BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ TIỂU LUẬN
Đ TI:
TÌM HIỂU VÀ SO SÁNH HAI TRƢỜNG PHÁI TRIẾT
HỌC NHO GIA VÀ ĐẠO GIA
GVHD : TS. BÙI VĂN MƢA
HVTH : LÊ THỊ TỐ QUYÊN
MSHV : 55
Nhóm : 6
LỚP : K22_ NGÀY 4 TP. HÔ
̀
CHI
́
MINH, 12/2012
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 2 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên
thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử
trên nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái
Ra đời trong bối cảnh xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ chuyển giao từ hình thái
chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến kiểu Phương Đông nên Nho giáo thời kỳ này
chịu ảnh hưởng của sự biến đổi sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội.Giống như các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là một học thuyết chính trị
xã hội nên Nho giáo nảy sinh và tồn tại trên một cơ sở hạ tầng, một tồn tại xã hội nhất
định.
Trên lĩnh vực kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc có sự chuyển biến từ
thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Việc sử dụng đồ sắt trong sản xuất đã đem lại
những bước tiến mới cho sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp. Trong sản xuất
thủ công nghiệp cũng đạt được nhiều thành tựu thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ
công nghiệp ra đời và phát triển như luyện sắt, rèn, đúc…
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng đạt được nhiều
thành tựu. Sự ra đời của tiền tệ đã thúc đẩy các ngành thương nghiệp cùng nhiều trung
tâm buôn bán trao đổi hàng hoá được mở rộng hơn. Thành thị xuất hiện và trở thành
một cơ sở kinh tế độc lập. Lúc này, trong xã hội hình thành tầng lớp quý tộc mới có
thế lực, tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ. Vì vậy mà nhu cầu cho con em
quý tộc học hành và thi đỗ ra làm quan đã trở nên phổ biến. Đây chính là tiền đề cho
việc dạy học và đề cao giáo dục đạo đức nhằm duy trì và ổn định trật tự xã hội.
Trên lĩnh vực xã hội: Cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc đang bước
dần sang chế độ phong kiến sơ kỳ nên Tông pháp của nhà Chu không còn được coi
trọng như trước. Các nước Chư hầu nổi lên, thôn tính lẫn nhau lấn át nhà Chu. Mâu
thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt dẫn tới tình trạng trật tự lễ,
nghĩa, cương thường bị đảo lộn, các quan hệ đạo đức suy đồi "Chư hầu lấn quyền
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 4 -
thiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, trật tự xã hội rối
loạn"[35;4]. Trong bối cảnh loạn lạc đó một vấn đề lớn đặt ra: cách tổ chức và quản lý
xã hội theo mô hình nhà Chu không còn phù hợp nữa. Và vấn đề là làm thế nào để
mình. Đây được xem như phương thức hữu hiệu nhất để đưa xã hội từ loạn lạc về thái
bình, thịnh trị.Người đầu tiên đề cập tới vấn đề bản tính con người trong phái Nho
giáo là Khổng Tử. Trong sách Luận ngữ, có tới 3 lần ông nhắc tới chữ "tính" luận về
tính ông nói "Bản tính người ta gần đều giống nhau, nhưng chịu ảnh hưởng khác nhau
mà xa nhau" [14; 614]. Theo Khổng Tử, tính của con người khi mới sinh ra là hoàn
toàn trong trắng, ngây thơ, tự nhiên, chưa bị thay đổi bởi hoàn cảnh bên ngoài. Vì cái
bản tính ấy có được do trời nên mọi người đều có bản tính giống nhau. Nhưng trong
quá trình học tập, tiếp xúc, do sự tác động của các yếu tố bên ngoài nên bản tính của
con người có thể bị thay đổi. Điều đó làm cho mọi người trở nên khác nhau."Người ta
sinh ra vốn ngay thẳng, kẻ cong vạy mà vẫn còn sống chẳng qua nhờ may mắn thoát
chết" [14; 332]. Khổng Tử còn khẳng định rằng để giữ được bản tính lành trong mỗi
con người thì họ phải được giáo dục, giáo hoá. Mặc dù, chưa bàn nhiều đến vấn đề
"tính người" song những tư tưởng, những quan niệm của Khổng Tử đưa ra có ý nghĩa
to lớn với các nhà nho sau này. Tiếp thu và kế thừa quan điểm của Khổng Tử, Mạnh
Tử cho rằng: "Bản tính người ta vốn thiện cũng như nước chảy xuống thấp vậy" [14;
1193]. Ở đây, Mạnh Tử giải thích về tính người thiên về khía cạnh những giá trị xã
hội. Con người ta sinh ra vốn đã thiện đó là điểm phân biệt giữa con người với loài
cầm thú. Con người sở dĩ trở thành bất thiện là do vật dục sai khiến, do hoàn cảnh tác
động. Tư tưởng này là sự kế thừa và phát triển tư tưởng "tính người" của Khổng Tử.
