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại VN sở hữu 20% cổ phần của một ngân hàng trong nước
khi nâng cổ phần sở hữu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương VN (Techcombank) từ
14,4% lên 20% với tổng giá trị 1.272 tỉ đồng (tương đương 77,1 triệu USD).
Điểm đáng chú ý là giá mua thêm 5% cổ phần của Techcombank được HSBC trả cao hơn nhiều
so với thị trường (60.891,52 đồng/cổ phiếu trong khi giá thị trường chưa bằng 1/2 mức giá này),
bằng với mức giá của giao dịch nâng tỷ lệ sở hữu từ 10% lên 15% trong năm 2007.
Vietinbank và Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ
Ngày 27/12/2013 tại Hà Nội, hợp đồng đầu tư chiến lược và hợp đồng hợp tác toàn diện giữa
VietinBank và Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ (BTMU)(ngân hàng bán lẻ và thương mại chính
của Tập đoàn Mitsubishi UFJ Financial Group Inc (“MUFG”)) chính thức được ký kết. BTMU
trở thành nhà đầu tư chiến lược, sở hữu 20% cổ phần của VietinBank. Giao dịch này sẽ là giao
dịch mua bán lớn nhất từ trước đến nay trong ngành ngân hàng Việt Nam và đánh dấu một mốc
quan trọng đối với VietinBank kể từ sau khi ngân hàng thực hiện cổ phần hóa vào năm 2008.
Ngoài BTMU, Vietinbank còn có một cổ đông chiến lược khác là Tổ chức Tài chính quốc tế
(IFC), nắm giữ 8,03% cổ phần của VietinBank (IFC đầu tư vào Vietinbank vào năm 2011).
3.1.4 Vietcombank và Mizuho Corporate Bank. Ltd (Mizuho là tập đoàn cung cấp
dịch vụ tài chính hàng đầu tại Nhật)
Tháng 9 năm 2011 – Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (“Vietcombank”),
ký hợp đồng bán 15% vốn tính trên số cổ phiếu đã phát hành đang lưu hành cho Ngân hàng
TNHH Mizuho (“MHCB”), một thành viên của tập đoàn tài chính Mizuho (“Mizuho”), để tăng
vốn 11,8 nghìn tỷ VNĐ (tương đương 567,3 triệu đô la Mỹ). Từ đâyMizuho Corporate Bank. Ltd
trở thành cổ đông nước ngoài lớn nhất của Vietcombank cho tới thời điểm hiện tại.
3.2 Hợp nhất Ngân hàng SCB, Ficombank, TinNghiaBank
3.2.1 Lý do hợp nhất
Việc sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Đệ nhất (Ficombank)
và Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa có hai nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã bộc lộ nhiều điểm yếu trong năm 2011, trước khi
sáp nhập ba ngân hàng này cũng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản trầm trọng và nợ
xấu tăng cao. Nguyên nhân chủ yếu do họ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

Tỷ lệ an toàn vốn đạt 10,7%, đáp ứng được quy định của NHNN. Tỷ lệ dư nợ cho vay một hoặc
một nhóm khác hàng, cũng như tỷ lệ cho vay và bảo lãnh một khách hàng đều đạt dưới mức quy
định.
Tình hình thanh khoản được cải thiện, trong quý I/2013 ngân hàng đã thanh toán bổ sung 6.972
tỷ đồng tiền gốc và 1.639 tỷ đồng các khoản vay tái cấp vốn NHNN. Trước đó, tại thời điểm
31/12/2012, tổng doanh số nợ gốc mà SCB đã thanh toán cho NHNN là 9.478 tỷ đồng và lãi vay
1.377 tỷ đồng.
Tính đến 31/12/2012, tổng số dư huy động TT1 của SCB đạt 106.712 tỷ đồng, tăng 35,7% so với
đầu năm. Trong đó, huy động trên 12 tháng chiếm 21,9%.
3.3. Sự Sáp Nhập Của Ngân Hàng Habubank và SHB
3.3.1 Lý do sáp nhập
Việc Ngân Hàng TMCP Phát Triền Nhà Hà Nội và Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội sáp nhập
có bốn lý do sau:
Thứ nhất, là do kết quả kinh doanh của Habubank gặp nhiều khó khăn, bởi ảnh hưởng từ các
khoản vay của nhóm khách hàng Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và khả
năng cạnh tranh chưa đủ mạnh trong giai đoạn khủng hoảng của thị trường; không có khả năng
thích nghi tốt khi tình hình có những dấu hiệu bất lợi đối với thị trường/sản phẩm truyền thống
của ngân hàng.
