TIỂU LUẬN QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI - Pdf 24

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 1
Giới thiệu 1
Triết học Nho Gia 1
Triết học Đạo gia 2
Triết học Mặc gia 3
Triết học Pháp gia 4
CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 7
1. Giới thiệu 7
Quan điểm Đêmocrit 8
Quan điểm Platon 10
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 13
1. Tư tưởng trị quốc của hai nền triết học Hy Lạp và Trung Quốc: 13
1.1 Tư tưởng trị quốc của nền triết học Trung Quốc: 13
1.2 Tư tưởng trị quốc của triết học Hy Lạp: 15
2. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Trung Quốc: 16
3. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Hy Lạp: 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là “vấn đề
về trị quốc”. Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào đường lối,
chiến lược trị quốc. Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳ khác nhau
(cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau. Các quan điểm được phát triển
trên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm. Mỗi tư tưởng
triết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhận thức luận,
đạo đức, chính trị, xã hội.
Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của các
nhà triết học thời kỳ cổ đại. Tuy chỉ là một mảng nhỏ trong nội dung của các tư

Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có
hiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này
gọi là quân tử. Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta trước
hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có
bổn phận phải "hành đạo". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho
đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên
hạ).
Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức
để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội. Tam cương và ngũ
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 1
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
thường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là
chuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọi
người tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,
thái bình.
Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh. Nhân là tình
người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằng tình
người. Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lập
thân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt”. Chính danh ở
đây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh
đó quy định. Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình. Nếu tất cả
mọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.
Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận. Lời nói
không thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọi
người nhắc lại. Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những người
sáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Triết học Đạo gia
Đạo gia là một trong sáu học phái lớn trong nền triết học Trung Quốc cổ đại, ra
đời sau thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo. Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra và sau
đó được Trang Tử phát triển thêm vào thời Chiến quốc (403-221 TCN) trong bối

có lợi cho nhân dân thì không làm. Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái 'dụng' của
sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa'. Theo Mặc Tử thì 'muôn việc không việc
gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa, lợi dã)
Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo minh
ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách mù
quáng. Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình chăm
lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt đối
không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân. Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc là
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 3
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trong
quốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội.
Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết trọng
dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa ra
quan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương thời
và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc qua
cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan trọng.
Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnh đạo
quốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoang
nhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc.
Triết học Pháp gia
Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh nhân loại, với nhiều
thành tựu vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc đứng trong hàng ngũ bốn nước cổ đại
có nền văn minh rực rỡ và lâu đời, là cái nôi sớm nhất của văn minh nhân loại.
Về tư tưởng, lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều nhất:
Xuân Thu (770 – 403 TCN) là thời kỳ sinh sống của Lão Tử và Khổng Tử và
Chiến Quốc (403 – 221 TCN) là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi Tử, đã hội tụ
những nhân tố cho sự phát triển đến đỉnh cao. Học thuyết pháp trị của phái pháp
gia hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ bởi các tác giả xuất sắc như: Quản
Trọng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi

hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến. Với Hàn
Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải trái,
tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều lấy
pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong việc
tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp luật
được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ". Theo Hàn Phi, “Thuật”
có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng quan lại;
Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ ra.Nói
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 5
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại những kẻ
bề tôi mình không cảm hóa được…Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi
rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ gian và dùng người.
Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi hỏi
tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về "Thế",
"Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau trong
một học thuyết duy nhất. Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử đó. Tư
tưởng chủ đạo của Pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật làm
trọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông dân
bao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được.
Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ trương
dùng phép trị để trị nước. Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần Thủy
Hoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thống nhất
được đất nước Trung Quốc sau những năm dài chiến tranh khốc liệt.
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 6
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Giới thiệu
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu

muôn vẻ…
Đặc điểm thứ hai, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, khẳng
định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới. Mặc dù vậy, con
người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở khía cạnh đạo
đức, giao tiếp và nhận thức.
Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phátvà biện chứng
sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy nhất thường
xuyên vận động và biến đổi không ngừng. Với ý nghĩa đó, những tư tưởng biện chứng
của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên của phép biện chứng.
Quan điểm Đêmocrit
Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hy Lạp cổ đại,
sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ Tơraxia, ven bờ
phía Bắc của biển Êgiê.
Đêmôcrit là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Ông là học trò của
Lơxíp và là người kế tục tư tưởng của Lơxip về nguyên tử và phát triển nó thành một
học thuyết gắn liền với tư tưởng của ông.
Nổi bật nhất trong triết học của Đêmôcrít là học thuyết về nguyên tử. Khái niệm
nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm về “tồn tại” và “không tồn tại”.
Trái với quan niệm của Platon thì tồn tại theo Đêmôcrít là cái xác định được, cái đa
dạng, cái có ngoại hình…
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 8
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Đối lập với cái tồn tại là cái không tồn tại hay cái trống rỗng. Cái trống rỗng là cái
không xác định, cái vô hình, bất động và vô hạn. Nó không ảnh hưởng gì các vật thể
nằm trong nó, nhờ đó mà vật thể vận động được trong cái trống rỗng, cái phần vật
chất thuộc cái tồn tại mà không chứa đựng trong nó một sự trống rỗng nào được gọi là
nguyên tử.
Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được, nhỏ bé có thể cảm nhận được
bằng trực quan. Nguyên tử là vĩnh cửu, bất biến. Nguyên tử có tính đa dạng, tự thân
không vận động và khi kết hợp với nhau thì tạo thành vật thể. Đêmôcrít cho rằng mọi

