PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí học thì hơn 90 % người học học tốt là
do học tập chăm chỉ, có phương pháp học tập khoa học, phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh của họ. Thực tế cho thấy nhiều em học sinh rất chịu khó học bài nhưng kết
quả học tập vẫn không cao (đặc biệt, các em học sinh vùng khó khăn thì việc học
tập ở nhà lại càng không được chú ý nhiều) phải chăng do tố chất của các em không
thể học tốt đươc hay vì điều kiện hoàn cảnh, mức độ nhận thức của các em và của
gia đình? Trước thực tế đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải
pháp giúp các em học tập hiệu quả hơn.
Một trong những mấu chốt quan trọng của việc học tốt là phương pháp học
phù hợp với từng học sinh. Vậy làm thế nào để mỗi học sinh, có một phương pháp
học tập phù hợp với mình để việc học tập thật sự nhẹ nhàng mà lại hiệu quả cao?
Để trả lời câu hỏi này, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh
phương pháp học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán 6 của học sinh
lớp 6” để nghiên cứu, làm tài liệu áp dụng vào việc dạy học giúp học sinh học tập
tốt hơn.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Có một điều mà tất cả các nhà nghiên cứu tâm lí học trong và ngoài nước có
thể khẳng định rằng: tất cả mọi người giáo viên không phải ai cũng có năng lực sư
phạm. Chính vì vậy, khi đã là một người giáo viên thì mỗi người đều phải tự trau
dồi kiến thức, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ thường xuyên không ngừng để đáp
được nhu cầu học tập của xã hội trong thời đại ngày càng phát triển như hiện nay.
Tìm hiểu tâm lí của học sinh trung học cơ sở thông qua các hoạt động, trong
việc học tập các em đã ghi nhớ tài liệu học tập như thế nào? Quá trình nhận thức lý
tính tư duy và tưởng tượng ở học sinh được hình thành như thế nào? Các em đã
1
thực sự chú ý trong học tập hay chưa? Nắm bắt được tất cả những thắc mắc trên
thì sẽ giúp một phần không nhỏ cho người giáo viên vững vàng hơn, tự tin hơn khi
nhìn lại phương pháp giảng dạy của mình.
Học sinh vùng khó khăn thì việc học tập của các em thường không được
trong công tác giảng dạy của mình. Người giáo viên không chỉ đơn thuần lên lớp
dạy cho xong bài học của mình theo phân môn, mà người giáo viên trong giờ dạy
của mình phải nắm bắt được khả năng tiếp thu của các em trong lớp, kể cả các em
học kém đến các em khá giỏi. Đặt ra yêu cầu giảng dạy để kết quả học tập từ các
em học sinh kém đến các em khá giỏi đều có khả năng ghi nhớ được tài liệu bài học
hôm nay và là lôi cuốn được sự chú ý của các em vào bài học. Từ sự chú ý và ghi
nhớ đó thì giáo viên mới đặt ra yêu cầu cao hơn là giúp học sinh nhận thức sâu hơn
về bài học. Từ đó, tạo cho các em thói quen học tập và ghi nhớ kiến thức ngay tại
lớp sẽ đạt kết quả tốt hơn.
