TIỂU LUẬN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 9:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THÀNH NAM
STT : 65
NHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 4
LỚP : CAO HỌC ĐÊM 1 – K20
GVHD : T.S BÙI VĂN MƯA
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 5/2011
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
DANH SÁCH NHÓM 4
STT Họ và Tên
49 Nguyễn Thị Bích Liên
50 Phan Hoài Linh
51 Trần Ngọc Linh
52 Đào Thị Bích Loan
53 Đào Mạnh Long
54 Trương Bảo Long
55 Đỗ Hữu Lộc
56 Nguyễn Văn Luận
57 Nguyễn Thanh Luận
58 Nguyễn Viết Mạnh
59 Trương Công Minh
60 Trương Quang Minh Nhóm trưởng
61 Đoàn Thị Minh
62 Trần Đăng Minh
63 Đoàn Thanh Nam

khoa học giúp con người nhận thức đúng và cải tạo Thế Giới, là tiền đề cho sự
phát triển văn minh nhân loại. Xét trên nhiều khía cạnh chúng ta thấy hai nền
Triết học này tuy hình thành ở những hoàn cảnh, vùng địa lý khác nhau và hình
thành những học thuyết Triết học khác nhau nhưng đồng thời cũng có những
điểm tương đồng không thể phủ nhận được.
Vì những lý do trên mà Nhóm 4 đã chọn đề tài: “Sự tương đồng và khác
biệt giữa Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết học Trung Quốc cổ đại” để tìm
hiểu và cũng để có cái nhìn sâu sắc hơn về hai nền Triết học này.
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp chúng ta hiểu lý
giải được nguồn gốc, quá trình và xu hướng phát triển của hai nền Triết học, hiểu
được lịch sử tư tưởng từ các học thuyết nổi tiếng của những nhà Triết học Hy lạp
và Trung Quốc thời bấy giờ cũng như sự tương quan giữa chúng.
Với mục đích như trên, nội dung đề tài được cô đọng trong 2 chương:
− Chương 1: Giới thiệu khái quát về Triết học Hy Lạp cổ đại và Triết
học Trung Quốc cổ đại:
+ Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển
+ Các đặc điểm cơ bản
+ Các trường phái Triết học tiêu biểu
− Chương 2: Đánh giá và so sánh giữa 2 nền Triết học Hy Lạp cổ đại
và Trung Hoa cổ đại
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 4
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI
QUÁT VỀ TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI
1.1. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1.1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Hy Lạp cổ đại là một quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa, nhiều đồng
bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía đông
nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải, giao thương phát triển. Hy

sơ lược để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới.
Đặc điểm 4: Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người, sự hình thành,
bản chất con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm
khác nhau về con người, quá trình đấu tranh giữa tri thức khoa học và tín
ngưỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm tôn giáo, họ cố lý giải vấn đề quan hệ
giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ. Dù còn
có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là
tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa.
1.1.3. Các trường phái triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.3.1 - Chủ Nghĩa Duy Vật :
a) Trường phái Milê: xuất phát từ giai đoạn đầu hình thành, do 3 nhà triết học
duy vật là Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng vào thế kỷ 6, TCN, nhằm
làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Talét chủ trương giải thích giới tự
nhiên không phải bằng niềm tin mà bằng sự kiện quan sát; ông kết luận: Nước là
yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của vạn vật. Theo Anaximăngđrơ, apeiron là
nguồn gốc của vạn vật. Còn theo Anaximen, không khí có thể biến đổi thành mọi
thứ và tạo ra vạn vật. => duy vật giản đơn, chất phác, thô sơ; nhưng có ý nghĩa
vô thần, chống lại thế giới quan thần thoại hiện giờ.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 6
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
b) Trường phái Hêraclít : nổi trội nhất trong thời kỳ hình thành, do Hêraclít xây
dựng vào thế kỷ 6, TCN. Hêraclít coi bản nguyên của thế giới là lửa, vạn vật đều
từ lửa mà ra, rồi sau đó sẽ mất đi để quay về với lửa, nhưng tuỳ theo độ của lửa
mà vạn vật có thể chuyển hóa – thay đổi trạng thái. Hêraclít đã nêu lên các phỏng
đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Các luận
điểm cốt lõi của phép biện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới dạng danh
ngôn, tỷ dụ. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Hêraclít
vào kho tàng tư tưởng của nhân loại.