Athènes. Ông đã từng theo học với Socrate và trở thành một người đệ tử, một người
bạn trung thành đắc lực cho Socrate. Việc Socrate mất đã tác động mạnh mẽ tới tâm
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 10
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
thức Platon và từ đó ông thù ghét tư tưởng dân chủ, thù ghét quần chúng và cả giai
cấp quý tộc của ông. Ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị cho nhân loại cả về triết
học lẫn chính trị. Trong những tác phẩm của ông, nổi tiếng và đặc biệt nhất là tác
phẩm Cộng Hoà (Republic). Có thể nói đó là một cuốn bách khoa toàn thư vô cùng
giá trị trong lịch sử nhân loại.
Quan niệm về Quốc gia lý tưởng
Toàn bộ những tư tưởng về chính trị xã hội của Platon được gói gọn trong mô hình
“Quốc gia lí tưởng” mà ông đã dày công gầy dựng suốt cả cuộc đời. Trong mô hình
quốc gia lí tưởng ấy ta thấy nó thể hiện đầy đủ tất cả các vấn đề của đời sống mà xã
hội chúng ta ngày hôm nay vẫn còn đang băn khoăn suy nghĩ. Đó là một quốc gia
trong đó mọi người luôn được sống êm đềm hạnh phúc, đầy đủ và thoả mãn với
những gì mà họ đã tạo ra.
Xã hội trong quốc gia lí tưởng của Platon được phân chia thành ba giai cấp rõ rệt
tương ứng với từng bản tính và chức năng của mỗi giai cấp: giai cấp lãnh đạo tức là
những triết gia trí thức, hai là giai cấp chiến binh tức là những người tham gia vào
quan đội cảnh sát và ba là giai cấp thương nhân tức là những người buôn bán và sản
xuất lương thực. Quốc gia lí tưởng của Platon là một quốc gia cộng sản triệt để trong
đó, tất cả mọi cái đều được gom vào thành của chung. Tất cả lợi ích là vì xã hội, nhà
nước. Người lãnh đạo lý tưởng tất nhiên không ai khác hơn là giai cấp quý tộc nhưng
những người quý tộc này không được sở hữu bất cứ tài sản nào, kể cả vợ con riêng, sự
sở hữu kinh tế nông nghiệp cũng không được có sự quá chênh lệch giữa mọi người.
Về quan hệ xã hội thì mọi người đều phải có những vai trò và nhiệm vụ riêng theo
từng giai cấp đã được phân chia. Làm đúng theo nhiệm vụ ấy là bảo vệ và xây dựng
đời sống hạnh phúc. Mọi người đều phải được học hành, không có chiến tranh, kể cả
ngoại chiến lẫn nội chiến; các quan chức lãnh đạo phải là những triết gia vì những
người như họ mới đủ khả năng sáng suốt lãnh đạo, họ không được tham nhũng vơ vét