Chính nhờ sự nhận thức được điều đó mà tôi đã tập trung tìm hiểu, quan sát
các em thông qua các tiết giảng dạy và dự giờ trực tiếp của mình, thông qua các tiết
học của các em. Nhờ sự quan sát trong các giờ như vậy, tôi nhận thấy:
Trong một lớp hay trong một môn học nhất định thì có bao nhiêu em có sự
tập trung chú ý cao vào môn học, bao nhiêu em chưa thật sự chú ý, số em tự cố
gắng để ghi nhớ tài liệu học tập của mình thông qua bài giảng của giáo viên ngay
tại lớp và bao nhiêu em ngoài sự tập trung chú ý ghi nhớ để rồi cố gắng đi sâu hơn
vào bài học bằng những câu hỏi thắc mắc xoay quanh vào bài học. Sau các giờ học
tôi luôn ở lại lớp để tiếp xúc và xem khả năng phần trăm học sinh trong lớp nắm
bắt được bài học và số còn lại tại sao chưa chiếm lĩnh được những tri thức sau bài
3
giảng của giáo viên. Từ thực tế cụ thể đó, tôi đã tìm ra nhiệm vụ nghiên cứu để
hoàn thành đề tài khoa học mà tôi đang nghiên cứu
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Có thể nói phương pháp dạy học thích hợp với tâm lí học sinh để có kết quả
cao hơn đang là vấn đề nổi cộm ở các trường học hiện nay, mà cụ thể là trường
THCS xxx và cũng đang là một câu hỏi lớn đặt ra cho nền giáo dục nước ta. Do
vậy, khi chọn đề tài này tôi đã cố gắng đề ra cho mình những phương pháp nghiên
cứu về một đối tượng nào đó cụ thể. Cũng như tất cả các đề tài khác, khi bắt đầu
nghiên cứu về một đối tượng nào đó người ta thường xây dựng cho mình các
phương án sao cho sát thực, phù hợp với đối tượng để thu được những thông tin
tuổi trưởng thành. Sự chuyển tiếp tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù
về mọi mặt ở thời kì này. Trước hết là sự phát triển nhảy vọt về mặt giải phẫu sinh
lí tạo nên một sự mất cân bằng tạm thời giữa các chức năng sinh lí. Do đó cũng hay
gây ra sự mất cân bằng tạm thời về tâm lí.
Sự phát triển mạnh mẽ của hưng phấn thần kinh tạo ra một sự mất cân bằng
tạm thời so với sự phát triển của cơ thể, có sự mất cân đối giữa phần dưới vỏ não
(có xu hướng phát triển nhanh hơn và mãnh liệt hơn) so với hoạt động của vỏ não.
Từ đó cũng dẫn đến sự mất cân bằng tạm thời giữa hai hệ thống tín hiệu.
Việc học tập ở trường THCS là một bước ngoặt trong đời sống của các em
mà điểm đầu của bước ngoặt đó là khi các em bước vào lớp 6. Các em được tiếp
cận với nhiều kiến thức hơn của nhiều môn học khác nhau và với những giáo viên
có những phong cách giảng dạy, có thái độ và yêu cầu khác nhau đối với học
sinh Các em phải thích nghi với những yêu cầu mới và khác nhau của giáo viên.
Ban đầu, sự thay đổi này sẽ tạo ra những khó khăn nhất định cho các em. Nhưng
mặt khác, nó cũng tạo ra điều kiện để cho các em phát triển dần phương thức nhận
thức người khác.
Ở tuổi này, khả năng cảm giác, tri giác đã đạt tới trình độ phát triển gần như
người lớn. Tri giác có chủ định phát triển mạnh mẽ và thể hiện ở chỗ các em đã có
6
khả năng tự đặt cho mình mục đích, kế hoạch và nhiệm vụ quan sát, biết phân tích
tổng hợp đối tượng tri giác có chủ định. Trong một số trường hợp, các em có thể tri
giác phân biệt một cách tinh tế, sâu sắc về mọi mặt.
Về trí nhớ của học sinh: dần dần mang tính chất của những quá trình có
điều kiện, điều chỉnh và có tổ chức. Trong ghi nhớ, các em thiết lập được các mối
liên hệ phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu cũ, biết liên hệ tri thức giữa các
môn học. Nhưng tiến bộ đáng kể là các em có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa. Tùy
theo yêu cầu, nhiệm vụ của bài học các em biết chọn cách ghi nhớ lâu hơn, đúng
hơn.