Mạnh Tử cũng đề cao vai trò của giáo dục, giáo hoá trong việc tu dưỡng bản tính thiện
của con người. Đối lập với quan niệm của Mạnh Tử, Tuân Tử khẳng định: bản tính
con người là ác, thiện là do con người làm ra. Tuân Tử xuất phát từ việc nhìn nhận
con người từ bản năng tự nhiên khác với Mạnh Tử xuất phát từ nhìn nhận, xem xét
con người từ phương diện đạo đức, xã hội. Tuy coi bản tính con người là ác nhưng
Tuân Tử cho rằng có thể uốn nắn được cái bản tính ấy nhờ giáo hoá, giáo dục mà
phương thức tốt nhất để loại trừ nó là học tập, rèn luyện. Quan niệm về bản tính con
người của Tuân Tử và Mạnh Tử có sự đối lập, trái ngược nhau song đều thống nhất ở
chỗ: Có thể giáo hoá giáo dục để hướng con người tới điều thiện. Tuy nhiên, trong học
thuyết của mình cả hai ông đều chưa nhận thấy được con người là thực thể thống nhất
giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Ngoài những quan niệm trên thì con người phải kể đến
khác, ở chỗ khác thì đối với người nông dân, những người hèn kém về mặt đạo đức thì
ông lại áp dụng chính sách ngu dân. Đặc biệt, Nho giáo không tính đến vai trò của
người phụ nữ và kẻ tiểu nhân trong việc giáo dục, giáo hoá. . Mạnh Tử cho rằng
không phải mọi người dân đều là đối tượng của giáo dục. Theo ông, điểm khác nhau
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 7 -
giữa con người và con vật chính là ở tứ thiện tâm: Trắc ẩn, tu ố, cung kính, thị phi. Ở
kẻ tiểu nhân thì ngay từ khi lọt lòng mẹ đã mất đi những điều này. Tức là trong quan
niệm của Mạnh Tử thì kẻ tiểu nhân không thể là đối tượng của giáo dục.
Tuân Tử thì cho rằng kẻ tiểu nhân ngay từ khi sinh ra mãi mãi là kẻ tàn bạo, gian ác
thèm muốn của cải mà không biết tu dưỡng rèn luyện và họ không phải là đối tượng
của giáo dục. Từ thời Hán trở đi, các nhà Nho cũng có cùng một quan niệm cho rằng
thứ dân, kẻ tiểu nhân không phải là đối tượng của giáo dục và cho dù có được học
hành thì dưới con mắt của các nhà Nho, người cầm quyền, thì họ cũng chỉ là những kẻ
hạ ngu "không nghe theo giáo hoá" khinh nhờn lời dạy của thánh nhân.
Như vậy, xét về đối tượng giáo dục, Nho giáo thể hiện tính chất bất bình đẳng, tính
chất giai cấp rõ rệt. Chứng tỏ, trong xã hội, mà giai cấp bóc lột là kẻ thống trị thì
không có nền giáo dục bình đẳng không phải ai cũng được học hành.
Nội dung của giáo dục Nho giáo:không nằm ngoài Tứ Thư, Ngũ Kinh và những lời
dạy của bậc thánh hiền tức là không ngoài những nguyên lý đạo đức cơ bản của Tam
cương, Ngũ thường. Trong nội dung giáo dục của mình, Nho giáo còn đề cao việc
giáo dục đạo trị nước" cho con người. Nho giáo còn chủ trương dùng hình, pháp và
luật để giáo hoá, giáo dục nhưng mục đích cuối cùng vẫn là duy trì trật tự xã hội bảo
vệ lợi ích giai cấp phong kiến. Nhìn chung, nội dung giáo dục là sát với vấn đề thực tế
nhưng hạn chế lớn hất là chưa bao giờ dạy cho con người những tri thức về tự nhiên,
khoa học tự nhiên, lao động sản xuất. Vì vậy đã đào tạo ra những con người thuần tuý
sách vở chỉ biết nghe theo lời dạy của thánh hiền mà mất đi khả năng chủ động, sáng
tạo trong lĩnh vực sản xuất, thụ động trước những biến đổi của thời cuộc.
vua chúa, quan lại đến thứ dân.Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc, thị tộc
cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lớn lên.
Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và
chủ trương “thượng hiền” không phân biệt đẳng cấp xuất thân của người ấy. Trong
việc chính trị vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với
những kẻ cộng sự ”.
Trong việc trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức nhân, “lế”
được Khổng Tử rất mực chú trọng. Lễ ở đây là những quy phạm nguyên tắc đạo đức.
Ông cho rằng do vua không giữ đúng đạo vua, cha không giữ đúng đạo cha, con
không giữ đúng đạo con nên thiên hạ vô đạo. Phải dùng lễ để khôi phục lại chính
danh.
Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếu làm đầu và cha
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 9 -
đối với con phải lấy lòng tự ái làm trọng. Trong đạo hiếu của con đối với cha mẹ, dù
rất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở tâm thành kính. “Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha
mẹ thì người ta khen là có hiếu. Nhưng loài thú vật như chó, ngựa người ta cũng nuôi
được vậy. Cho nên, nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu.”
Còn Mạnh Tử, ông kịch liệt lên án những ông vua không lấy điều nhân nghĩa làm gốc,
chỉ vui thú lợi lộc riêng, tà dâm bạo ngược, dùng sức mạnh để đàn áp dân; ông gọi đó
là “bá đạo” và thường tỏ thái độ khinh miệt: “kẻ hại nhân là tặc, kẻ hại nghĩa là
tàn”.Người tàn tặc là một kẻ thất phu. Nghe nói giết tên Trụ, chứ chưa nghe nói giết
vua Trụ.
Thứ ba: Nho giáo lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng
“đại đồng”. Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội, cho nên, nền giáo
dục dục Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người. Trong bảng
giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là “Nhân”. Những chuẩn mực khác
như: Lễ, nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu đều là những biểu hiện của Nhân. Chữ Nhân
túc không ngả nghiêng xa rời đạo lý.
Thứ tư: Vấn đề bản tính con người. Việc giải quyết những vấn đề chính trị – xã hội
đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung hoa thời cổ phải đặt ra và
giả quyết vấn đề bản tính con người. Trong Nho gia khong có sự thống nhất quan
điểm về vấn đề này nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử. Theo ông “bản tính
người vốn là thiện”. Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi
mới sinh như, Nhân, Lễ, Nghĩa
Mạnh Tử thần bí hoá những giá trị chính trị- đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên.
Do quan niệm bản tính con người là thiện nên Nho gia đề cao sự giáo dục để con
người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức sẵn có.
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn
là ác. Mặc dù bản thân con người ác, nhưng có thể giáo hoá thành thiện. Xuất phát từ
quan điểm đó về tính người, Tuân tử đã chủ trươngđường lối trị nước kết hợp Nho gia
với pháp gia.
1.3 Ý nghĩa phƣơng pháp luận
So với các học thuyết khác, Nho gia là học thuyết có nội dung phong phú và mang
tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp
thống trị Trung Hoa suốt hai ngàn năm của xã hội phong kiến.
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 11 -
Để trở thành tư tưởng chính thống, Nho Gia đã được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều
giai đoạn lịch sử trung Đại; Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh nhưng tiêu biểu hơn cả
là dưới triều đại hán và Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng
Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình DI (thời Tống).
Trong bối cảnh nước Trung Quốc thời Xuân Thu, một xã hội loạn lạc, cha không ra
cũ, đã là một bước tiến dài trong lịch sử triết học Trung Quốc thời cổ đại.
- Những tư tưởng triết học của Nho gia xuất hiện vào thế kỷ VI trước công nguyên,
trải qua hơn hai ngàn năm cho đến nay, Nho gia đã để lại cho đời những tư tưởng triết
học về luân lý, đạo đức chính trị – xã hội rất sâu sắc và vô cùng quý giá. Nhất là trong
giai đoạn hiện nay nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa quan hệ
với các nước trên thế giới, với sự du nhập của văn hoá phương Tây, ở một khía cạnh
nào đó, một số giá trị đạo đức cũng bị thay đổi, thì những tư tưởng về chữ Nhân của
con người có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục lối sống cho thế hệ trẻ hiện nay.
