TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 9:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : TRƯƠNG CÔNG MINH
STT : 59
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 4
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 – K20
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 5/2011
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
DANH SÁCH NHÓM 4
STT Họ và Tên
49 Nguyễn Thị Bích Liên
50 Phan Hoài Linh
51 Trần Ngọc Linh
52 Đào Thị Bích Loan
53 Đào Mạnh Long
54 Trương Bảo Long
55 Đỗ Hữu Lộc
56 Nguyễn Văn Luận
57 Nguyễn Thanh Luận
58 Nguyễn Viết Mạnh
59 Trương Công Minh
60 Trương Quang Minh Nhóm trưởng
61 Đoàn Thị Minh
62 Trần Đăng Minh
63 Đoàn Thanh Nam
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 3
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
ảnh hưởng của Triết hoc cổ đại Trung Quốc chúng ta cũng có thể nói: “Nếu không
có Triết học Trung Quốc cổ đại thì không có Trung Quốc, Việt Nam và một số
nước Châu Á ngày nay”.
Sự ra đời và phát triển của hai nền Triết học này có ảnh hưởng hết sức to lớn
đến nhân loại, là cội nguồn của nền Triết học vĩ đại ngày nay. Nó đã trở thành Thế
Giới quan và phương pháp luận khoa học, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học
giúp con người nhận thức đúng và cải tạo Thế Giới, là tiền đề cho sự phát triển văn
minh nhân loại. Xét trên nhiều khía cạnh chúng ta thấy hai nền Triết học này tuy
hình thành ở những hoàn cảnh, vùng địa lý khác nhau và hình thành những học
thuyết Triết học khác nhau nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng
không thể phủ nhận được.
Vì những lý do trên mà Nhóm 4 đã chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác biệt
giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để tìm hiểu và
cũng để có cái nhìn sâu sắc hơn về hai nền Triết học này.
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp chúng ta hiểu lý
giải được nguồn gốc, quá trình và xu hướng phát triển của hai nền Triết học, hiểu
được lịch sử tư tưởng từ các học thuyết nổi tiếng của những nhà Triết học Hy lạp
và Trung Quốc thời bấy giờ cũng như sự tương quan giữa chúng.
Với mục đích như trên, nội dung đề tài được cô đọng trong 2 chương:
− Chương 1: Giới thiệu khái quát về Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết
học Trung Quốc cổ đại:
+ Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển
+ Các đặc điểm cơ bản
+ Các trường phái Triết học tiêu biểu
− Chương 2: Đánh giá và so sánh giữa 2 nền Triết học Hy Lạp cổ đại và
Trung Hoa cổ đại
+ Các đặc điểm tương đồng
+ Các điểm khác biệt
Đặc điểm 2:
Xuất hiện phép biện chứng chất phác, duy vật sơ khai. Các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”, họ nghiên cứu và sử dụng phép biện
chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, tìm ra chân lý, bảo vệ quan điểm của
mình. Họ đã phát triển ra nhiều yếu tố của phép biện chứng nhưng chưa trình bày
chúng như một hệ thống chặt chẽ.
Đặc điểm 3:
Do những nhà triết học của Hy Lạp đồng thời cũng là nhà khoa học tự nhiên, nên
họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học,
chứa đựng hầu hết các vấn đề cơ bản của thế giới quan. Do trình độ tư duy lý luận
còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để
đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên sơ lược để dựng nên bức
tranh tổng quát về thế giới.
Đặc điểm 4:
Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người, sự hình thành, bản chất con
người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về
con người, quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín ngưỡng, giữa chủ nghĩa
duy vật và duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác,
về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song
nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo
hóa.
1.1.3. Các trường phái triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.3.1 - Chủ Nghĩa Duy Vật :
a) Trường phái Milê:
Xuất phát từ giai đoạn đầu hình thành, do 3 nhà triết học duy vật là Talét,
Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng vào thế kỷ 6, TCN, nhằm làm sáng rõ bản
nguyên vật chất của thế giới. Talét chủ trương giải thích giới tự nhiên không phải
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 6
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
bằng niềm tin mà bằng sự kiện quan sát; ông kết luận: Nước là yếu tố đầu tiên, là
tính và lý tính, coi trọng lý tính sáng suốt, coi nhẹ cảm tính từ giác quan. Đem lại
các phương pháp nhận thức logic như qui nạp, so sánh, giả thuyết, định nghĩa.
