Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997 đến 2010 - Pdf 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

CHU THỊ TÂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 1997 - 2010

NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 1997 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thái nguyên - 2013 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


Thái nguyên - 2013

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
CHU THỊ TÂN


Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Ngƣời thực hiện Chu Thị Tân XÁC NHẬN CỦA TRƢỞNG KHOA CHUYÊN MÔN Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

ii LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS Nguyễn Ngọc Cơ đã tận
tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Khoa Sau đại
học Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp

NGHIỆP KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 8
GIAI ĐOẠN 1997 - 2010 8
1.1. Vài nét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8
1.1.1. Vị trí địa lý 8
1.1.2. Điều kiện tự nhiên 12
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 16
1.2.1. Kinh tế 16
1.2.2. Xã hội 18
1.3. Tài nguyên khoáng sản 21
1.3.1. Khoáng sản năng lượng 23
1.3.2. Khoáng sản kim loại 23
1.3.3. Nhóm khoáng sản phi kim loại: 24
1.3.4. Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng 25
1.3.5. Nước khoáng 26
Chƣơng 2. HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở TỈNH
THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 28
2.1. Xây dựng cơ sở hạ tầng 28
2.1.1. Xây dựng cơ sở hạ tầng 28
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

iv
2.1.2. Nguồn lao động 32
2.2. Khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái nguyên từ năm 1997 - 2010 . 33
2.2.1. Các đơn vị tham gia khai thác khoáng sản 34
2.2.2. Quy trình khai thác các loại khoáng sản 37
Chƣơng 3. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NGÀNH 78
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 78
3.1. Tác động tích cực 78
3.1.1. Kinh tế 78

KHTN : Khoa học tự nhiên
KHXH : Khoa học xã hội
KL : Kim loại
KTM : Khai thác mỏ
HTX : Hợp tác xã
KT-XH : kinh tế xã hội
LD : Liên doanh
LK : Lỗ khoan
MTV : Một thành viên
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

v
Q : Quặng
QĐ : Quyết định
QL : Quốc lộ
SK : Sa khoáng
SL : Sản lượng
SN : Sáp nhập
STT : Số thứ tự
T : Tấn
TDMNBB : Trung du miền núi Bắc Bộ
TDMNPB : Trung du miền núi phía Bắc
TM : Trách nhiệm hữu hạn thương mại
TN : Tư nhân
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TT & CN : Thông tin và công nghệ
UBND : Ủy ban nhân dân
XDCB : Xây dựng cơ bản
XN : Xí nghiệp
XNK : Xuất nhập khẩu

Bảng 3.6: Sản lượng quặng trong nhóm khoáng chất công nghiệp và giá trị
sản xuất công nghiệp từ năm 1995 đến 2010 81
Bảng 3.7: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành
công nghiệp 81

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Lược đồ mạng lưới giao thông tỉnh Thái Nguyên 31
Hình 2.2. Bản đồ phân bố một số mỏ than 42
Hình 2.3: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác lộ thiên ở mỏ than
Khánh Hòa 44
Hình 2.4: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác hầm lò ở mỏ than Khánh Hòa 47
Hình 2.5: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác than lộ thiên mỏ than Núi Hồng 49
Hình 2.6: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác hầm lò mỏ Làng Cẩm 51
Hình 2.7: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác than thủ công mỏ Làng Cẩm 53
Hình 2.8. Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác lộ thiên mỏ Phấn Mễ 55
Hình 2.9: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác lộ thiên mỏ than Bá Sơn 57
Hình 2.10: Sơ đồ quy trình và công nghệ khai thác hầm lò mỏ than Bá Sơn 57
Hình 2.11: Sơ đồ phân bố các mỏ khoáng sản làm VLXD tỉnh Thái Nguyên 71
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia nói chung,
của một địa phương nói riêng tài nguyên khoáng sản đóng một vai trò quan
trọng. Việt Nam là một nước giàu tài nguyên khoáng sản như than, sắt, đồng.

