Số hóa bởi trung tâm học liệu
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC HOÀNG VIỆT DŨNG
ĐẶC ĐIỂM TĂNG HUYẾT ÁP Ở NGƢỜI
CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA TẠI PHÒNG KHÁM
QUẢN LÝ SỨC KHỎE CÁN BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 60 72 01 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Trịnh Xuân Tráng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iii
Lời cảm ơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo sau
Đại học, Bộ môn Nội Trường Đại Y - Dược Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu, Bộ môn Y học Cổ truyền
Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập.
Tôi xin cám ơn: Lãnh đạo Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh
Thái Nguyên đã cộng tác, giúp đỡ tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Trịnh Xuân Tráng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tại
nhà trường.
Tôi xin cám ơn: Các thầy, cô giáo Bộ môn Nội, các bộ môn liên quan đã
tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: Gia đình, bạn bè, các bạn đồng
nghiệp cùng tập thể anh chị em học viên lớp cao học Nội K15 đã động viên,
ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Tác giả
Hoàng Việt Dũng
Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TMCT
Thiếu máu cơ tim
VE
Vòng eo
VM
Vòng mông
WHO
Tổ chức Y tế thế giới (Word Health Organization )
WHR
Tỉ lệ vòng bụng/vòng mông (Waist-hip ratio)
YTNC
Yếu tố nguy cơ
Số hóa bởi trung tâm học liệu
v
MỤC LỤC
Trang
Đặt vấn đề 1
Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu 3
1.1. Tình hình bệnh tăng huyết áp ở trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2. Hội chứng chuyển hóa 16
1.3. Tăng huyết áp và hội chứng chuyển hóa. 27
Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu 30
2.2. Thời gian và địa điểm 30
2.3. Phương pháp nghiên cứu 30
2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.5. Một số tiêu chuẩn được áp dụng trong nghiên cứu 33
2.6. Kỹ thuật thu thập số liệu 36
2.7. Phương tiện nghiên cứu 39
Bảng 1.1. Phân loại huyết áp cho người trưởng thành ( 18 tuổi) theo
JNC VI (Joint National Committee VI) 3
Bảng 1.2. Định nghĩa và phân loại huyết áp theo WHO - ISH 4
Bảng 1.3. Phân dộ huyết áp 4
Bảng 1.4. Chẩn đoán lâm sàng HCCH theo tiêu chuẩn NCEP-ATPIII 18
Bảng 2.1. Phân độ huyết áp 33
Bảng 2.2. Ngưỡng cắt BMI chẩn đoán thừa cân và béo phì 34
Bảng 3.1. Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.2. Tỉ lệ sử dụng rượu/bia và thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 42
Bảng 3.3. Đặc điểm sử dụng rượu bia ở bệnh nhân mắc HCCH có THA
và không THA 43
Bảng 3.4. Đặc điểm hút thuốc lá ở bệnh nhân mắc HCCH có THA và
không THA 44
Bảng 3.5. Đặc điểm hoạt động thể lực ở bệnh nhân mắc HCCH có THA
và không THA 44
Bảng 3.6. Đặc điểm THA và không THA ở bệnh nhân có HCCH phân bố
theo giới 45
Bảng 3.7. Đặc điểm THA và không THA ở bệnh nhân có HCCH phân bố
theo nhóm tuổi 45
Bảng 3.8. Tỉ lệ tăng chỉ số BMI và WHR ở bệnh nhân THA và không
THA có HCCH 46
Bảng 3.9. Đặc điểm huyết áp ở bệnh nhân THA có hội chứng chuyển hóa
46
Bảng 3.10. Biến đổi điện tim ở bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa có
tăng huyết áp 47
Số hóa bởi trung tâm học liệu
viii
Bảng 3.11. Tỉ lệ xuất hiện các tiêu chuẩn của hội chứng chuyển hóa ở
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tiến hành nghiên cứu 31
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1. Đặc điểm giới của đối tượng nghiên cứu 41
Biểu đồ 3.2. Đặc điểm dân tộc của đối tượng nghiên cứu 42
Biểu đồ 3.3. Tỉ lệ mắc tăng huyết áp ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa 43
Số hóa bởi trung tâm học liệu
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là bệnh tim mạch phổ biến trong cộng đồng hiện nay.