Ngoài ra, theo ông đạo đức là : Hiểu biết là cơ sở của đạo đức. Sống có đạo đức là
sống đúng mực, ôn hòa, không hại mình, không hại người. Hạnh phúc là trạng thái
mà trong đó con người sống hưởng lạc với tâm hồn thanh thản. Chính trị, xã hội tốt
nhất được cai trị bởi nhà nước chủ nô, lấy chế độ cộng hòa làm nền tảng chính trị,
lấy chuẩn mực đạo đức và pháp lý làm cơ chế hoạt động. Phát triển nền thương mại
và sản xuất thủ công hướng theo tình thân ái, tính ôn hòa và lợi ích chung của công
dân tự do, nô lệ phải tuân theo lệnh ông chủ. Nhu cầu vật chất con người là động
lực phát triển xã hội.
1.1.3.2 - Chủ Nghĩa Duy Tâm:
Hình thành trong trường phái triết học Pythagore, trải qua trường phái duy lý
Elee và đạt được đỉnh cao trong trường phái duy tâm khách quan – thế giới ý niệm
của Platon.
a) Trường phái Pytagore :
Là nhà triết học, toán học uyên bác, ông cho rằng “con số” là bản nguyên
của thế giới, là bản chất của vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh hồn
=>đặt nền móng ban đầu cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến các mặt đối lập của
mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu hạn và vô hạn. Mười cặp
đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán học, vật lý, sinh học và đạo đức. Đó là
những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã hội.
b) Trường phái Êlê :
Xênôphan (Xénophane): cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng trở
về đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn loài.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 8
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn vật trong
thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính khái quát cao, và nhận thức
bởi tư duy, lý tính. Quan niệm “tồn tại”đánh dấu một giai đoạn mới trong phát triển
triết học Hy Lạp cổ đại.
hội.
1.1.3.3 - Chủ Nghĩa Nhị Nguyên :
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Socrat, Platông là Triết gia Aristote học trò xuất sắc của Platông. Cống hiến nổi bật
của Aristote là ông đã phê phán một cách cặn kẽ học thuyết về ý niệm của Platông.
Ông công nhận tự nhiên tồn tại khách quan, đặt nền móng cho khoa học lôgíc thời
cổ đại, tam đoạn luận, vật lý học duy vật trong tự nhiên; mặt khác ông lại chủ
trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư
duy, lý tính, suy nghĩ, thượng đế – thuyết nguyên nhân, không có linh hồn bất tử
nhưng có linh hồn lý tính bất diệt- tinh thần quyết định vật chất-> duy tâm trong xã
hội, con người. Nhưng do hạn chế lịch sử và xuất thân là nhà tư tưởng của giai cấp
chủ nô quý tộc nên về mặt chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích cho tầng lớp này, bảo vệ
tầng lớp trung lưu, khinh miệt nô lệ, về mặt triết học ông là nhà nhị nguyên luận.
1.2. TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.2.1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Hoa là một đất nước rộng lớn thuộc vùng Đông Á. Trên lãnh thổ
Trung Hoa có hai con sông lớn chảy qua: sông Hoàng Hà ở phía bắc và sông
Trường Giang ở phía nam tạo nên hai miền Bắc Nam với nhiều khác biệt, nền kinh
tế chủ yếu là nông nghiệp, định canh, định cư.
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ (~thế kỷ XXI -
thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại tới thời vua Kiệt thì bị diệt vong.
Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ, thế giới quan thần thoại,
tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần. Những tư
tưởng triết học đã xuất hiện; và trải qua 2 vương triều nhà Thương (còn gọi là Ân,
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 10
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang thành lập, tồn tại tới thời vua Trụ
thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc sống định canh, định cư; biết dùng
đồng thau, khai khẩn ruộng đất và thực hiện đường lối tỉnh điền; ma thuật được
thay bằng tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã – tắc; và Vương triều nhà Chu
thân –trị gia –tề quốc.
Ba là, triết học Trung Quốc cổ đại cũng bị chi phối bởi cuộc đấu tranh giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; nhưng đó là cuộc đấu tranh xung quanh
vấn đề con người; vì vậy, vấn đề về quan hệ giữa Con người với Trời, Đất (Thiên -
Nhân – Địa) là vấn đề mang tính xuất phát và xuyên suốt qua toàn bộ nền triết học
này.
Bốn là, trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các trường phái triết
học Trung Quốc cổ đại không chỉ phê phán, xung đột nhau mà còn biết hấp thụ
những tư tưởng của nhau để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình
1.2.3. Các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại tiêu biểu
1.2.3.1 - Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành :
Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ,
cũng như vạn vật trong nó, được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của 2 thái
cực (lực lượng) đối lập nhau là âm và dương. Nhưng hai thế lực Âm - Dương
không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau.