Thứ hai, với quy mô và khả năng hiện tại thì Habubank sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát
triển thị trường và có thể yếu thế trong quá trình cạnh tranh khi các đối thủ cạnh tranh cũng đang
đẩy mạnh hoạt động hợp nhất/sáp nhập để vươn tới tầm khu vực.
Thứ ba, ngân hàng phải chịu áp lực tái cơ cấu để nâng cao năng lực tài chính, cải thiện hiệu quả
hoạt động, tăng trưởng về quy mô và thị phần theo chủ trương chung của ngành ngân hàng.
Thứ tư, SHB rút ngắn được thời gian phát triển khoảng 5 năm và nâng cao vị thế của mình trên
thị trường tài chính ngân hàng.
3.3.2 Diễn biến hoạt động sáp nhập
Ngày 7/3/2012, SHB và Habubank đã cùng nhau ký biên bản thống nhất thực hiện phương thức
sáp nhập theo Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước.
Ngày 7/8/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa có Quyết định số 1559 chính thức chấp

• Một là, chỉ thuần túy đầu tư tài chính, khi có lời là bán. Đây là mục tiêu ban đầu của
Eximbank khi đầu tư vào Sacombank. Chúng tôi sẽ thanh lý khoản đầu tư nếu đạt được lợi
nhuận kỳ vọng.
• Hai là, đầu tư chiến lược và không loại trừ khả năng sẽ hợp nhất hai ngân hàng khi hội đủ các
điều kiện cho phép. Theo kịch bản này, Việt Nam sẽ có một ngân hàng TMCP với quy mô
vốn điều lệ khoảng 30.000 tỷ đồng, có khoảng 600 chi nhánh trải rộng khắp toàn quốc.
Đến thời điểm hiện tại, chúng ta đều biết mục tiêu đầu tư của Eximbank là phương án số hai.
3.4.2 Diễn biến hoạt động sáp nhập
Ngày 15/7/2011, tại Đà Lạt, HĐQT Eximbank họp Hội nghị sơ kết đánh giá hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2011. Trong cuộc họp này, HĐQT Eximbank đã
thảo luận khả năng đầu tư tài chính vào Sacombank vì Ngân hàng ANZ, cổ đông chiến lược của
Sacombank, đã chủ động liên hệ bán lại 9,73% cổ phần mà họ đang nắm giữ.
Tháng 8/2011, Dragon Capital chính thức bán toàn bộ 6,66% vốn tại Sacombank, với 61 triệu cổ
phiếu sau 10 năm nắm giữ. Kể từ thời điểm này, thông tin về việc nhà đầu tư nội thu gom cổ
phiếu Sacombank để giành quyền kiểm soát lan khắp thị trường
Tháng 1/2012, hai cổ đông lớn của STB là REE, ANZ đã thoái hoàn toàn vốn khỏi Sacombank.
Thay vào đó, Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Eximbank (EIB) trở thành cổ đông lớn với lượng nắm
giữ là 9,73%
Tháng 2/2012, với tư cách là cổ đông lớn và đại diện cho nhóm cổ đông nắm 51% cổ phần
Sacombank, Eximbank đề nghị bầu lại Hội đồng quản trị (HĐQT) của Sacombank.
3.4.3 Kết quả thương vụ sáp nhập
Vị trí Chủ tịch Sacombank trước đây là Ông Đặng Văn Thành được thay thế bởi cựu Phó chủ
tịch Eximbank Phạm Hữu Phú. Ngoài ra, các vị trí trong HĐQT và Ban Lãnh đạo của
Sacombank đến thời điểm hiện tại cũng có sự thay đổi đáng kể, với các thành viên mới chủ yếu
đến từ Ngân hàng Phương Nam và Eximbank.