Bệnh gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như: tai biến mạch máu não, thiếu
máu cơ tim, suy tim, suy thận… Trên thế giới, ở các nước đang phát triển, tỉ
lệ bệnh tăng huyết áp ở người lớn chiếm khoảng gần 30,0% dân số và có trên
nửa dân số trên 50 tuổi có tăng huyết áp [58]. Ở Việt Nam, tỉ lệ THA vào năm
1982 là 11,7% [29], sau đó đã nhanh chóng tăng lên 27,2% vào năm 2008 [5].
Tăng huyết áp là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán của hội chứng
chuyển hóa. Đây là một chuỗi các bất thường vể chuyển hoá bao gồm béo
bụng, rối loạn chuyển hoá lipid máu, tăng huyết áp và rối loạn dung nạp
glucose [48]. Hội chứng chuyển hóa là một trong những mối quan tâm hàng
đầu trong thế kỷ XXI, đây là tập hợp các yếu tố nguy cơ dẫn đến hai bệnh lý
chính là bệnh tim mạch và đái tháo đường týp 2. Tỉ lệ mắc hội chứng chuyển
hóa gia tăng ngày càng mạnh mẽ khắp thế giới đặc biệt ở các nước đang phát
triển, do sự phát triển về kinh tế và những thay đổi về lối sống [48].
Tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở Mỹ vào năm 2002 là 21,8% [54]; tại Ý vào
năm 2005 là 22,3% ở nam và 27,2% ở nữ đối với những người ≥ 20 tuổi [63].
của bệnh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm tăng huyết áp ở
người có Hội chứng chuyển hoá tại Phòng khám, quản lý sức khỏe cán bộ
tỉnh Thái Nguyên” với 02 mục tiêu:
1. Xác định một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tăng huyết áp
ở người có hội chứng chuyển hoá tại phòng khám quản lý sức khỏe cán bộ
tỉnh Thái Nguyên.
2. Mô tả mối liên quan giữa huyết áp và một số đặc điểm của hội chứng
chuyển hoá.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình hình bệnh tăng huyết áp ở trên Thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Tổ chức y tế thế giới (Word Health Organization - WHO) và Hiệp
hội tăng huyết áp quốc tế (International Society of Hypertension - ISH) đã
thống nhất đưa ra định nghĩa về tăng huyết áp (THA) như sau: “Tăng huyết áp
được xác định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm
trương ≥ 90 mmHg” [4], [66].
1.1.2. Phân loại tăng huyết áp
Có nhiều cách phân loại THA như phân loại THA của WHO – ISH [79]
hay cách phân loại của Liên ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá
và điều trị THA Hoa Kỳ (Joint National Committee – JNC) [66]. Nhiều tác
giả theo trường phái Mỹ sử dụng phân loại theo JNC VI, vì nó đơn giản và có
tính chất thực hành, cảnh báo nguy cơ các biến chứng THA nhiều hơn [66].
Bảng 1.1. Phân loại huyết áp cho người trưởng thành (≥ 18 tuổi)
theo JNC VI (Joint National Committee VI )
Phân loại
Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Đến năm 1999, WHO-ISH đã đưa ra cách phân loại THA mới: Họ chọn
từ “độ” thay cho từ “giai đoạn” vì từ “giai đoạn” chỉ sự tiến triển theo thời
gian, do đó không phù hợp cho phân độ.