Dưới tác động của những quy luật kinh tế khách quan của kinh tế thị trường, nhiều
người vì chạy theo lợi nhuận mà đôi khi làm lợi cho mình nhưng lại làm hại cho người
khác, điều này là trái với những tư tưởng của đạo Nho
Trong kinh doanh, việc đạt chữ Tín lên đầu có ý nghĩa rất lớn nhất là trong giai đoạn
hiện nay, chúng ta mở cửa quan hệ với các nước trên trế giới, với việc đầu tư của các
nhà tư bản lớn trên thế giới thì một sự bất tín vạn sự bất tin.
Về vấn đề đạo lý giữa cha mẹ và con cái trong gia đình thì những tư tưởng của Nho
gia sống mãi và có giá trị trong mọi thời đại.
Hiện nay, trong mối quan hệ thầy trò, mối quan hệ giữa người với người trong xã hội,
chữ “lễ”, chữ “nghĩa” đôi khi đã bị xem nhẹ. Do vậy, vận dụng những tư tưởng đạo
đức của Nho gia vào việc giáo dục con người là hết sức có ý nghĩa.
Tuy nhiên bên cạnh đó những tư tưởng của Nho gia cũng có một số hạn chế đó là lối
sống gia trưởng trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Trong gia đình người
cha, người chồng, người anh cả là người có quyền lực cao nhất, người phụ nữ trong
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 13 -
Trang - 14 -
một tập hợp những ngạn ngữ huyền bí, tối nghĩa, dường như muốn người đọc phải tự
lí giải. Chính vì vậy, về sau có hàng trăm bản dịch nghĩa cho bộ sách này.
Dương Chu (khoảng 440 – 360 TCN) là một đạo sĩ ẩn danh và bí hiểm. Theo luận
giải, ông phải sinh trước Mạnh Tử (372 - 289 TCN) và sau Mặc Tử (478 - 392 TCN).
Tư tưởng của ông được diễn đạt lại thông qua các tác phẩm của cả những người ủng
hộ lẫn những người chống đối ông. Chủ thuyết của ông là quý sự sống, trọng bản thân.
Ông thường mượn chuyện Bá Thành Tử Cao không chịu mất một sợi lông để làm lợi
cho thiên hạ, nhằm trình bày tư tưởng của mình.
Trang Tử (365 – 290 TCN), tên thật là Trang Chu, tác giả bộ Nam Hoa kinh, là một
trong hai bộ kinh điển của Đạo gia. Bộ sách gồm ba phần, chứa 33 thiên. Trong đó, có
nhiều điểm lấy từ Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng không phải bao giờ cũng đồng
thuận. Một số nhà nghiên cứu sau này cho rằng phần lớn nội dung tác phẩm Nam Hoa
kinh là do các đệ tử của ông biên tập.
2.2 Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia
Quan điểm triết học của Đạo gia tuy hết sức phong phú, đa dạng, song tựu trung lại
không đi sâu vào giải quyết vấn đề cơ bản của triết học theo cách lý giải của truyền
thống triết học phương Tây, mà tập trung vào vấn đề con người trong mối tương quan
và thống nhất với tự nhiên, trực giác tâm linh và phi lý tính. Nó được thể hiện qua các
tác phẩm “Đạo Đức kinh” của Lão Tử, “Nam Hoa kinh” của Trang Tử và một số tư
tưởng của Dương Du được ghi chép tản mạn trong các sách “Mạnh Tử”, “Nam Hoa
kinh”, “Hàn Phi Tử”, “Lã Thị Xuân Thu”, “Liệt tử”…
Mặc dù cả Lão Tử, Dương Chu và Trang Tử đều có những luận điểm khác nhau, đặc
biệt là giữa Dương Chu và Trang Tử, song về cơ bản, những tư tưởng triết học chính
yếu của phái Đạo gia đều thống nhất trên nên tảng các quan điểm về Đạo, tư tưởng
biện chứng và quan điểm “vô vi”. Dưới đây xin trình bày khái quát về ba quan điểm
triết học cơ bản đó.