c) Trường phái đa nguyên: do Empêđốc và Anaxago xây dựng, Empêđốc thừa
nhận sự tồn tại của 4 khởi nguyên độc lập, bất biến là: đất, nước, không khí, lửa;

của thế giới, là bản chất của vạn vật. Thừa nhận sự bất tử và luân hồi của linh
hồn =>đặt nền móng ban đầu cho duy tâm cổ đại. Ông cũng bàn đến các mặt đối
lập của mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu hạn và vô
hạn. Mười cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toán học, vật lý, sinh học và
đạo đức. Đó là những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã hội.
b) Trường phái Êlê :
Xênôphan (Xénophane): cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng
trở về đất. Đất là cơ sở của vạn vật. Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của
muôn loài. Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của
vạn vật trong thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính khái quát
cao, và nhận thức bởi tư duy, lý tính. Quan niệm “tồn tại”đánh dấu một giai đoạn
mới trong phát triển triết học Hy Lạp cổ đại.
Pácmênít (Parménide): sự vật không ngừng biến đổi từ dạng này sang
dạng khác, chỉ khác nhau ở cách thức biểu hiện của sự tồn tại, và tồn tại không
hề thay đổi, đó cũng là bản chất của sự vật, được nhận thức bởi tư duy lý tính.
Nhận thức lý tính đòi hỏi con người phải dùng trí óc để khám phá nguồn gốc, bản
chất của thế giới.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 8
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Dênông (Zénon): bảo vệ trường phái Êlê. Ông đưa ra những apôri nghĩa là
tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý. Thông qua chúng, ông chứng minh
rằng “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến”. Còn tính phức tạp, đa dạng và
vận động của thế giới là không thực.
c) Trường phái duy tâm khách quan :
Xôcrát (Socrate): không nghiên cứu về giới tự nhiên, ông dành phần lớn
nghiên cứu về con người, đạo đức:“Con người hãy nhận thức về chính mình”.
Platông (Platon): nhà triết học duy tâm khách quan: học thuyết về ý niệm, đưa ra
hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Nhận thức
của con người là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm
biết, sinh ra thế giới cảm biết. Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm "tồn

1.2.1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Hoa là một đất nước rộng lớn thuộc vùng Đông Á. Trên lãnh thổ
Trung Hoa có hai con sông lớn chảy qua: sông Hoàng Hà ở phía bắc và sông
Trường Giang ở phía nam tạo nên hai miền Bắc Nam với nhiều khác biệt, nền
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, định canh, định cư.
Thời cổ đại của Trung Quốc bắt đầu từ vương triều nhà Hạ (~thế kỷ XXI -
thế kỷ XVI TCN) do Hạ Vũ đặt nền móng, tồn tại tới thời vua Kiệt thì bị diệt
vong. Thời này, người Trung Quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ, thế giới quan thần
thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần.
Những tư tưởng triết học đã xuất hiện; và trải qua 2 vương triều nhà Thương (còn
gọi là Ân, thế kỷ XVI - thế kỷ XII TCN) do Thành Thang thành lập, tồn tại tới
thời vua Trụ thì bị diệt vong. Thời này, người Trung Quốc sống định canh, định
cư; biết dùng đồng thau, khai khẩn ruộng đất và thực hiện đường lối tỉnh điền;
ma thuật được thay bằng tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên và thần xã – tắc; và Vương
triều nhà Chu (~thế kỷ XII - 221 TCN) do Văn Vương thành lập, tồn tại hơn 8
thế kỷ trải qua thời Tây Chu đóng đô ở Cảo Kinh, trước 771 TCN và thời Đông
Chu đóng đô ở Lạc Ấp. Thời Tây Chu, đất nước Trung Quốc tương đối ổn định.