Thái Nguyên là một trong những tỉnh có trữ lượng khoáng sản lớn nhất
ở Việt Nam. Đặc biệt là các khoáng sản phục vụ cho ngành luyện kim và chế
biến vật liệu xây dựng như sắt, chì, kẽm, titan, than, đá, sét… Với tiềm năng
lớn về khoáng sản, trên địa bàn tỉnh có rất nhiều cơ sở khai thác, chế biến
khoáng sản có quy mô từ nhỏ đến lớn. Nhiều mỏ kim loại màu, kim loại đen,
mỏ than, mỏ đá, mỏ sét đã, đang và sẽ được khai thác trong tương lai. Và tài
nguyên khoáng sản là một trong những thế mạnh trong sự phát triển kinh tế
của tỉnh.
Trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh Thái Nguyên đạt tốc độ
phát triển cao (Tổng GDP 8 - 14%/năm). Sự tăng trưởng đó có một phần
không nhỏ sự đóng góp của ngành công nghiệp khai thác và chế biến
khoáng sản. Theo quy hoạch phát triển từ nay đến năm 2020 tốc độ tăng
trưởng GDP của Thái Nguyên 12 - 15%/năm. Cao hơn mức tăng trưởng
của cả nước (8 - 9%) [21, tr 5-18]. Trong đó ngành công nghiệp khai thác
và chế biến khoáng sản chiếm một tỷ trọng lớn.
Trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010, ngành khai khoáng đã có
những đóng góp to lớn trong ngành công nghiệp cũng như nền KT - XH của
tỉnh Thái Nguyên. Nhưng bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động khai thác
khoáng sản ở Thái Nguyên bộc lộ những mặt tiêu cực. Việc khai thác diễn ra
bừa bãi cùng với đó là công nghệ lạc hậu cơ sở kĩ thuật chưa được đầu tư lớn
và có kế hoạch nên đã gây ra tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên, làm thay
đổi cảnh quan địa hình, thu hẹp diện tích đất trồng và đất rừng, gây ô nhiễm
môi trường, phá vỡ môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên làm ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân đang được toàn xã hội quan tâm.
Trong thời gian 13 năm hiệu quả khai thác sản xuất và thu nhập của
người lao động đã được tăng lên. Tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

3
động tại địa phương, góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước, địa phương

đã cho biết những nét chi tiết hơn về bể than Phấn Mễ - Thái Nguyên và sự ra đời
của các công ty khai thác than ở Thái Nguyên thời kỳ thuộc địa.
Trong những năm gần đây, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Ban
nghiên cứu lịch sử Đảng, Đảng bộ Công ty Gang Thép Thái Nguyên và các mỏ
trong tỉnh liên tục chỉnh lý, biên soạn công phu hơn Lịch sử Đảng bộ tỉnh, các đặc
san kỷ niệm ngày truyền thống. Đáng chú ý là ba công trình xuất bản năm 2003: 40
năm mỏ sắt Trại Cau, Công ty Gang Thép Thái Nguyên (1959 - 2003), Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, tập 1 (1936 - 1965). Các công trình trên cho thấy những
nét sơ lược về đời sống, phong trào đấu tranh và vai trò của giai cấp công nhân mỏ
Thái Nguyên trong cách mạng giải phóng dân tộc.
Luận án “Công nghiệp khai thác mỏ của tư bản Pháp ở Thái Nguyên
(1906 - 1945)” được công bố năm 2008 của TS. Hà Thị Thu Thủy. Công trình
đã tìm hiểu cơ sở hạ tầng hình thành công nghiệp khai thác mỏ của tư bản
Pháp ở Thái Nguyên; hoạt động khai thác mỏ của tư bản Pháp ở các khâu từ
xây dựng cơ sở hạ tầng, chuẩn bị nhân công và hệ thống các mỏ than, kẽm,
sắt. Luận án cũng nêu lên những tác động của hoạt động khai thác mỏ của tư
bản Pháp đến KT - XH tỉnh Thái Nguyên.
Năm 2009, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn Địa chí Thái Nguyên
của Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Thái Nguyên. Trong cuốn sách này, vấn
đề tiềm năng khoáng sản ở Thái Nguyên được đề cập trong phần Địa chất và
Khoáng sản. Ngoài ra, tình hình khai thác khoáng sản ở Thái Nguyên cũng
được khái quát sơ bộ trong phần kinh tế công nghiệp.
Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu hoạt động khai thác than ở tỉnh Thái
Nguyên trên quan điểm phát triển bền vững” của Dương Thị Lan năm 2010.
Luận văn đã tìm hiểu đặc điểm khoáng sản than ở Thái Nguyên; phân tích
hiện trạng cũng như tác động từ khai thác than đến KT - XH và môi trường
của tỉnh, đồng thời đưa ra định hướng phát triển bền vững của hoạt động khai
thác than ở Thái Nguyên.
Những công trình trên của các tác giả rất có giá trị giúp cho tôi hoàn
thiện đề tài nghiên cứu của mình.