2.2.1 Quan điểm về “ĐẠO”
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
khi chưa có trời đất, làm thiêng liêng quỷ thần, Thượng đế, sinh ra trời đất, ở trước
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 16 -
thái cực mà chẳng là cao, ở dưới lục cực mà chẳng là sâu. Sinh trước trời đất mà
chẳng là lâu, dài hơn thượng cổ mà chẳng là già” (Nam Hoa kinh, Đại tông sư). Đạo
sinh ra vạn vật, là “mẹ” của muôn loài, làm chủ trời đất một cách tự nhiên, không ý
chí, không mục đích, nên cũng không tự cho vạn vật là của mình. Nhờ đó mà trời đất
vạn vật phó mặc tự nhiên, cứ sinh sinh hóa hóa không ngừng…
2.2.1.2 Tướng của Đạo
Nhằm ngụ ý đến hình dáng, trạng thái của Đạo. Nó không có một thuộc tính quy định
nào ngoài vẻ tự nhiên chất phác, sâu thẳm, mập mờ, thấp thoáng, trống rỗng, huyền
diệu, nhìn không thấy, nghe không được, không nắm được, không nếm được, không
ngửi được, không sáng, không tối… “Thoắt lặng không hình, biến hóa không
thường ” (Trang Tử, Nam Hoa kinh, Thiên hạ). Nói chung, Đạo không thể cảm giác,
không thể diễn tả dưới bất cứ hình thức nào.
2.2.1.3 Dụng của Đạo
Nhằm nói đến công dụng và năng lực của Đạo. Đó là trạng thái vận động, biến đổi,
sản sinh, nuôi dưỡng và “huyền đồng”, làm cho vạn vật hiện ra muôn hình vạn trạn,
vô cùng, vô tận… theo trật tự của Đạo. Đạo làm cái không làm, săn sóc cái không
việc, không làm mà như đã làm, đã làm mà như không làm…
Nói tóm lại, Đạo gia đã đề cập đến Đạo một cách phi thường, siêu việt, không đứng
trên lập trường duy vật hay duy tâm thuần túy, mà ta chỉ nhận biết được điều đó khi
xem xét trong quá trình đề cập đến sự vận hành, tác động của nó.
Khi dùng hai chữ “đạo đức”, tức là vừa nói tới mặt bản thể của “đạo” nói chung vừa
nhấn mạnh thêm mặt Dụng. Khi Đạo ở dạng “thể” thì không có tên, nhưng đến
“dụng” (đức) thì có tên. Vạn vật nhờ “đức” mà có tên, phân biệt, lễ nghĩa… Cho nên:
“Mất đạo rồi mới có đức, mất đức rồi sinh nhân, mất nhân sinh nghĩa, mất nghĩa sinh
lễ…” (Đạo đức kinh). Nó ẩn chứa lý lẽ sống chưa hiển lộ.
Ngược lại: “Ta vô vi mà dân tự hóa. Ta vô tình mà dân tự chính. Ta vô dự mà dân tự
giàu. Ta vô dục mà dân chất phác” (sđd, chương 57). Do đó, cần phải xóa bỏ mọi lễ
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 18 -
giáo, pháp luật, văn hóa, kỹ thuật, nghệ thuật… Nói chung, bỏ tất cả những gì do con
người sáng tạo ra trái với bản tính tự nhiên thuần phác.
Tư tưởng “vô vi” chủ trương thực hiện triệt để chính sách ngu dân, “không làm cho
dân sáng mà làm cho dân ngu” (sđd, chương 65); “Trí tuệ sinh thì có đại ngụy” (sđd,
chương 18). Bởi hiểu biết càng nhiều thì trí xảo càng nhiều, trí xảo càng nhiều thì ham
muốn càng nhiều, càng muốn tranh đoạt và xâm phạm lẫn nhau, làm trái với đạo tự
nhiên. Con người càng “theo học thì càng phiền phức, mà theo đạo thì ngày càng bớt,
bớt rồi thì lại bớt, bớt đến mức vô vi” (sđd, chương 48). Cũng như: “Không chuộng
hiền khiến dân không tranh, không trọng vật nên dân không trộm cướp, không thấy
vật đáng ham khiến lòng dân khỏi loạn. Cho nên lối trị dân của bậc thánh nhân là làm
cho dân lòng trống, bụng no, ý chí yếu, xương cốt mạnh, thường khiến dân không
biết, không muốn” (sđd, chương 3).
Bản thân Dương Chu, mặc dù có lúc trọng trí khôn, nhưng ông vẫn bảo: “Trời kia còn
không biết, huống chi là con người”. Hễ “cái gì không biết tại sao, thì gọi đó là mệnh
trời”, “thuận mệnh” tự nhiên (Liệt Tử, chương VI).