Nhưng sang thời Đông Chu, khi đồ sắt được dùng phổ biến, chế độ sở hữu tư
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 10
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
nhân về ruộng đất được hình thành thay thế cho chế độ ruộng đất tĩnh điền trước
đó đã làm nảy sinh một loạt những thế lực chính trị mới. Đó là tầng lớp địa chủ
mới đang lấn át và xung đột gay gắt với tầng lớp quý tộc cũ. Do vậy, xã hội rơi
vào tình trạng rối ren; các giá trị, chuẩn mực cộng đồng bị đảo lộn. Sự tranh
giành địa vị xã hội của các thế lực chính trị đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào
tình trạng chiến tranh khốc liệt. Thời này bao gồm hai thời kỳ nhỏ là Xuân thu
(722-481 TCN) và Chiến quốc (403-221 TCN). Thực trạng đó của xã hội làm
xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những "kẻ sĩ" luôn tranh luận về
trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong tương lai. Lịch sử
gọi đây là thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia tranh minh"

thái cực (lực lượng) đối lập nhau là âm và dương. Nhưng hai thế lực Âm -
Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau.
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của
vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau,
tương sinh, tương khắc với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ.
Tóm lại, bằng lý luận Âm dương và lý luận Ngũ hành, Âm dương gia đã
đứng trên quan điểm duy vật chất phác để giải thích một cách máy móc sự phát
triển của thế giới. Chúng có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và
mục đích luận trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người. Ngoài ra, chúng
còn góp phần tạo nên cơ sở lý luận dẫn tới những phát minh về thiên văn, lịch
pháp, y học trong lịch sử Trung Hoa cổ trung đại.
1.2.3.2 - Nho gia :
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu, người
sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 TCN). Nho gia nguyên thuỷ là triết lý của
Khổng Tử và Mạnh Tử về đạo làm người quân tử vá cách thức trở thành người
quân tử, cách cai trị đất nước. Đồng thời chứa đựng nhiều giá trị nhân bản và toát
lên tinh thần biện chứng sâu sắc. Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 12
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau:duy vật và
duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng-Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất
trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
1.2.3.3 - Đạo gia :
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI TCN), học thuyết
của ông được Dương Chu và Trang Chu thời chiến quốc hoàn thiện và phát triển
theo hai hướng ít nhiều khác nhau. Những tư tưởng triết học của Đạo gia được
khảo cứu chủ yếu qua Đạo Đức kinh và Nam hoa kinh. Tư tưởng cốt lõi của Đạo
gia là học thuyết về “Đạo” với những tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết
“Vô vi” về lĩnh vực chính trị - xã hội.