Ngày 29/01/2013, Eximbank và Sacombank thực hiện ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm tăng
cường năng lực cạnh tranh. Thỏa thuận có hiệu lực trong vòng 5 năm và hai bên sẽ hỗ trợ nhau
trong việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh hiệu quả nhất. Các nội dung hợp tác tập trung ở 5 điểm:
• Thứ nhất, các bên sẽ cùng hợp tác trong việc triển khai dịch vụ cho khách hàng vay vốn
theo hình thức đồng tài trợ hoặc ủy thác cho vay.

Sau đợt thanh tra WTS của hai quyết định số 29/QĐ-TTGSNH1.m ngày 09/02/2012 và Quyết
định số 60/QĐ-TTGSNH1.m ngày 13/03/2012, NHNN nhận thấy thực trạng tài chính của WTS
đã có sự biến đổi tích cực về các nội dung như: vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, cấp tín
dụng, ủy thác đầu tư, kinh doanh chứng khoán…Nhưng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng được
đánh giá là ngân hàng yếu kém cần tái cơ cấu.
Từ phía PVFC
Theo Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, công ty tài chính không được
phép huy động vốn của cá nhân nhưng được huy động vốn của các tổ chức ở tất cả các kỳ hạn,
Do điều kiện hoạt động bị hạn hẹp như vậy nên PVFC muốn được liên mình/hợp nhất với một
ngân hàng để có thể mở rộng thị trường. Quy mô của PVFC hiện hơn hẳn khá nhiều ngân hàng
nhỏ lẻ hiện nay, tuy nhiên từ khoảng nợ hơn 2800 tỷ đồng Vinashin và Vinalines thì chính PVFC
cũng đang phải đẩy mạnh việc tái cơ cấu đề cải thiện tình trạng sức khỏe tài chính vốn bị khoản
nợ xấu trên ảnh hưởng không nhỏ.
3.5.2 Diễn biến
Giữa tháng 3/2013, PVFC lên tiếng chính thức xác nhận đang trong quá trình nghiên cứu xây
dựng đề án cấu trúc chuyển đổi mô hình hoạt động theo chỉ đạo của các cơ quan Nhà nước.
Trước đó, cả WTS và PVFC đã đệ trình lên NHNN các kiến nghị cho vay 30.000 tỷ đồng hỗ trợ
việc hợp nhất WTS-PVFC, đi kèm theo là các đề xuất như: cho phép Ngân hàng hợp nhất được
duy trì dự trữ bắt buộc 50% bằng tiền mặt, 50% bằng các giấy tờ có giá; cho phép ngân hàng hợp
nhất ưu tiên mở rộng mạng lưới bán lẻ: trung bình được mở từ 20-25 chi nhánh/1 năm trong
vòng 3 năm kể từ ngày hợp nhất; kiến nghị Bộ Tài chính xem xét chấp thuận cho Ngân hàng hợp
nhất được miễn thuế TNDN trong 3 năm sau khi hợp nhất và giảm 50% theo mức thuế hiện hành
trong hai năm tiếp theo để giúp Ngân hàng hợp nhất tích lũy vốn sau khi tái cơ cấu…
Đại hội đồng cổ đông năm 2013 của Western Bank sáng ngày 16/3 diễn ra gọn với đồng thuận về
kế hoạch hợp nhất với PVFC.
Ngày 26/04/2013, Western Bank dự kiến tiến hành đại hội đồng cổ đông thường niên năm tài
chính 2012, qua đó thông qua hai tài liệu quan trọng về việc hợp nhất WTS – PVFC.
Ngày 18/5, ĐHCĐ thường niên của PVFC đã thông qua toàn bộ các vấn đề đệ trình tại đại hội,
với sự đồng thuận của cổ đông lớn nhất nắm trên 78% vốn là PVN,
Ngày 26/6, Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP

Nhóm 1: Sở hữu chéo giữa các NHTM và tổ chức tài chính với nhau, gồm:
- Sở hữu chéo giữa các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các NH liên doanh. Việt
Nam hiện có 6 NH liên doanh và mỗi trong số đó thuộc sở hữu của một số NH nước ngoài và
trong nước.
- Sở hữu chéo của các NHTM nhà nước tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Hiện có gần
tám NHTM cổ phần có quan hệ cổ phần với bốn NHTM nhà nước
- Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần.