Mặc dù có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa, nhưng các em vẫn tùy tiện trong
việc ghi nhớ: khi gặp khó khăn là các em lại từ bỏ việc ghi nhớ có ý nghĩa. Đồng
nói chung, của huyện nhà cũng như của nhà trường nói riêng ngày một đi lên.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Nghiên cứu
+ Đặc điểm tâm lí lứa tuổi
Với người lớn tuổi, kinh nghiệm sống, sự thông thái và kĩ năng giải quyết
vấn đề thực tiễn cao, tư duy con đường tích hợp tốt, tồn tại nhiều loại năng lực trí
tuệ khác nhau, ghi nhớ chậm nhưng hình ảnh ghi nhớ bền.
Với lứa tuổi học sinh ( 11 - 15 tuổi) thì đây là lứa tuổi rất hiếu động, tò mò,
khả năng phán đoán phân tích còn yếu, tư duy cụ thể dựa vào khả năng tri giác
nhiều, quá trình ghi nhớ diễn ra nhanh nhưng lại chóng quên.
+ Thời gian đồng hồ sinh học của con người:
8
Theo kinh nghiệm bản thân và kết hợp điều tra cho thấy khoảng thời gian
ghi nhớ tốt nhất là vào buổi sáng:
+ Tâm thế ghi nhớ
Khả năng chú ý có vai trò rất lớn trong quá trình ghi nhớ. Tôi đã đặt câu hỏi
trắc nghiệm trong quá trình ghi nhớ như sau: Nếu cho em một cuốn chuyện hay, dài
khoảng 20 trang mà em rất thích, đọc xong em có nhớ không? Nếu đang đọc dở mà
em phải ngừng đọc thì em có tiếp tục cố gắng trong thời gian ngắn nhất lại tiếp tục
đọc không?
40/45 học sinh trả lời: Có chiếm 88,9 %
5/45 học sinh trả lời là Không chiếm 11,1%
Vậy, cho em một công thức toán hay một bài địa lí em có chắc chắn chỉ đọc
1 - 2 lần là thuộc và nhớ không? Đang học dở buộc phải ngừng em có tìm mọi
cách để tiếp tục học không? ( chưa yêu cầu kiểm tra ngay)
45/45 em ( 100%) trả lời là Không
Từ kết quả nghiên cứu trên, tôi phân tích và tiến hành các biện pháp cụ thể:
1) Hướng dẫn ghi nhớ cho lớp
Khi học trên lớp ở mỗi tiết học, các em nên có ý thức thành lập thói quen tự
học bài ngay trên lớp, không nên có tư tưởng chỉ cần ghi chép đầy đủ về học lại.
2 tiếng đồng hồ và chia làm hai phần học một cách rõ ràng.
- Phần 1: Hiểu lại
10
Sau mỗi buổi học trên lớp, khi về nhà các em nên xem lại toàn bộ bài học
hôm đó, có thể làm một số bài tập đơn giản hoặc làm lại các bài tập trên lớp để các
em nhớ được và hiểu hơn về bài học. Việc làm này rất nhẹ nhàng, chỉ cần 15-20
phút thôi nhưng rất hiệu quả.
- Phần 2: Chuẩn bị bài cũ
Học sinh xem hôm sau có những môn học nào thì lấy những môn đó ra học,
làm bài tập và chuẩn bị đồ dùng đầy đủ.
Với đặc điểm học sinh tập trung theo từng khu vực tôi có định hướng cho
các em theo cách học nhóm: trước hết mỗi em tự học độc lập sau đó các em cùng
tập trung để đối chiếu, trao đổi, thảo luận bài làm của mỗi em, Cách học này các
em rất hứng thú vì các em vừa được tự mình làm bài tập, vừa được trao đổi, thảo
luận và dạy lại cho bạn, rất thoải mái, không gò bó đồng thời khả năng khẳng định
mình cũng như tâm lí xấu hổ sẽ giúp các em có tâm lí học tập tốt hơn, vì vậy kết
quả sẽ cao hơn.
Phân bố thời gian biểu học tập, việc xắp sếp lịch học, môn học cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả ghi nhớ học tập của các em. Việc phân bố quỹ thời
gian học tập nên như sau:
Buổi chiều hoặc đầu giờ học tối: dành 10 - 15 phút cho bài vừa học trên lớp
(học lại). Đọc nội dung bài ngày mai để phận loại bài khó, dễ, thời lượng. Làm bài
tập tóm tắt nội dung bài bằng sơ đồ. Đọc qua một lượt bài học thuộc lòng trước khi
đi ngủ.