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của
vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau,
tương sinh, tương khắc với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ.
Tóm lại, bằng lý luận Âm dương và lý luận Ngũ hành, Âm dương gia đã
đứng trên quan điểm duy vật chất phác để giải thích một cách máy móc sự phát
triển của thế giới. Chúng có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và mục
đích luận trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người. Ngoài ra, chúng còn
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 12
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
góp phần tạo nên cơ sở lý luận dẫn tới những phát minh về thiên văn, lịch pháp, y
học trong lịch sử Trung Hoa cổ trung đại.
1.2.3.2 - Nho gia :
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu, người
sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 TCN). Nho gia nguyên thuỷ là triết lý của Khổng
Tử và Mạnh Tử về đạo làm người quân tử vá cách thức trở thành người quân tử,
phái Pháp gia là Hàn Phi Tử(280-233 TCN). Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao
gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong đó pháp là nội dung của chính
sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách đó.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 14
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HAI NỀN
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRUNG HOA
CỔ ĐẠI
2.1. Quan niệm triết học giữa hai nền triết học:
+ Trung Quốc: Người Trung quốc cổ đại quan niệm “ triết” chính là “ trí”, là
cách thức và nghệ thuật diễn giải, bắt bẻ có tính lý luận trong học thuật nhằm đạt
tới chân lý tối cao.
+ Hy Lạp: thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy lạp được la tinh hoá là
Philôsôphia - nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái. Như vậy Philôsôphia
vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con
người
Như vậy, dù ở Trung Quốc hay Hy Lạp, triết học được xem là hình thái cao
nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa
là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật. Triết học nghiên cứu thế giới một cách
chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó
nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói
riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.
Tóm lại, cả Trung Quốc và Hy Lạp đều quan niệm triết học là hệ thống tri thức
lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí vai trò của con người trong
thế giới đó.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
+ Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ
giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “thiên
nhân hợp nhất”. Lấy con người làm đối tượng nghiên cứu mang tính hướng nội.
chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp trống
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 16
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
trị cho nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà
là để cai trị con người, không thấy quan hệ giữa người với người trong lao
động sản xuất.
+ Triết học Hy Lạp cổ đại lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề
cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người
về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc để
giải phóng con người.
- Trung Quốc: Đổng Trọng Thư đề cập đến mối quan hệ vua - tôi, cha -
con, chồng - vợ, nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao
nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp
ở hàng làm chủ thể hiện rõ sự phân tầng trong xã hội. Khổng tử lấy Nhân,
Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu… làm chuẩn mực đạo đức. Lão Tử xây
dựng thuyết “Vô Vi” là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác,
không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản
tính tự nhiên. Trang Tử xây dựng quan niệm nhân sinh thoát tục – vị ngã –
toàn sinh nghĩa là phải yên theo thời mà ở thuận, vì cái tự nhiên nào cũng
hợp lý…
- Hy Lạp: Pytago cho rằng linh hồn con người bất tử, tồn tại độc lập với
thể xác và chịu chi phối bởi luật luân hồi, giải thoát linh hồn ra khỏi sự
ràng buộc của thể xác là mục đích của cuộc sống. Nhận thức là chức
năng của linh hồn và nhờ vào sự mách bảo của thần thánh, thần thánh tạo
ra trật tự vũ trụ. Pácmênít cho rằng, tồn tại là bản chất chung thể hiện
tính thống nhất của vạn vật trong thế giới, theo Pácmênít có hai cách
nhận thức thế giới là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức
cảm tính là nhận thức thông qua các giác quan chỉ mang lại sai lầm, ảo
giả, không thể khám phá ra bản chất đích thực của thế giới. Nhận thức lý
tính thông qua hoạt động trí óc khám phá ra bản chất đích thực của thế
cương ngũ thường, đời Tống biến thành chữ Lý… Âm Dương Gia với lý
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 18
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
luận âm dương là hai yếu tố, hai khuynh hướng đối lập không tách rời
nhau, ôm lấy nhau, xoắn vào nhau. Đạo Gia thì cho rằng Đạo sinh ra vạn
vật, nhờ đức mà thể hiện, khi mất đi là lúc vạn vật quay về với Đạo. Đạo
sinh ra Một – khí thống nhất, Một sinh ra Hai – âm dương đối lập, Hai
sinh ra Ba – trời, đất, người, Ba sinh ra vạn vật, như vậy Âm Dương
cũng được phát triển ở Đạo Gia với bản chất không đổi so với Âm
Dương Gia nhưng nó được lý giải theo một chu trình khác, phát triển bên
cạnh nhiều yếu tố khác. Khổng Tử cho rằng vạn vật không ngừng biến
hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được, mà nền tảng của trật tự đó
là thiên mệnh. Khổng Tử cho rằng con người có tính người, tính người
do trời phú. Khi đến Mặc Gia thì yếu tố Trời hay ý trời được Mặc Tử
phát triển thêm bên cạnh yếu tố Quỷ thần, các yếu tố này luôn giám sát
chặt chẽ mọi hành vi của con người để khen thưởng những việc làm nhân
nghĩa hay trừng phạt những hành động độc ác một cách công minh.