trong nền triết học Trung Hoa
Vì vậy, tư tưởng trị quốc của Trung Hoa cổ đại cũng bị chi phối và ảnh hưởng
với các tư tưởng triết học Đạo gia- cụ thể là những tư tưởng lý luận của Lão Tử
và Trang Tử. Lão Tử nổi bậc trong những tư tưởng lý luận về đạo và đức, về
quan niệm biện chứng về thế giới. Đối với tư tưởng trị quốc thì Lão Tử cho rằng
hành động hay nhất là đừng can thiệp đến việc đời, nhưng nếu đời cần ta phải
làm gì thì ta hãy làm cái không làm một cách kín đáo, khéo léo. Tư tưởng trị
quốc của ông cho rằng, chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến thành chất phát,
chính phủ tích cực làm việc thì dân sẽ đầy tai họa. Nếu Nho gia đòi hỏi người trị
vì thiên hạ là bậc Thánh nhân quân tử, sáng ngời các phẩm chất đạo đức; thì Lão
Tử cho rằng bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi.
Tư tưởng trị quốc mong muốn đưa xã hội về thời đại nguyên thủy chất phác, mơ
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 13
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
ước cô lập cá nhân với xã hội để hòa tan con người vào đạo. Xã hội lý tưởng của
ông là những nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi, có gươm giáo
nhưng không dung, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành. Dẫn hai nước cạnh
nhau, dù cách nhau bờ dậu nhỏ hay con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối,
tiếng gà gáy sáng…nhưng đến già đến chết họ không bao giờ qua lại thăm nhau.
Nếu xét về khía cạnh nguồn góc trong tư tưởng trị quốc thì cả hai tư tưởng của
Nho gia và Đạo Gia thì ở Nho gia coi trong việc học hành, giao dục và vần đề
này gắn liền với tư tưởng trị quốc của Nho Gia, nhưng Đạo gia thì quan trọng
hơn tư tưởng về mặt đạo đức, mong muốn xây dựng một xã hội lý tưởng dân ít
được giáo dục hơn, hướng về thiên nhiên ( đạo) sẽ tạo một cuộc sống yên lành.
Đối với Mặc Gia: Do Mặc tử sáng lập nên tư tưởng trị quốc của phái này gắn liền
và phản ánh rõ nét nguyện vọng của tầng lớp dân cư tự do, sản xuất nhỏ, tiểu
chủ. Vì vậy trong tư tưởng trị quốc của Mặc gia thì gắn liền với việc xây dựng
một xã hội lý tưởng, tại đó luôn có tầng lớp dân cư tự do, sản xuất nhỏ, tiểu chủ.
Tư tường trị quốc cũng gắn liền với quyền lợi của nhóm này. Mặc Tử trở thành
một trong những triết gia lớn vào thời Chiến quốc nhờ thuyết kiêm ái, thuyết tam

theo các chuẩn mực đạo đức và pháp lý.
Theo quan niệm của Planton: Ba bộ phận cấu thành trong linh hồn của con người
không giống nhau nên trong xã hội có ba loại người: triết gia, chiến binh và nông
dân, thợ thủ công, thương gia…- những người mà bộ phận cảm xúc trong linh
hồn họ đóng vai trò chủ đạo, họ thích nghi với lao động chân tay và đam mê vật
chất; Thượng đế sinh ra họ để đảm bảo đời sống vật chất cho xã hội. Platon coi
nô lệ không phải là con người mà là động vật biết nói. Ông lý luận rằng “ do
không có lý trí nên nô lệ không biết nhận thức, do không nhận thức nên không có
đời sống đạo đức, do không có đạo đức nên nằm ngoài chính trị. Nhà nước hình
thành để đảm bảo sự phân công trên thực hiện được. Vì vậy tư tưởng trị quốc này
gắn liền với đảm bảo quyền lợi của chế độ sở hữu tư nhân, nhằm đảm bảo quyền
lợi của giai cấp.
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 15
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
2. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Trung Quốc:
Tư tưởng triết học Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng trong việc trị quốc thời bấy
giờ. Trong bối cảnh có nhiều hệ thống triết học đã ra đời và phát triển nhằm đưa
ra những phương cách khác nhau cho những vấn đề thực tiễn chính trị- đạo đức-
xã hội mà thời đại đặt ra. Tư tưởng triết học này có mầm mống từ thần thoại đến
thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) với các biểu tượng như đế, thượng đế, quỷ
thần…Chúng hòa quyện vào thế giới thần thoại- tôn giáo chi phối mạnh đời sống
tính thần của người Trung Quốc.
Những tư tưởng triết học ra đời trong hoàn cảnh này nhằm tạo nên một hệ thống
tư tưởng trị quốc ở giai cấp thống trị, là nền tảng trong triết học cổ, tạo cơ sở cho
hệ thống thế giới quan và phương pháp luận sau này. Thời đại tư tưởng được giải
phóng, trí thức được phổ cập, nhiều học giả đưa ra học thuyết của mình nhằm
đóng góp phần biến đổi xã hội, ý nghĩa trong trị quốc, khắc phục tình trạng loạn
lạc bấy lâu nay.
Sự phát triển mạnh tư tưởng triết học thời kỳ này là cở sở để dân tộc Trung hoa
sáng tạo nên một nền văn hóa huy hoàng trong thời kỳ cực thịnh của phong kiến.