Sáng sớm: dậy sớm dành 30 - 40 phút học các bài thược lòng, ghi nhớ định
lí chuẩn bị cho bài học hôm đó.
Việc phân bố thời gian như vậy phù hợp với đặc điểm sinh học của con
người và đặc trưng môn học.
3) Đọc ghi nhớ tài liệu sách giáo khoa, sách tham khảo:
11
hiệu quả của công việc này người giáo viên cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa
có liên quan đến việc tự đọc tài liệu ghi nhớ của các em.
Từ thực trạng và giải pháp trên, tôi đã đưa ra 6 yêu cầu cho việc học tốt đối
với học sinh như sau:
1) Vạch kế hoạch: học tập và làm việc có hệ thống, nghiên cứu điều gì nên
làm trước, điều gì nên làm sau.
2) Học vào lúc nào cảm thấy có lợi nhất cho môn học
3) Hiểu rõ các ghi chép, tìm ra ý tưởng quan trọng mà thầy cô đã nhấn
mạnh, lưu ý các “Chú ý”
4) Học một cách chủ động, không nên “học như vẹt”
5) Ghi chú cẩn thận, ghi ngắn, đủ, dễ hiểu.
6) Luôn học tại bàn.
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÀI HỌC
Thời gian tôi dạy tại trường THCS xxx là 5 năm. Thời gian đó tuy chưa
dài nhưng cũng đã giúp tôi “vỡ vạc” ra nhiều điều.
Về công tác giảng dạy: để giảng dạy đạt kết quả cao thì không chỉ soạn bài
tốt, giảng bài hay, chuẩn bị bài chu đáo của giáo viên mà cần sự nỗ lực hăng hái
trong học tập của học sinh. Để làm được điều đó thì không có việc gì ngoài nắm rõ
tâm lí, năng lực, phong trào học tập của các em học sinh trong lớp để có hình thức
tổ chức học tập, phương pháp học tập khoa học nhất cho từng đối tượng học sinh.
Đối với học sinh khối 6 trường THCS xxx , qua gần một năm tôi trực tiếp
giảng dạy môn Toán, thực nghiệm đã chứng minh việc áp dụng đề tài của tôi đã có
hiệu quả. Kết quả cụ thể:
13
+ Các tiết học môn Toán rất sôi nổi, học sinh tích cực phát biểu ý kiến xây
dựng bài.
+ 100% học sinh khối 6 được hỏi đều trả lời: Thích học môn Toán
+ Số học sinh kiểm tra định kỳ đạt điểm khá - giỏi tăng đáng kể so với cùng
kỳ của học kỳ I:
- Bài kiểm tra số 1 học kỳ I có 5 điểm khá - giỏi
tỉnh.
15
- Đề nghị Phòng GD&ĐT quan tâm, trang bị cho nhà trường một số thiết bị
dạy học, là thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin như: máy chiếu và các thiết bị
liên quan khác.
2. Với BGH nhà trường
- Hiện nay, nhà trường đã có một số sách tham khảo tuy nhiên có vẻ như
chưa đầy đủ. Vì vậy nhà trường cần quan tâm hơn nữa về việc trang bị thêm sách
tham khảo môn Toán trong thư viện nhà trường. Xây dựng thêm phòng đọc theo
yêu cầu của bạn đọc (học sinh) để học sinh được tìm tòi, học tập khi giải toán để
các em có thể tránh được những sai lầm trong khi làm bài tập và nâng cao hứng
thú, kết quả học tập môn toán nói riêng, nâng cao kết quả học tập của học sinh nói
chung.
3. Với PHHS
- Quan tâm việc tự học, tự làm bài tập ở nhà của con cái. Thường xuyên
kiểm tra sách, vở và việc soạn bài trước khi đến trường của các con
16