1.2.3.4 - Mặc gia :

trọng. Do các nhà Triết học Trung Hoa sử dụng các phạm trù hoàn toàn khác
người Hy Lạp nên việc đưa ra những so sánh cho các khung phạm trù chung là
rất khó, vì vậy, trong khuôn khổ của tiểu luận này, phần 2 chỉ xin đưa ra một số
nhận định so sánh về ba vấn đề quan trọng nhất nhì đối với bất kỳ trường phái
triết học nào: siêu hình, tri thức luận và luân lý luận (quan điểm về đạo đức)
2.1 SIÊU HÌNH VÀ TRI THỨC LUẬN
Một điểm khác biệt cơ bản giữa Triết học Trung Hoa và Hy Lạp là bản
chất câu hỏi Triết học. Triết học Trung Hoa là ngôn từ “thông thái”, thường được
biểu đạt qua các câu chuyện, các câu châm ngôn nhằm hướng người nghe theo
một nhân sinh quan nào đó. Triết học Hy Lạp, cũng như phần đông các trường
phái Triết học phương Tây khác, lại là hệ thống tổng hợp các lý thuyết và luận
cứ. Có thật là tồn tại sự khác biệt này? Một lý do ta có thể nghĩ đến là tính cẩn
trọng trong các học thuyết Triết hoa khi diễn dịch các kết luận cho một trường
hợp cụ thể từ tổng quát. Chương 17 của tác phẩm Trang Tử miêu tả chuyện vua
Nghiêu tìm kiếm người thừa kế và lựa chọn được Thuấn là người thích hợp nên
đã thoái vị để Thuấn lên ngôi. Kết quả này thật là mỹ mãn. Tuy nhiên khi Kuai
muốn bắt chước vua Nghiêu thì kết quả thật tồi tệ. Tang và Wu là những vị vua
chiến đấu và chinh phục thành công. Bo cũng tương tự, chiến đấu nhưng thất bại.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 15
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
Vì vậy, không để đưa ra một quy luật “cố định không đổi” nào. Thông thường,
qua trải nghiệm và kiến thức trong một vài tình huống cụ thể, ta có xu hướng đưa
ra những quy luật chung mà ta tin là có thể ứng dụng trong các trường hợp khác
ở tương lai. Không may là, cái trải nghiệm và kiến thức đó thường bị thổi phồng
vượt quá phạm vi ứng dụng của nó. Những người theo Khổng Tử thường rất sẵn
sàng rao giảng các nguyên tắc quy luật nhưng các nguyên tắc này có vẻ như chỉ
đóng vài trò khởi nguồn giá trị hoặc các vấn đề chung mà cần phải có thêm các
suy luận, nhìn nhận xem nên làm như thế nào. Trong một tình huống cụ thể, luôn
luôn cần tư duy độc lập để ứng xử và giải quyết vấn đề. Ngay cả những nguyên
tắc hoàn hảo nhất cũng không thể được áp dụng trong các trường hợp khác

theo Đạo hướng con người theo nhân sinh quan mà bản thân họ rất khó dùng
ngôn từ để chứng minh là đúng, tuy nhiên lại được ủng hộ vì những người thực
hiện theo lối sống này đều có những trải nghiệm tương tự nhau. Chúng ta cùng
xem xét khái niệm “vô vi” và những minh họa cho khái niệm này thông qua câu
chuyện của Trang Tử. Người đầu bếp tên Đinh của Trang Tử có khả năng cắt thịt
bò ngọt đến nỗi thanh dao không bao giờ cùn. Mỗi khi thao tác, người này giống
như là múa dao hơn là cầm dao. Anh thực hiện không phải bằng tri thức và hiểu
biết mà là thông qua “khí”. Kỹ thuật tuyệt vời đó là do khả năng điều chỉnh các
chuyển động của bản thân mình. Như vậy, các mô tả về nhân vật này mang tính
cộng hưởng với những người thợ có tay nghề cao, khi mà khả năng của họ vượt
lên trên các kỹ thuật có nhận thức hay theo quy luật mà hoàn toàn đắm chìm
trong thế giới vật chất và cơ thể họ. Và như vậy, các nhà triết họ Trung Hoa đã
vẽ ra bức tranh thế giới trong đó sức mạnh được hiểu và đánh giá ở một khái
niệm rất rộng.
Như vậy, phải chăng, Triết học Hy Lạp mang tính biện chứng rõ nét trong
khi Triết học Trung Hoa chỉ mang tính mời gọi? Câu trả lời là, có sự khác biệt
giữa hai nền triết học này, nhưng đúng hơn là khác biệt ở mức độ chứ không phải
là hoàn toàn tương phản. Aristotle phát biểu rằng, các tranh luận về cái thiện
trong đời sống con người không thể nào được kết luận bằng người trẻ vì họ
không có đủ trải nghiệm sống. Platon cũng có những đưa ra những luận cứ phân
tích ủng hộ cho sự hòa hợp tâm hồn. Những mô tả này đôi khi chỉ đưa ra một số
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 17
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
luận cứ sơ sài cho các tiền đề quan trọng, hoặc đôi khi còn không có luận cứ.