Bảng 1.2. Định nghĩa và phân loại huyết áp theo WHO-ISH
Phân loại
HATT (mmHg)
HATTr (mmHg)
HA tối ưu
< 120
< 80
HA bình thường
< 130
< 85
HA bình thường cao
130 – 139
85 - 89
THA giới hạn
140 – 149
90 - 94
THA độ I (“mức độ nhẹ”)
150 – 159
90 - 99
THA độ II (“mức độ trung bình”)
160 – 179
100 - 109
THA độ III (“mức độ nặng”)
≥180
85 - 89
THA độ I
140 – 159
và/hoặc
90 - 99
THA độ II
160 – 179
và/hoặc
100 - 109
THA độ III
≥ 180
và/hoặc
≥ 110
THA tâm thu đơn độc
≥ 140
và
< 90
Nguồn: Bộ Y tế - Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp (2010) [4]
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
1.1.3. Nguyên nhân tăng huyết áp
Nguyên nhân THA được chia làm 2 loại: THA nguyên phát và THA thứ phát
1.1.3.1. Tăng huyết áp nguyên phát
Phần lớn THA không tìm thấy nguyên nhân hoặc chưa rõ nguyên nhân
được gọi là THA nguyên phát hay bệnh THA. Tỉ lệ THA nguyên phát chiếm
khoảng 90% THA nói chung [3].
1.1.3.2. Tăng huyết áp thứ phát: là THA do hậu quả của các bệnh khác như:
- THA do bệnh thận: Viêm cầu thận cấp, viêm thận mạn, thận đa nang…
- THA do bệnh nội tiết: hội chứng cường aldosteron tiên phát, hội chứng
1.1.4.3. Đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ và bệnh THA có mối liên quan đặc biệt. THA là hậu quả của
ĐTĐ hoặc có thể là YTNC gây ĐTĐ. Nghiên cứu ở Morocco (2012) cho thấy
70,4% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 bị THA [46], hay theo nghiên cứu của tác giả
Wayne V. Moore và cs (1998) thì có 78,0% bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tại bệnh
viên tuyến trên (huyến huyện trở lên) có THA và 55% bệnh nhân ĐTĐ týp 2
tại tuyến y tế cơ sở có THA [64].
1.1.4.4. Rối loạn lipid máu
RLLP máu làm tăng nguy cơ mắc THA và THA cũng có liên quan mật
thiệt đến RLLP máu. Trong nghiên cứu có thời gian theo dõi dọc trung bình
14,1 năm của tác giả Ruben O. Halperin và cs (2006) cho thấy, trong tổng số
3110 nam giới, nhóm có total cholesterol (TC) và tỉ số TC/HDL-C (high
density lipoprotein – cholesterol) cao trên 4/5 tổng giá trị có nguy cơ mắc
THA cao hơn 23,0% và 54,0% so với nhóm có TC và của tỉ số TC/HDL-C
chiếm 1/5 tổng giá trị. Nhóm có hàm lượng HDL-C máu cao trên 4/5 tổng giá
trị giảm nguy cơ mắc THA 32,0% so với nhóm có hàm lượng HDL-C máu
chiếm 1/5 tổng giá trị [52]. Nghiên cứu về RLLP máu ở bệnh nhân THA
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
(2007) cho thấy tỉ lệ RLLP máu ở bệnh nhân THA là 68,49%; tăng TC chiếm
49,32%; tăng Triglyceride (TG) là 41,1%; thấp HDL-C là 9,59% và tăng (low
density lipoprotein – cholesterol) LDL-C là 31,51% [18]. Tỉ lệ RLLP ở nhóm
bệnh nhân THA kịch phát chiếm 97,8%; cao gấp 11,3 lần so với nhóm THA
nguyên phát (có tỉ lệ RLLP là 79,6%) và cao gấp 22,0 lần so với nhóm bệnh
nhân bệnh nhân khác (có độ tuổi tương tự) [25].
1.1.4.5. Chỉ số khối cơ thể (Body mass index-BMI)
Thừa cân và béo phì là YTNC cao của THA và được xác định bằng chỉ
số khối cơ thể. Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy tỉ lệ bệnh nhân THA ở
người béo phì cao gấp 2 lần ở những người không bị béo phì [61]. Nghiên
30 năm trở lên hoặc 20 gói/năm trở lên có nguy cơ bị THA cao gấp 1.52 lần
và 1.34 lần (theo thứ tự) so với nhóm nam giới không bao giờ hút thuốc [82].