- Hy Lạp: Trường phái duy vật nhất nguyên Milê, Talét giải thích thế giới
có nguồn gốc từ nước Anaximăngđrơ là apeiron, Anaximen là không
khí. Những quan niệm triết học duy vật của trường phái Milê tuy còn
mộc mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa vô thần chống lại thế giới quan thần
thoại đương thời và chứa đựng những yếu tố biện chứng chất phác.
Trường phái duy vật nhất nguyên Hêraclít thể hiện rõ các tư tưởng biện
chứng chất phác thông qua các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống
nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, tuy các quan niệm biện chứng
chưa được trình bày như một hệ thống nhưng hầu hết các luận điểm cốt
lõi được Hêraclít trình bày dưới dạng danh ngôn, tỷ dụ hay những phát
biểu mang tính triết lý sâu sắc. Trường phái duy vật đa nguyên Empêđốc
khởi nguyên của vũ trụ là bốn yếu tố đất, nước, lửa, Anaxago cho rằng
khởi nguyên thế giới là các hạt giống, các hạt giống có thể sinh sôi nảy
Ngày đêm không ngừng lại”. Duy tâm: Ông cho trời là một lực lượng vô
hình quyết định số phận của mỗi người và sự thịnh sang của mỗi thời đại
(Vua dân tế trời). Mỗi cá nhân sự sống chết, phú quý hay nghèo hèn là do
Thiên mệnh quy định, phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất tất
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 20
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
phải cầu. Tin ở Mệnh trời “Thiên mệnh”, sống chết có mệnh, giàu sang
tại trời. Sống theo mệnh trời, tuân theo mệnh trời thì sống, làm những
điều nhân điều thiện thì có thể biến nguy thành an. Trời như một vị thần
có nhân cách, mắc tội với trời thì cầu cũng vô ích. Mặc gia cho rằng, ý
trời luôn muốn mọi người yêu thương nhau, nhưng sự giàu – nghèo, thọ
– yểu, hành phúc – bất hạnh… lại là do nhân tạo, thuyết tam biểu cho
rằng: cái gì lỗ tai, con mắt không cảm thấy là không có. Muốn xác định
cái gì đó đúng hay sai, cần phải xem nó có cái gốc (căn cứ lịch sử) như
thế nào, có cái nguồn (ý kiến của trăm họ) hay không. Do coi thường nội
dung khách quan của kinh nghiệm con người mà thuyết tam biểu dựa
trên quan điểm duy giác, từ bỏ duy vật đến với duy tâm và cuối cùng rơi
vào chủ nghĩa kinh nghiệm cực đoan. Đạo Gia với Lão Tử dùng Đạo để
giải thích thế giới, Đạo được hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng,
mộc mạc, hỗn độn, mập mờ, thấp thoáng, không có đặt tính, không có
hình thể, Đao là nguồn gốc sinh ra vạn vật, là quy luật của mọi cái đã,
đang và sẽ tồn tại. Lão Tử cho rằng bất cứ sự vật nào cũng là thể thống
nhất của hai mặt đối lập, chúng ràng buột bao hàm lẫn nhau. Lão Tử
cũng khẳng định càng tách xa Đạo, xã hội càng chứa nhiều mâu thuẫn…
Phép biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc, đơn giản. Vạn vật
chỉ vận động tuần hoàn lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra
đời của cái mới, nghĩa là không có sự phát triển. Nhưng đến Trang Tử thì
biến các yếu tố biện chứng trong triết học của Lão Tử thành chủ nghĩa
tương đối và thuyết ngụy biện với quan niệm nhân sinh thoát tục – vị ngã
– toàn sinh đầy tính duy tâm.
không ủng hộ quan điểm duy vật bàn về khởi nguyên vật chất của vũ trụ.