Một số những đánh giá của ông, ví dụ về hiệu ứng phân liệt của sự gắn bó gia
đình và hiệu ứng phụ của tính dân chỉ đòi hỏi phải có trải nghiệm để chứng minh.
Đôi khi, sự khác biệt là do mong muốn chứng minh bằng luận cứ diễn dịch từ các
tiền đề mang tính hiển nhiên tự thân và các trải nghiệm thực tế trong cuộc sống.
Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng, bản thân trong Triết học Trung Hoa cũng tồn tại
các luận chứng. Ví dụ, Mặc Tử đã có những đóng góp rất quan trọng khi giới

hiếu đạo và tình anh em như là cội rễ cho phẩm hạnh của con người), không có
điểm nào cho thấy là những quan điểm đó chỉ áp dụng cho nền văn hóa Trung
Hoa mà cho nhân loại nói chung. Một cách để thấu hiểu là xem đó như là châm
ngôn mà loài người phải học để phản ứng trước một loại quyền lực không dựa
trên sức mạnh mà dựa trên sự quan tâm và sự tôn trọng. Hoặc có thể nhìn nhận
rằng, theo quan điểm của Khổng Tử, nhà cầm quyền không thể nắm được quyền
lực bằng chỉ đơn thuần luật pháp hay trừng phạt. Và những nhận định này cũng
không bị giới hạn trong phạm vi thời gian và không gian của chỉ một cá nhân. Về
Đạo Đức Kinh, rõ ràng là có những mối quan tâm mang tính thực tiễn trong phần
câu chữ. Người ta đưa ra lời khuyên về lối sống và có lẽ lối sống này bắt nguồn
từ việc truyền đạt kinh nghiệm. Mặt khác, có thể lập luận rằng, những mối quan
tâm mang tính kinh nghiệm và thực tiễn này không loại trừ các vấn đề siêu hình.
Ví dụ tại chương 4 của Đạo Đức Kinh, Đạo được hiểu là "hư không", là khởi
thủy của vạn vật. Với những khái niệm có vẻ siêu hình, ví dụ như Mạnh Tử từng
nhận xét, người ta có thể có trái tim thuần khiết nếu biết nuôi dưỡng "khí" của
mình. "Khí" bao la và không thể khuất phục, nếu biết nuôi dưỡng có thể lấp đầy
khoảng không giữa trời và đất. Như vậy, chúng ta rút ra rằng, không phải các nhà
Triết học không quan tâm đến vấn đề siêu hình, mà là họ không tách bạch các
vấn đề siêu hình với thực nghiệm như cách mà các nhà Triết học Hy Lạp thực
hiện.
Tuy nhiên, vấn đề này cũng đã được giải quyết nếu nhìn vào các nhà Triết
học cổ Trung Hoa. Những khái niệm như "vô thể" bản thân nó rõ ràng mang tính
siêu hình trong truyền thống Trung Hoa. Khái niệm này là nói đến cơ sở "vô
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 19
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
định" trong đó cái xác định "một vạn" là khởi đầu. Việc bao hàm cái "vô định"
trong cái "xác định" phản ánh quyết định tạo một vị trí cơ sở cho hiện tượng thay
đổi trong bản thể luận hơn là hơn là một thực thể ổn định tuyệt đối nhưng trong
bản thể luận của Aristole. Chu Hi - nhà Triết học đời Tống của Trung Quốc đã
diễn dịch lại các khái niệm đạo đức từ các bậc tiền nhân nhưng đặt trong vũ trụ

một số phẩm hạnh cần có của một người quân tử như: nhân, hiếu, nghĩa, lễ.