1.1.4.8. Uống nhiều bia, rượu
Rượu là một trong số những yếu tố thuận lợi gây THA [3]. Theo WHO
thì “rượu làm THA và đó là YTNC của tai biến mạch não, thường thấy phối
hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất huyết não”; hàng năm có khoảng
4% tử vong trên toàn thế giới có liên quan đến rượu [91]. Theo nghiên cứu
của tác giả Chu Hồng Thắng và Dương Hồng Thái (2008) thì tỉ lệ THA ở
nhóm uống rượu cao hơn 1,28 lần so với nhóm không uống rượu [26].
1.1.4.9. Ăn mặn
Muối ăn đóng vai trò quan trọng trong điều hoà thể tích ngoại bào và là
yếu tố chính điều hoà huyết áp (HA). Giữa muối ăn và HA có mối quan hệ
tiến triển và liên tục, không có ngưỡng rõ ràng [41]. Lượng muối ăn càng
nhiều thì HA càng tăng: cứ tăng mỗi 100 mmol muối ăn hàng ngày thì HATT
tăng 12 mm Hg và HATTr tăng 7 mm Hg [1]. Bệnh nhân THA nên giảm hàm
lượng muối ăn xuống dưới 4g/ngày [53]. Nếu giảm hàm lượng muối ăn hàng
ngày ở mức cao (3,3 ± 1,3g/ngày) xuống mức độ trung bình (2,4 ± 1,2g/ngày)
sẽ làm giảm 2,1 mmHg HATT, còn nếu giảm hàm lượng muối ăn hàng ngày
ở mức trung bình (2,4 ± 1,2g/ngày) xuống mức độ thấp (1,5 ± 0,8g/ngày) sẽ
làm giảm 4,6 mmHg HATT [70]. Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
1.1.4.10. Lối sống tĩnh tại
Thói quen sống tĩnh tại rất nguy hại đối với hệ tim mạch; không vận
động được coi là nguyên nhân của 5-13% các trường hợp THA hiện nay [72].
Trong nghiên cứu tổng quan về lợi ích của việc tập thể dục thể thao (2006),
Darren E.R. Warburton và cs [88] đã cung cấp những bằng chứng không thể
chối cãi về tác dụng của tập thể dục thể thao đối với việc phòng ngừa THA.
giảm, có albumin niệu vi thể hoặc đại thể. Tăng creatinin phản ánh giảm mức
lọc cầu thận, tăng đào thải protein niệu phản ánh thương tổn cầu thận.
1.1.5.4. Tổn thương mắt
THA gây tổn thương mắt theo các mức độ khác nhau [3], các dấu hiệu
tổn thương hay gặp ở các bệnh nhân ≥ 40 tuổi [89]. Ở người THA, khám đáy
mắt đánh giá tổn thương mắt là dấu hiệu quan trọng để tiên lượng bệnh.
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Hoàng Anh Tú, Lê Minh Tuấn (2009) thì tỉ
lệ bệnh nhân THA có tổn thương võng mạc với các triệu chứng: bắt chéo
động – tĩnh mạch chiếm 38,28%, hẹp tiểu động mạch toàn bộ 89,84%; hẹp
tiểu động mạch khu trú 13,28%; xuất huyết võng mạc 22,66%; xuất tiết
19,53%, nốt dạng bông 14,66% và phù gai là 8,6% [31].