Với thuyết nguyên nhân Ông cho rằng tồn tại nói chung phải xuất phát từ
4 nguyên nhân cơ bản: Vật chất (vật liệu), hình thức (hình dạng), vận
động (thao tác) và mục đích (cứu cánh). Trong đó, hình thức và vật chất
giữ vai trò quan trọng nhất (nhị nguyên luận), tuy nhiên, ông lại cho rằng
hình thức có vai trò quyết định hơn vật chất (nhất nguyên luận). Với
thuyết vận động Ông cho rằng giới tự nhiên là toàn bộ các sự vật, quá
trình luôn vận động có liên hệ với nhau và được cấu thành từ một bản thể
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 22
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
vật chất. Vận động không thể bị tiêu diệt và cũng không thể tách ra khỏi
sự vật quá trình tự nhiên. Từ các giá trị mà Arixtốt đem lại cho nhân loại
ông trở thành người “khổng lồ” về tư tưởng, mở ra một chân trời khoa
học mênh mông cho phương Tây phát triển và lý trí Hy Lạp nảy nở.
2.4. Về bản thể luận hay nguồn gốc thế giới:
+ Triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Trung Quốc cổ đại có điểm tưởng
đồng về vấn đề bản nguyên của thế giới thể hiện ở quan điểm của Mạnh Tử
và của Sôcrát, mọi thứ đều do thượng đế(trời) sinh ra và an bài sẵn. Tư
tưởng của Đạo gia và Âm Dương gia cho rằng bản nguyên của thế giới được
hình thành từ vật chất : “Đạo” và “khí âm và khí dương”; điều này tương
đồng với quan điểm của trường phái Milê(Talet, Anaximen, Amaxomandrơ),
Heraclít, Pitago, Đêmocrít…
+ Do còn mang tính trực quan, ước đoán, chưa có chứng minh cụ thể nên
các luận điểm của triết học Trung Quốc cổ đại chưa khuất phục được quan
điểm duy tâm, chưa giải phóng con người khỏi quan điểm duy tâm thần bí.
Còn triết học Hy Lạp cổ đại từ những quan sát ban đầu đã xây dựng thành
một hệ thống triết học duy vật chặt chẽ, có sức thuyết phục, làm cho nó đủ
sức đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh hành lúc bấy giờ,
mà trước hết là trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platông. Ngoài ra, các tư
tưởng của các nhà triết học Hy Lạp còn là nguồn cảm hứng cho các nhà
rằng nhận thức không phụ thuộc vào bên ngoài (cảm tính) mà xuất phát
từ bên trong con người, thể hiện quan điểm duy tâm về nhận thức.
+ Bên cạnh một số nét tương đồng thì triết học Trung Quốc cổ đại và triết học
Hy Lạp cổ đại vẫn tồn tại một số điểm khác biệt cơ bản sau:
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 24
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
- Thứ nhất,
o Triết học Trung Quốc cổ đại nổi bật với tư duy nhận thức trực
giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm.
o Triết học Hy Lạp cổ đại nổi bật với nhận thức theo chủ nghĩa duy
giác.
- Thứ hai,
o Triết học Trung Quốc cổ đại thể hiện mối quan tâm về nhận thức
trong lĩnh vực con người, giáo dục, đạo đức, chính trị xã hội.
o Triết học Hy Lạp cổ đại quan tâm tới việc tìm hiểu, làm rõ quá
trình nhận thức (từ nhận thức cảm tính đi tới nhận thức lý tính),
nguồn gốc của nhận thức ( từ hiện thực khách quan – duy vật hay
từ linh hồn bất tử, thế giới ý niệm – duy tâm) để từ đó xây dựng
phương pháp nhận thức, mở rộng hiểu biết của con người về các
lĩnh vực khoa học, logic học, văn hoá, nghệ thuật…
2.7. Quan điểm về chính trị xã hội và xây dựng Nhà Nước:
+ Triết học Trung Quốc cổ đại và Triết học Hy Lạp cổ đại phần lớn đều có nét
tương đồng là phát triển dựa trên quan điểm chính trị xã hội và xây dựng Nhà
Nước bao gồm những điểm sau:
- Một là, Triết học Trung Quốc cổ đại và Triết học Hy Lạp cổ đại đều có
chung quan điểm xây dựng xã hội có sự phân biệt đẳng cấp.
- Hai là, Triết học Trung Quốc cổ đại và Triết học Hy Lạp cổ đại đều sử
dụng pháp luật làm công cụ trong cai trị xã hội.
- Ba là, Triết học Trung Quốc cổ đại và Triết học Hy Lạp cổ đại đều có
chung quan điểm: “Người quản lý Nhà Nước phải có tri thức”.