Nhóm 2: Sở hữu chéo giữa các NHTM cổ phần với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư
nhân:
- Hiện có khoảng gần 40 DNNN và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các NHTM cổ phần. Hầu hết
các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đều sở hữu ngân hàng như Tập đoàn Điện lực
Việt Nam sở hữu Ngân hàng TMCP An Bình, Tập đoàn Viễn thông Quân đội sở hữu Ngân
hàng TMCP Quân đội Mối quan hệ giữa NHTM cổ phần với các tập đoàn tư nhân ngày
càng trở nên phức tạp. Xu hướng này vẫn đang tiếp diễn cụ thể là thương vụ gần đây nhất
Trustbank đổi tên thành Ngân hàng xây dựng do kết hợp với đối tác là Tập đoàn Thiên Thanh,
Doji đầu tư vào Tienphongbank.
- Nhiều NH có thể được sở hữu bởi rất nhiều công ty gia đình hoặc các thành viên gia đình vốn
đồng thời lãnh đạo ở các DN khác.
Nếu như việc sở hữu chéo trong những giai đoạn trước không nhằm mục đích đề quản lý điều
hành mà chủ yếu vì mục đích đầu tư và tìm kiếm thông tin đề cạnh tranh và tham chiếu giữa các
ngân hàng thương mại với nhau thì nay, việc sở hữu chéo đã ngày càng sa đà vào vấn đề sở hữu
và nắm quyền điều hành.
Việc sở hữu chéo đồng thời mang ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong diễn biến hoạt động ngân
hàng:
- Về mặt tích cực: góp phần làm tăng hiểu biết giữa ngân hàng với doanh nghiệp, đồng thời
hình thành nên một cơ cấu sở hữu và quản trị ổn định trong các doanh nghiệp, ngân hàng
- Về mặt tiêu cực: sở hữu chéo gây hệ lụy khôn lường cả vi mô và vĩ mô, nhất là khi nó bị lạm
dụng để phục vụ lợi ích nhóm hay để che giấu tình trạng ọp ẹp về tài chính của các doanh
nghiệp và ngân hàng có liên quan. Sở hữu chéo gây tình trạng mù mờ về sở hữu thực, thực
trạng lỗ, lãi và trách nhiệm giải trình, dẫn đến làm giảm hiệu lực và hiệu quả quản lý đối với

giúp nhau phát triển thì những thiệt hại khi sử dụng với mục tiêu che giấu, tạo ảo tưởng tốt đẹp
cho hiện trạng thâm hụt bên trong, biến các quy định quản lý thị trường trở nên vô hiệu khi mà
các số liệu nhờ tính chất sỡ hữu chéo trở thành “tươi tắn, khỏe mạnh” trong mắt nhà đầu tư hay
như làm chiếc cầu nối trong việc cung cấp nguồn vốn liên thông giữa các ngân hàng và dễ dàng
hơn trong việc thâu tóm “cửa sau” khi được lạm dụng có chủ đích trên quy mô lớn.
Ngoài những diễn biến trong nội bộ các ngân hàng, tổ chức tín dụng Việt Nam, cũng cần chú ý
thêm khi các dòng vốn ngoại đã và đang gia tăng sự hiện diện và cũng như thế lực của họ một
cách âm thầm trên thị trường tài chính Việt Nam. Đây là một thành tố tác động có trọng số tương
đối lớn khi xem xét đến nguồn lực tài chính dồi dào của tập đoàn mẹ ở nước ngoài cũng như
thuộc diện khó quản lý bởi tính chất đặc thù đa quốc gia vốn có của họ.
Nói tóm lại, sự hòa hợp trong việc quản lý và điều tiết thị trường theo định hướng phù hợp của
chính phủ sẽ là “bánh lái” cho “con tàu” kinh tế Việt Nam hướng đến giao thương, hội nhập với
nền kinh tế khu vực. Trong quá trình đó, sự gia cố cho bản thân nội tại cần được chú trọng trước
khi đón nhận những luồng chảy dồi dào từ bên ngoài mà chính ngân hàng sẽ là chất kết dính bền
chặt cho tổng thể các doanh nghiệp. Vậy nên cần lắm sự vào cuộc của các cơ quan quản lý điều
hành trong việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam đủ lực đủ sức đáp ứng kỳ vọng của nền
kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

/> />
/>
/> />20111221031651161ca34.chn
/> ficombank tinnghiabank scb.htm
/> />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status