1.1.5.5. Tổn thương não
THA là YTNC cao dẫn đến các tổn thương não, trong đó tai biến mạch
máu não (TBMMN) là biến chứng hay gặp nhất [3]. Các triệu chứng của tổn
thương não do THA bao gồm:
- Thiếu máu não: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ
- Rối loạn tâm thần do THA, sa sút trí tuệ, động kinh
- Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua: bệnh nhân bị tổn thương thần
kinh khu trú (ví dụ: bại liệt nửa mặt, rối loạn ngôn ngữ, liệt trung ương dây
thần kinh VII, mù ) nhưng phục hồi hoàn toàn trong 24 giờ.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
11
- Tùy thuộc vào vị trí tổn thương của động mạch não mà gây những triệu
chứng lâm sàng khác nhau như: liệt trung ương 1/2 người, liệt trung ương dây
thần kinh VII, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cơ vòng, thất điều
1.1.6. Điều trị tăng tăng huyết áp
1.1.6.1. Nguyên tắc điều trị
- Điều trị đúng, đủ hàng ngày, theo dõi đều và điều trị lâu dài.
- Mục tiêu điều trị là đạt HA mục tiêu và giảm tối đa nguy cơ tim mạch.
- Nhóm thuốc ức chế men chuyển.
- Nhóm thuốc ức chế thụ thể angiotensin II [3], [4], [35].
1.1.7. Tình hình bệnh tăng huyết áp trên thế giới
THA là một bệnh tim mạch phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới.
Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến nhiều cơ quan như tim, não, thận và gây nhiều
biến chứng nặng nề [3][35]. Theo WHO, THA là nguyên nhân gây tử vong 9
triệu người mỗi năm và chiếm 12,8% nguyên nhân tử vong toàn cầu [92].
Tỉ lệ bệnh THA trong cộng đồng hiện tại đang ở mức cao và là một bệnh
có tốc độ gia tăng nhanh chóng. Tỉ lệ bệnh nhân THA ở người trưởng thành
nói chung trên toàn thế giới là 26,4% vào năm 2000, trong đó tỉ lệ THA ở
nam chiếm 26,6% và ở nữ chiếm 26,1% [58]. Dự kiến tỉ lệ bệnh nhân THA sẽ
tăng lên 29,2% (95%CI: 28,8%-29,7%) vào năm 2025; trong đó tỉ lệ THA ở
nam giới là 29,0% (95%CI: 28,6%-29,4%) và nữ là 29,5% (95%CI:29,1%-
29,9%). Năm 2025, tổng số bệnh nhân THA ở độ tuổi trưởng thành sẽ tăng
lên 60% so với năm 2000 và đạt khoảng 1,56 tỉ bệnh nhân (95%CI: 1,54-1,58
tỉ người) [58]. Tỉ lệ mắc mới bệnh THA vào khoảng 3% - 18%, phụ thuộc vào
các yếu tố tuổi, giới, dân tộc và kích cỡ cơ thể của từng dân số [51].
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc khác nhau thì tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh THA
lại khác nhau. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, tỉ lệ THA ở người trưởng
thành giai đoạn 1999-2000 chiếm 28,6%; giai đoạn 2001-2002 chiếm 27,9%
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
và giai đoạn 2003-2004 chiếm 29,6%. Nghiên cứu ở những đối tượng ≥ 30
tuổi ở vùng thành thị phía Bắc Ấn Độ (2008) cho kết quả tỉ lệ bệnh nhân THA
ở vùng thành thị chiếm 32,2% và tỉ lệ tiền THA là 32,3% [94]. Nghiên cứu tại
Hàn Quốc (2001) nhận định tỉ lệ THA ở đối tượng từ 18-92 tuổi chiếm
33,7%; trong đó THA độ I chiếm 64,9%, THA độ II chiếm 22,5% và 12,5%
bệnh nhân THA độ III [56]. Nghiên cứu về THA ở Malaysia (2010) ở đối
tượng ≥ 18 tuổi cho kết quả tỉ lệ THA ở vùng nông thôn chiếm 29,8% so với
y tế theo dõi phải được xây dựng và đánh giá thêm. Giáo dục truyền thông
trực tiếp cho người bệnh hoặc thầy thuốc đơn thuần không có tác dụng đáng
kể trong việc làm giảm số đo HA ở bệnh nhân THA.