là gốc là nền tảng của chính trị.
Đối với Pháp gia thì tư tưởng cai trị gắn liền với pháp luật, lấy pháp luật làm căn
bản trong việc cai trị đất nước. Về nguyên tắc thì chủ trương pháp trị đối lập với
chủ trương nhân trị nhưng xét cho cùng thì pháp trị cũng chính là hinh thức cụ
thể của nhân trị. Tư tưởng trị vị này có ảnh hưởng sâu rộng đến thời kỳ trị vị của
Trung Quốc thời bấy giờ, nhờ vậy nước Tần đã trở nên hùng mạnh và thống nhất
được Trung Quốc. Nhưng mặt khác phái này quá nhấn mạnh biện pháp trừng
phạt nặng nè, phủ nhận tình cảm đạo đức, thủ tiêu văn hóa giáo dục là đi ngược
lại xu hướng phát triển của văn minh nhân loại. Vì vậy, do thực hành triệt để
pháp trị mà nhà Tần đã thống nhất được đất nước và cũng do thực hành triệt để
pháp trị mà nhà Tần mất nước. Từ thời Hán về sau, dù pháp gia không chính thức
được công nhận, nhưng những tư tưởng có giá trị của phái này đã được các học
phái khác hấp thụ để bổ sung và hoàn thiện quan điểm của mình.
Tóm lại, tư tưởng triết học Trung Quốc có đóng góp to lớn của tư tưởng Trung
Quốc cổ đại và nhất là cho sự nghiệp thống nhất Trung Hoa thời bấy giờ. Cần
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 17
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
khắng định rằng, trong bối cảnh Trung Hoa cuối thời Chiến quốc, tư tưởng triết
học, tiêu biểu là của Pháp gia mà Hàn Phi là tiêu biểu nhất có nhiều yếu tố tích
cục đáp ứng nhu càu phát triển của lịch sử, và đóng góp vai trò to lớn trong tư
tưởng trị quốc cùa thời đại.
3. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Hy Lạp:
Trong tư tưởng triết học Hy Lạp đều xoay quanh vấn đề về chiếm hữu nô lệ và
chế độ cộng hòa quý tộc. Hầu hết các triết gia thời kỳ này xuất phát từ tầng lớp
chủ nô nên quan điểm lý luận của họ hầu hêt đều đứng trên lập trường và quyền
lợi của giai cấp chủ nô. Họ xây dựng những quan niệm và học thuyết duy vật để
bảo vệ tầng lớp mình, bảo vệ chế độ chủ nô. Chẳng hạn như, Democrit là đại
biểu của tầng lớp chủ nô dân chủ, ông luôn xuất phát từ quan niệm duy vật để
bảo vệ quyền lợi của tầng lớp mình, bảo vệ chế độ dân chủ chủ nô. Do đó, tư
tưởng triết học này ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng trị quốc của giai cấp thống trị

không phải là một trật tự tốt, nhưng nó là một trật tự cần thiết, và phải cần bảo vệ
nó.
Những nhà triết học lỗi lạc thời bấy giờ đều nêu lên quan điểm chung về tư tưởng
thuộc tầng lớp mình, bảo vệ quyền lời của chính tầng lớp mình; do vậy tư tưởng
quốc trị nó cũng thấm sâu vào từng giai cấp ở từng thời kỳ, đường lối chính sách
quốc trị cũng đi đôi với quyền lợi giai cấp. Nhìn chung, tư tưởng quốc trị thời kỳ
này đã có phần phát triển và tiến bộ rõ nét. Tư tưởng triết học thời kỳ này có
phản ảnh rõ nét tư tưởng trị quốc của giai cấp chủ nô, ảnh hưởng đến đường lối
chính sách giai thống trị.
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 19
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng triết
học qua từng thời kỳ. Hầu hết các triết gia đều đứng trên quan điểm duy vật và
duy tâm để lý luận về quan niệm chính trị xã hội. Những lý luận của các triết gia
lỗi lạc có thể khác nhau nhưng đều đứng trên quan điểm lập trường của giai cấp
của mình, đưa ra những chuẩn mực xã hội sâu rộng, giá trị con người, và đặc biệt
là quan điểm về cách trị quốc.
Tư tưởng trị quốc này ra đời và dựa trên nền tảng và cơ sở của triết học cổ đại.
Những tư tưởng này có ý nghĩa hết sức quan trọng cho đến ngày nay.
Bên cạnh có ý nghĩa quan trọng trong việc trị quốc thì những tư tưởng này đều
nhằm nhấn mạnh đến việc giáo dục đào tạo giá trị con người. Các chuẩn mực đạo
đức và con người được đề cao trong tư tưởng triết học và giá trị này vẫn coi trọng
cho đến ngày nay.
SVTH: Võ Thị Uyên Phương- K20Đ1- STT 079 Page 20
Đề số 13: Quan điểm về cách trị quốc của triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa, TS. Trần Nguyên Ký, PGS TS Lê Thanh Sinh, TS
Nguyễn Ngọc Thu, TS. Bùi Bá Linh, TS. Bùi Xuân Thanh, Triết học,
phần 1, đại cương về lịch sử triết học ( Dùng cho học viên cao học &


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status