Mẫu hình xã hội lý tưởng của Lão Tử là “nước nhỏ, dân ít. Dù khí cụ gấp trăm gấp
chục sức người cũng không dùng đến. Ai nấy đều coi sự chết là hệ trọng nên không đi
đâu xa. Có xe thuyền mà không ai ngồi. Có gươm giáo mà không bao giờ dùng. Bỏ
văn tự, bắt người ta trở lại dùng lối thắt dây ghi dấu thời thượng cổ. Ai nấy đều chăm
chú vào việc ăn no, mặc ấm, ở yên, vui với phong tục của mình. Ở nước này có thể
nghe thấy gà gáy chó sủa của nước kia, nhân dân trong những nước ấy đến già chết
mà vẫn không qua lại lẫn nhau” (Đạo đức kinh, chương 80). Xã hội được cai trị bằng
cách không cai trị, không cai trị mà coi như đã được cai trị… Con người sống tự nhiên
thuần phác, bỏ mọi ham muốn dục vọng, không cần đến cả tri thức, văn hóa hay bất
hơn nước, mà công phá vật rắn mạnh thì không gì hơn được nó, không lấy gì thay thế
được nó” (Lão Tử, Đạo đức kinh, chương 78).
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 20 -
Nếu vi phạm luật quân bình, phá vỡ trạng thái vận động cân bằng của vũ trụ, thì vạn
vật sẽ rối loạn, trì trệ và có nguy cơ bị phá hoại, chẳng khác nào “nhón gót lên thì
không đứng vững, xoạc chân ra thì không bước được…”.
2.2.3.2 Luật phản phục
Quan niệm cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất sẽ trở thành cái đối lập với chính nó; sự
vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của nó thì những tính chất ấy sẽ đi ngược
lại để trở thành tính chất tương phản. Điều đó cần phải hiểu thao hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất tuần hoàn, đều đặn,
nhịp nhàng và tự nhiên của vạn vật, như hết ngày đến đêm, hết đêm sang ngày, trăng
tròn lại khuyết, trăng khuyết lại tròn… Vạn vật cứ mập mờ, thấp thoáng, khi đầy khi
vơi, lúc sinh lúc tử… Đó là vòng biến đổi tuần hoàn bất tận.
Nghĩa thứ hai, phản phục là sự vận động trở về với Đạo (“phản giả đạo chi động”),
“đến chỗ cùng cực hư không là giữ vững được trong cái tĩnh. Vạn vật cùng đều sinh
ra, ta lại thấy nó trở về với gốc. Ôi! Mọi vật đều trùng trùng trở về với cội rễ của nó.
Trở về với cội rễ gọi là tĩnh, thế gọi là quay về với mạng” (Đạo đức kinh, chương 16).
Sự trở về với Đạo của vạn vật chính là sự trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên sơ,
tĩnh lặng, trống rỗng… Đó là tất yếu và không thể cưỡng lại. “Đạo pháp tự nhiên” là
vậy. Mọi sự can thiệp vào Đạo – luật tự nhiên – nhất định sẽ thất bại.
2.3 Ý nghĩa phƣơng pháp luận
Những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia tuy đã được xây dựng cách đây hơn hai
ngàn năm, và tất nhiên có không ít hạn chế, nhưng đến nay vẫn còn ý nghĩa thiết thực
về mặt phương pháp luận, gợi mở cho chúng ta nhiều điều cả trong hoạt động nhận
thức lẫn trong hoạt động thực tiễn.
2.3.1 Ý nghĩa phương pháp luận trong hoạt động nhận thức
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 22 -
Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia đã góp phần chỉ ra cho chúng ta, trong
hoạt động thực tiễn, con người cần phải tôn trọng quy luật khách quan, nắm vững và
vận dụng phù hợp các quy luật tự nhiên vào cuộc sống, nếu không sẽ phải trả giá và
chuốc lấy hậu quả khôn lường, như Lão Tử cảnh báo: “Lưới trời lồng lộng, thưa mà
khó lọt” (Đạo đức kinh, chương 73).