Tuy nhiên trên thực tế, có một tỉ lệ lớn bệnh nhân không được chẩn đoán
và quản lý THA. Một nghiên cứu cho thấy trong tổng số bệnh nhân THA, có
hơn một nửa (54,3%) không nhận thức được sự nguy hiểm trong tình trạng
THA của mình, 22,8% bệnh nhân không đi kiểm tra HA thường xuyên và chỉ
có 4,5% bệnh nhân thực hiện kiểm soát tốt HA. Tỉ lệ này còn cao hơn ở vùng
nông thôn với 50% bệnh nhân THA không được chẩn đoán và 48% bệnh nhân
không được quản lý THA [80].
1.1.8. Tình hình bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh THA đang là vấn nạn của toàn xã hội. Bệnh THA có
xu hướng gia tăng nhanh chóng, khi nền kinh tế ngày càng phát triển. Năm
1976, tỉ lệ THA ở dân số trưởng thành miền Bắc chỉ chiếm 1,9% thì vào năm
2008, nghiên cứu về THA đối với người ≥ 24 tuổi trên toàn quốc cho thấy tỉ
lệ này đã tăng lên đến 27,2% [5]. Kết quả điều tra dịch tễ học bệnh THA năm
1989-1992 của Trần Đỗ Trinh và cs cho thấy: Tỉ lệ THA ở Việt Nam năm
1982 là 11,7% trong đó THA chính thức là 5,1%, THA giới hạn là 6,7%,
ngoài ra còn THA không bền là 0,7% [29]. Phạm Gia Khải và cs đã điều tra
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
trong dân số trên 2,5 triệu người ở Hà Nội năm 1999 cho thấy tỉ lệ mắc bệnh
THA là 16,05% trong dân số cần phải được điều trị [13], đồng thời, theo tác
giả thì tỉ lệ THA tăng lên theo tuổi đời, ở nam cao hơn nữ (p<0,01) [12].
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về THA với tỉ lệ THA khác nhau
giữa các vùng miền. Nghiên cứu của tác giả Chu Hồng Thắng và Dương
Hồng Thái (2008) tại Thái Nguyên cho thấy có có 17,7% người dân trong
cộng đồng bị THA và tỉ lệ THA ở nam (20,3%) cao hơn nữ (15,4%) [26]. Kết
quả nghiên cứu tại Bắc Bình Định cho thấy tần suất THA chung là 34,33%;
phát 0,32%, nhồi máu cơ tim 0,32% và tỉ lệ tử vong 0,32% [16].
Bệnh nhân THA đòi hỏi phải có sự quản lý tốt nhằm đề phòng các biến
chứng do THA và giảm thiểu nguy cơ tử vong. Tuy nhiên trên thực tế, công
tác quản lý THA, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở còn chưa cao. Theo nghiên cứu
tại Trà Vinh cho thấy, trong tổng số bệnh nhân THA thì tỉ lệ bệnh nhân THA
độ 1 là 44,92%; THA độ 2 là 22,93% và THA độ 3 là 7,33%. Trong tổng số
bệnh nhân THA, tỉ lệ phơi nhiễm với ≥ 3 YTNC chiếm 31,02% và tỉ lệ bệnh
nhân THA điều trị đạt HA mục tiêu chỉ có 24,08% [15].
1.2. Hội chứng chuyển hóa
1.2.1. Đại cương
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một vấn đề nổi cộm của y tế công
cộng hiện nay. Bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1923 khi tác giả
Kylin mô tả một hội chứng bao gồm sự phối hợp giữa THA, tăng đường máu
và tăng axit uric máu [62]. Vào những năm 1940 tác giả Vague đã mô tả béo
bụng, phân bố béo phì trong cơ thể và mối liên quan đến ĐTĐ và các bệnh lý
khác [85]. Năm 1965, Avogaro và Crepaldi lại mô tả một hội chứng bao gồm
THA, tăng đường huyết và béo phì [43].