"Nghĩa" là khả năng đánh giá và hành trong một ngữ cảnh cụ thể. Trong khi các
quy tắc truyền thống về lễ nghi cho người ta nhận thức thế nào là lễ nghĩa và
những hành động được tôn trọng trong ngữ cảnh thông thường, "nghĩa" giúp
người ta biết được rằng khi nào thì những lễ nghi đó cần được đặt sang một bên
trong ngữ cảnh khác thường. Ví dụ của Mạnh Tử về vua Thuấn và người cha của
vua Thuấn cho thấy mối quan tâm lớn hơn và nghĩa vụ hiếu thảo với cha phải
được cân bằng theo cách mà những nguyên tắc có sẵn không thể nào chỉ lối được
mà cần được ứng xử linh hoạt tùy hoàn cảnh. Chúng ta xem xét một ví dụ khác
của Mạnh Tử, khi vua Thuấn muốn lập gia đình. Vua Thuấn biết rằng bố mẹ của
ông không phải là những người tốt nhất hay thông thái nhất, và sẽ chẳng để ông
kết hôn nếu biết ý định của anh. Vì vậy, vua Thuấn cứ lập gia đình mà không báo
cho cha mẹ biết, đây là hành động mà trong ngữ cảnh thông thường sẽ bị khép
vào tội bất hiếu. Tuy nhiên, có hai lý do có thể lý giải và khoan dung cho hành
động này. Thứ nhất, tội bất hiếu lớn nhất của một người là không có con nối dõi ;
thứ hai, nếu để cha mẹ ngăn cản mong muốn trải nghiệm điều tuyệt vời nhất
trong mối quan hệ của con người sẽ khiến ông oán trách cha mẹ. Vì vậy, hành
động được xem là bất hiếu trong ngữ cảnh thông thường lại được xem là có hiếu
trong trường hợp này. Do đó, cần có phương thức tư duy trong trường hợp cụ thể
và sau đó đánh giá khi áp dụng phương thức tư duy trong hoàn cảnh thông
thường để cân bằng các giá trị xung đột và xác định ý nghĩa cụ thể của các giá trị
riêng lẻ trong ngữ cảnh.
Điều này tương đồng với các giá trị đạo đức của Triết học Hy Lạp cổ. Ví
dụ, khái niệm eudaimonia (hạnh phúc, sống tốt) của Aristotle và khái niệm "đạo"
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 21
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
(cách mà người ta sống) của Khổng Tử đều là điểm khởi nguồn trong quan điểm
về đạo đức. Tiếp đến, cả hai đều đề cập về phẩm hạnh (Aristotle dùng khái niệm
"arete" , còn Khổng Tử dùng khái niệm "đức"). Nhìn chung, quan điểm đạo đức
của Trung Quốc và Hy Lạp hội tụ tại một điểm khi cùng tập trung một số phẩm

Ngoài tính tương đồng, tuy nhiên cũng tồn tại những khác biệt. Theo quan
điểm của Không Tử, để sống tốt người ta phải sống quây quần bên gia đình.