từ năm 1997 đến nay. Trong đó luận văn chú trọng đến những tài liệu sau:
- Các tác phẩm chuyên khảo đã được công bố và ban hành; các tạp chí
chuyên ngành; báo; tạp chí địa phương; các báo cáo tổng kết của các mỏ trên
địa bàn tỉnh.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

6
- Các báo cáo, Nghị quyết, đề án, điều luật về ngành khoáng sản của
Thủ tướng Chính phủ, Đảng bộ Thái Nguyên, Sở Công thương (Công nghiệp)
Thái Nguyên, Sở Tài nguyên môi trường.
- Hệ thống niên giám thống kê, Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên phần về
khai thác khoáng sản từ năm 1997 đến năm 2010.
- Ngoài ra luận văn còn kế thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính
đó là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài ra, luận văn còn được
sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp vì trong quá trình thực hiện đề tài,
tác giả thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau một cách có chọn lọc để
đảm bảo tính chính xác về đối tượng nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tác giả tiến
hành phân tích, xử lý các số liệu thu thập phục vụ cho mục đích nghiên cứu
của đề tài. Ngoài ra các phương pháp khác như thống kê, so sánh, lập bảng,
biểu đồ, lược đồ, điền dã cũng được kết hợp sử dụng trong luận văn.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ Thái Nguyên là tỉnh miền núi có nhiều tài nguyên
khoáng sản như than, quặng sắt, chì, kẽm, các loại vật liệu xây dựng…
- Luận văn trình bày hiện trạng khai thác khoáng sản. Qua đó chỉ ra
những tác động của hoạt động khai khoáng đến tình hình KT - XH ở tỉnh
Thái Nguyên từ năm 1997 đến 2010.
6. Bố cục của luận văn


Dưới thời thuộc Minh (1407 - 1428), vào năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407),
trấn Thái Nguyên được đổi thành phủ Thái Nguyên, trực thuộc ty Bố Chính,
lãnh 11 huyện. Năm Vĩnh Lạc thứ 6 (1408), thăng làm phủ. Năm thứ 17 nhập
huyện Tư Nông vào huyện An Định, huyện Đồng Hỷ vào huyện Phú Lương,
huyện Đại Từ vào huyện Tuyên Hoá.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