Đặc biệt, Đạo gia yêu cầu trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải “thuận theo
tự nhiên”, không được làm trái quy luật tự nhiên, không được cải tạo tự nhiên theo
những toan tính lợi ích tầm thường của mình. Điều này có tính thời sự đặc biệt và sâu
sắc trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, với thiên tai và dịch bệnh luôn
đe dọa nghiêm trọng, cộng thêm những bất ổn về chính trị - xã hội, một hệ lụy trực
tiếp từ quá trình con người “nhân tạo hóa thiên nhiên”, tạo dựng một nền “văn minh”
không tương thích với bản tính tự nhiên của vũ trụ vạn vật.
Đồng thời, trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải biết quý trọng mọi sự sống
nói chung, gắn với quý trọng môi trường tự nhiên, không được tàn sát sinh vật và hủy
hoại môi trường một cách tùy tiện.
Bên cạnh đó, với việc chỉ ra luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đòi hỏi
con người cần tránh mọi cực đoan, thái quá, nóng vội, chủ quan duy ý chí… Mà phải
luôn luôn tạo dựng sự cân bằng, hợp lý, tự nhiên; khách quan nhưng không ỷ lại, thụ
động trước các điều kiện khách quan, không nên “cầm đèn chạy trước ô tô”…
Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung dung, tự tại,
không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời; không tham
lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi, bon chen, đố kỵ…
Mà cần phải sống hòa nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thản nhiên
mà đến, thản nhiên mà đi”…
Tuy nhiên, nếu xét ngược lại, với những mặt tiêu cực và hạn chế, thì Đạo gia chủ
trương con người không nên tăng cường các hoạt động sáng tạo, không cần mở mang
của Nho gia nguyên thủy cũng không mang tính siêu hình. “Đạo” đây là đạo của thánh
nhân truyền lại, cụ thể là đạo truyền từ Nghiêu Thuấn, là đường đi, là cái lý, cái giá trị,
cái chuẩn mực, v.v. phải theo.
Nội dung của những vần đề về bản thể luận, vũ trụ, thiên địa, quỷ thần, v.v.
trong Nho gia không đủ sâu rộng. Quyển Chu Dịch là một trong những quyển sách
căn bản của Nho gia, chứa nội dung phong phú về hình nhi thượng. Nhưng xét cho
cùng, với nguồn gốc còn chưa được truy cứu rõ ràng, với thời gian hoàn thành được
xác định trong hàng ngàn năm, và là thành quả của công sức nhiều người, nên điều có
thể khẳng định là đây là tác phẩm của phái Dịch học. Đặc biệt, phần Dịch truyện được
viết từ cuối Xuân Thu trở đi, bao gồm cả tư tưởng của Nho và Đạo. Những tác giả
phần Truyện có đem tư tưởng của Nho, Lão “cột” vào phần Kinh, làm cho Chu Dịch
trở thành một tác phẩm triết lý có đủ vũ trụ quan và nhân sinh quan [5:105]. Nho gia
mãi đến đời Tống mới xây dựng hoàn chỉnh Đạo học, có hấp thu tư tưởng của Đạo gia
và Phật học.
Đạo gia quan tâm nhiều đến vũ trụ quan trước khi bàn về nhân sinh quan. Sở dĩ
gọi là Đạo gia, lý do cơ bản là ở chữ “Đạo”. Lão Tử đã xây dựng một học thuyết hoàn
chỉnh về vũ trụ quan. “Đạo” ở đây là khái niệm trừu tượng, là “bản nguyên của vũ
trụ”, “có trước trời đất”, v.v Ở học thuyết của Khổng, phần hình nhi thượng là phần
tinh thần của Khổng giáo, phát hiện ra ở phần hình nhi hạ, tức là phần thiết thực ở đời
[7:69]. Ở học thuyết của Lão, “chỉ Lão Tử mới trình bày rõ ràng một vũ trụ quan làm
cơ sở cho một nhân sinh quan và một chính trị quan mới mẻ; nhân sinh quan và chính
Khoa Tài chính doanh nghiệp GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
HVTH: Lê Thị Tố Quyên MSHV: 55 Nhóm 6 – Lớp : K22_Ngày 4
Trang - 25 -
trị quan chỉ là tự nhiên quy kết của phần vũ trụ quan” [4: 53]. Như vậy, Nho gia đặt
phần nhân sinh quan làm nội dung nền móng, ngược lại, Đạo gia đặt phần vũ trụ quan
làm nền móng.
3.1.2. Hữu vi và vô vi
Hai từ hữu vi và vô vi, về nghĩa đen của từ, chỉ hai trạng thái trái ngược nhau