Chuẩn mực đạo đức của Hy Lạp không hề yêu cầu điều này. Một phần nguyên
nhân có lẽ xuất phát từ việc Khổng Tử cho rằng gia đình là cái nôi nảy sinh và
phát triển các mối quan hệ mà ở đó người ta quan tâm và tôn trọng lẫn nhau,
cũng là nơi những bài học đầu tiên về việc phải tuân thủ những quyền lực hợp
pháp xuất hiện. Mạnh Tử cho rằng sự hổ thẹn đóng một vai trò quan trọng trong
việc phát triển nhân cách con người, nhưng Aristotle thì không hề đưa ra một
khái niệm tương đương. Cách mà tư duy trong trường hợp cụ thể được miêu tả
trong các câu chuyện, ví dụ các câu chuyện về vua Thuấn là một đặc trưng của
học thuyết đạo đức Khổng Tử. Những câu chuyện này đưa ra các hình mẫu về
cách thức hành xử đúng đắn, các tấm gương nhân cách mà những người muốn
phát triển nhân cách cần học tập. Một đặc điểm khác của học thuyết Khổng Tử là
nó nhấn mạnh đến yếu tố mỹ học của một cuộc sống tốt. Làm theo lễ nghĩa
không chỉ đơn thuần là tuân theo các quy tắc trong trường hợp này hay trường
hợp kia mà phải hành xử với thái độ đúng đắn, tôn trọng, ví dụ khi trong cư xử
với cha mẹ phải thể hiện được ra ngoài sự tôn kính một cách rõ rệt mà không hề
hảm ẩn bất kỳ một sự xung đột nào có thể biến hành động đó thành một bản năng
phụ. Tầm quan trọng của "lễ", gắn liền với các nghi thức thể hiện cách thừa nhận
của Khổng Tử về vai trò của văn hóa và truyền thống trong việc giúp con người
bộc lộ thái độ với đối phương một cách tôn trọng và quan tâm . Mạnh Tử và
Tuân Tử từng có những tranh luận nảy lửa về bản chất con người và rằng liệu có
những xu hướng tự nhiện trong việc định hình nhân cách tốt của con người hay
không . Họ tranh luận sâu vào việc liệu các giá trị và chuẩn mực đạo đức là được
phát hiện ra hay được tạo dựng nên. Các luận cứ một phần dựa vào các giải thích
hợp lý bằng cách nào con người trở nên tốt đi hay xấu hơn. Xem xét tổng hợp
các yếu tố này, có thể thấy Triết học Khổng Tử cung cấp nền tảng tâm lý học đặc
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 23
Tiểu luận: Triết học GV: TS. Bùi Văn Mưa
biệt giàu tính đạo đức.

nhau phần nào đó. Ngay cả khi có cùng một vấn đề, cũng không thể kết luận rằng
cách giải quyết bên này là hoàn toàn sai hay bên kia là hoàn toàn đúng. Rất có
khả năng, mỗi nền Triết học bao hàm trong nó cách thức nhìn nhận về một số
mặt khác nhau của vấn đề và hoàn toàn có thể tiếp nhận thêm cách nhìn nhận ở
những khía cạnh khác của nền Triết học còn lại. Ví dụ quan niệm của Aristotle
xem người bạn như là cái tôi thứ hai, một tấm gương phản chiếu qua đó ta hiểu
rõ hơn về bản thân mình. Như vậy, siêu hình về linh hồn trong học thuyết của
Aristotle cung cấp một cái nhìn rất cần thiết và có thể xem là tiền đề cho khái
niệm phẩm hạnh đạo đức của Khổng Tử. Một ví dụ khác, siêu hình của Aristotle
thiên về hướng chủ nghĩa cá nhân quá nhiều, do đó không tạo được đủ sự chú ý
về các quan hệ xã hội lấy văn hóa làm trọng, mà các quan hệ này lại là cần thiết
để nâng đỡ cho các quan niệm về đạo đức của Aristotle. Do đó, trường phái của
Aristotle có thể hoàn thiện bằng cách ghi nhận tầm quan trọng của nghi thức và
sự đúng mực theo quan điểm của Khổng Tử. Khi chúng ta xem xét cùng lúc hai
nền Triết học, chúng ta sẽ có cơ hội thấy được những tương tác, những ảnh
hưởng bổ trợ cho nhau, trong trường hợp này là giữa nền Triết học thiên về
quyền con người và nền Triết học xem trọng giá trị cộng đồng và các mối quan
hệ. Như vậy, mục đích của công tác so sánh ngoài việc giúp thấy rõ sự bổ khuyết
giao thoa của hai nền Triết học mà còn giúp hoàn thiện, mở rộng tầm nhìn trong
các vấn đề Triết học giúp nâng cao năng lực tư duy.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 4 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status