9
Năm 1428, sau khi giành thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vương
triều Lê được thành lập. Vua Lê Thái Tổ lên ngôi chia cả nước thành 5 đạo gồm:
Tây Đạo, Bắc Đạo, Đông Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo, Thái Nguyên thuộc
Bắc Đạo. Năm 1466, vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên,
đổi lộ thành phủ, đổi trấn thành châu, Thái Nguyên được gọi là Thái Nguyên
thừa tuyên. Đến năm 1469, Thái Nguyên thừa tuyên được đổi thành thừa tuyên
Ninh Sóc. Đến năm 1483, thừa tuyên Ninh Sóc được đổi thành xứ Thái Nguyên
với 3 phủ, 7 huyện, 6 châu. Thời Lê Trung Hưng Thái Nguyên đổi lại là trấn.
Năm 1667, phủ Cao Bằng tách khỏi Thái Nguyên, trấn Thái Nguyên còn hai phủ
là phủ Phú Bình và Thông Hóa.
Sang đầu thời Nguyễn Thái Nguyên vẫn gọi là trấn, sau khi vua
Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính cả nước chia thành 12 tỉnh và từ
năm 1831, Thái Nguyên chính thức gọi là tỉnh. Năm 1835, châu Định và ba
huyện là Văn Lãng, Đại Từ, Phú Lương được tách ra thành phủ Tòng Hoá.
Thái Nguyên lúc này có 3 phủ là Phú Bình, Tòng Hóa và Thông Hóa. Với 9
huyện, 2 châu, 81 tổng, 371 xã, thôn, phường.
Năm 1890, huyện Bình Xuyên thuộc phủ Phú Bình cắt chuyển và sáp
nhập vào tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Các huyện còn lại của
phủ Phú Bình và phủ Tòng Hoá tách khỏi tỉnh Thái Nguyên để góp phần
tạo nên Tiểu khu Thái Nguyên (một trong 3 tiểu khu thuộc đạo Quan binh
I Phả Lại thành lập ngày 9/9/1891). Huyện Cảm Hoá thuộc phủ Thông Hoá
trước kia nay bị tách ra để trở thành bộ phận của Tiểu khu Cao Bằng.

Về vị trí địa lý tự nhiên, Thái Nguyên có hai lợi thế: thứ nhất là nằm ở
vị trí trung tâm vùng TDMNPB, và thứ hai là nằm ở khu vực có tài nguyên
khoáng sản có ích với trữ lượng khá lớn, đủ để phát triển công nghiệp, đã
được khai thác để phát triển ngành luyện kim đầu tiên trong cả nước.
Về vị trí địa lý kinh tế, chính trị, Thái Nguyên là một trong những
trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng TDMNBB và là cửa ngõ giao
lưu KT - XH giữa vùng TDMNBB với vùng đồng bằng sông Hồng.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

11
Thái Nguyên là đầu mối giao thông nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh
miền núi phía Bắc, có vị trí quan trọng về quốc phòng - an ninh, là vành đai
bảo vệ cho thủ đô Hà Nội. Trước đây và hiện nay, tỉnh Thái Nguyên vẫn được
Chính phủ coi là trung tâm văn hóa và kinh tế của các dân tộc phía Bắc; là
trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ ba trong cả nước với 8 trường đại học,
16 trường cao đẳng, trung học và dạy nghề; có bệnh viện đa khoa khu vực, đồng
thời cũng là trung tâm công nghiệp cơ khí luyện kim lớn của cả nước.
Thái Nguyên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và là trung
tâm kinh tế các tỉnh trung du đồng bằng Bắc Bộ (gồm Cao Bằng, Bắc Kạn,
Thái Nguyên, Tuyên Quang); có mối liên hệ với vùng tam giác kinh tế phát triển
mạnh là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Trong tương lai, Thái Nguyên sẽ
nằm trong vùng tứ giác tăng trưởng kinh tế là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh -
Thái Nguyên, phát triển dọc QL 18 nối vùng Tây Bắc, Việt Bắc với cảng nước sâu
Cái Lân và đường cao tốc QL 5 nối với cảng Hải Phòng.
Nhờ có vị trí địa lý kinh tế, chính trị, mà mạng lưới giao thông kết nối
tỉnh Thái Nguyên với bên ngoài rất thuận lợi. Tỉnh Thái Nguyên có hệ thống
đường bộ, đường sắt, đường sông hình dẻ quạt với thành phố Thái Nguyên là
đầu mối. Đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn
bộ tỉnh Thái Nguyên chạy qua thành phố Thái Nguyên là cửa ngõ phía Nam
nối Thái Nguyên với Hà Nội, với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và với các

C, thời kỳ lạnh (nhiệt độ trung bình tháng
dưới 18
0
C) chỉ trong 3 tháng.
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.500mm, cao nhất
vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Tổng lượng nước mưa tự nhiên của tỉnh
Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4 tỷ m
3
/năm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố
không đều theo thời gian và không gian. Theo không gian, lượng mưa tập
trung nhiều ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại huyện
Võ Nhai, Phú Lương lượng mưa tập trung ít hơn. Theo thời gian, lượng mưa
tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng
lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm nên thường
gây ra những trận lũ lụt lớn. Vào mùa đông, đặc biệt là tháng 12, lượng mưa
trong tháng chỉ bằng 0,5% lượng mưa cả năm.
Do địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam nên khí hậu của tỉnh vào
mùa đông được chia thành ba vùng: vùng lạnh nhiều nằm ở phía Bắc huyện
Võ Nhai; vùng lạnh vừa gồm huyện Định Hoá, Phú Lương, Nam Võ Nhai;
vùng ấm gồm các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã
Sông Công và thành phố Thái Nguyên.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

13
Nhìn chung, điều kiện khí hậu - thuỷ văn của tỉnh Thái Nguyên tương
đối thuận lợi về các mặt để có thể phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền
vững, thuận lợi cho phát triển các ngành nông, lâm nghiệp nói chung. Tuy vậy,
vào mùa mưa với lượng mưa tập trung lớn thường xảy ra thiên tai như sạt lở,
trượt đất, lũ quét ở một số triền đồi núi và lũ lụt ở khu vực dọc theo lưu vực
sông Cầu và sông Công.

Các kiểu cảnh quan hình thái địa hình núi thấp được cấu tạo bởi năm loại đá
chính là đá vôi, đá trầm tích biến chất, đá bazơ và siêu bazơ, đá trầm tích
phun trào và đá xâm nhập axít.
Nhiều cảnh quan có cấu tạo xen kẽ các loại đá trên. Trước đây, phần
lớn diện tích nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp có lớp phủ rừng
nhưng hiện nay lớp phủ rừng đang bị suy giảm.
Nhóm địa hình nhân tác ở Thái Nguyên chỉ có một kiểu là các hồ chứa
nhân tạo, trong đó các hồ lớn nhất là hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây
Si, Ghềnh Chè Hiện tại, trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng trên 200 hồ chứa
các loại với tổng diện tích mặt nước gần 6.000 ha. Đây là điều kiện thuận lợi
cho tỉnh trong việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt. Một số hồ lớn
như hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Ghềnh Chè, Bảo Linh là những điểm đến hấp
dẫn về du lịch sinh thái.
Như vậy, cảnh quan hình thái địa hình Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng.
Tuy nhiên, muốn khai thác, sử dụng tốt cần tính đến đặc tính của từng kiểu cảnh
quan, đặc biệt là các kiểu cảnh quan đồi núi chiếm phần lớn diện tích của tỉnh.
1.1.2.3. Địa chất
Kiến tạo địa chất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có nhiều hệ tầng phân
bố theo nhiều hướng khác nhau, vì thế, khai thác khoáng sản lộ thiên có nhiều
thuận lợi hơn so với khai thác hầm lò.
Trong bản chú giải bản đồ địa chất và khoáng sản đã liệt kê tới 28 hệ
tầng, phức hệ địa chất. Hầu hết các hệ tầng nằm ở phía Bắc của tỉnh có hướng
thiên về Đông Bắc - Tây Nam, trong khi các hệ tầng ở phía Nam của tỉnh
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/

15
lại thiên về hướng Tây Bắc - Đông Nam. Với điều kiện địa chất như vậy,
Thái Nguyên có nhiều loại khoáng sản, cả nhiên liệu, kim loại và phi kim loại.
Tuy nhiên, chất lượng quặng không cao và ít loại khoáng sản có trữ lượng lớn.
1.1.2.4. Thổ nhưỡng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status