TIỂU LUẬN QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 13:
QUAN ĐIỂM TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ
TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI
SVTH : Lê Hữu Phước
STT : 80
Nhóm : 5
Lớp : Cao học đêm 1 - Khóa 20
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa

Tp. Hồ Chí Minh 2011
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 4
CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 10
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 18
KẾT LUẬN……………………………………………………………… ……………………24
2
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là
“vấn đề về trị quốc”. Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào
đường lối, chiến lược trị quốc. Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳ
khác nhau (cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau. Các quan điểm được
phát triển trên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm. Mỗi
tư tưởng triết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhận
thức luận, đạo đức, chính trị, xã hội.
Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của

Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn
lạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền
bá các tư tưởng đó. Do đó, sau này ông được xem là người sáng lập ra Nho giáo.
Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội
có hiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng
này gọi là quân tử. Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta
trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử
phải có bổn phận phải "hành đạo". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia
đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống
nhất thiên hạ).
Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ
đức để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội. Tam cương và
4
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
ngũ thường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là
chuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọi
người tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,
thái bình.
Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh. Nhân là
tình người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằng
tình người. Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lập
thân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt”. Chính danh ở
đây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh
đó quy định. Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình. Nếu tất cả
mọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.
Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận. Lời nói
không thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọi
người nhắc lại. Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những người
sáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
3. Triết học Đạo gia

Bất cứ chính sách hay phương pháp nào cũng phải giúp cho nhân loại thăng
tiến. Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh
giá tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu
không có lợi cho nhân dân thì không làm. Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái
'dụng' của sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa'. Theo Mặc Tử thì 'muôn việc
không việc gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa,
lợi dã)
Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo
minh ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách
mù quáng. Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình
chăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt
đối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân. Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc
6
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
là sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trong
quốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội.
Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết
trọng dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa
ra quan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương
thời và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc
qua cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan
trọng.
Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnh
đạo quốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoang
nhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc.
5. Triết học Pháp gia
Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh nhân loại, với
nhiều thành tựu vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc đứng trong hàng ngũ bốn nước
cổ đại có nền văn minh rực rỡ và lâu đời, là cái nôi sớm nhất của văn minh nhân
loại. Về tư tưởng, lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều

thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo
Pháp". Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia,
là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính
như: 1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ
thi hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến. Với
Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải
trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều
lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong
việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp
luật được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ". Theo Hàn Phi,
“Thuật” có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng
8
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
quan lại; Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ
ra.Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại
những kẻ bề tôi mình không cảm hóa được…

Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ
gian và dùng người.
Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi
hỏi tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về
"Thế", "Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau
trong một học thuyết duy nhất. Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử
đó. Tư tưởng chủ đạo của Pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật
làm trọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông
dân bao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được.
Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ
trương dùng phép trị để trị nước. Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần

10
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
- Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá
Triết học Hy Lạp cổ đại có những đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất, triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý
nhất của nhận thức nhân loại từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức
sản xuất thứ hai ở phương Tây. Vì vậy ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơ
bản của thế giới quan và là một hệ thống tập hợp các tri thức về tự nhiên, về con
người, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc nhưng cũng vô
cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ…
Đặc điểm thứ hai, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người,
khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới. Mặc dù
vậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở
khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức.
Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phátvà
biện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy
nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng. Với ý nghĩa đó, những tư
tưởng biện chứng của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên của
phép biện chứng.
2. Quan điểm Đêmocrit
Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hy
Lạp cổ đại, sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ
Tơraxia, ven bờ phía Bắc của biển Êgiê.
Đêmôcrit là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Ông là
học trò của Lơxíp và là người kế tục tư tưởng của Lơxip về nguyên tử và phát
triển nó thành một học thuyết gắn liền với tư tưởng của ông.
Nổi bật nhất trong triết học của Đêmôcrít là học thuyết về nguyên tử. Khái
niệm nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm về “tồn tại” và “không
tồn tại”. Trái với quan niệm của Platon thì tồn tại theo Đêmôcrít là cái xác định
được, cái đa dạng, cái có ngoại hình…

Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, Đêmôcrít thể hiện lập trường của tầng lớp
dân chủ chủ nô, ông đấu tranh bảo vệ nền dân chủ Aten. Ông coi chế độ nô lệ là
hợp đạo lý, nền tảng của nó là nhà nước của giai cấp chủ nô. Ông có những quan
điểm tiến bộ về mặt đạo đức. Phẩm chất con người theo ông không phải ở lời nói
mà ở việc làm. Mục tiêu của con người, theo ông là hướng tới tự do và hạnh
phúc, nhưng hạnh phúc không phải là sự giàu có, mà là sự thanh thản tâm hồn
được tự do. Về vấn đề tôn giáo, Đêmôcrít và các nhà nguyên tử luận nghiêng về
lập trường vô thần.
Cần phải biết rằng, trước Démocrite và cùng thời với ông đã có rất nhiều
người ''mỏi gối chồn chân'' trên con đường đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Thế
giới được cấu tạo như thế nào? Các triết gia thời Trung Quốc cổ đại đề xướng
thuyết Âm Dương ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Trong khi đó, ở Ấn
Độ thời cổ đại lại xuất hiện thuyết Lôcaita cho rằng: vạn vật đều do bốn nguyên
tố ban đầu là: đất, nước, lửa và không khí tạo nên. Còn ở Hy Lạp thời cổ đại lại
có nhiều thuyết khác nhau. Héraclit (thế kỉ 6 tCn.) xem lửa là bản chất của thế
giới trong khi Ananimène - người cùng thời với ông lại cho rằng không khí mới
thực là bản chất của thế giới. Thalès (640 – 546 tCn.) - người được mệnh danh là
một trong bảy ''người hiền'' thời Hy Lạp cổ đại chủ trương bản chất của thế giới
là nước. Giữa rất nhiều học thuyết khác nhau với những lập luận khác nhau ấy,
Démocrite đã tạo nên một học thuyết tuy còn mang nhiều tính trực cảm nhưng đã
chinh phục được giới khoa học mọi thời đại. Có thể xem như ông đã đặt viên
gạch nền móng cho công cuộc xây dựng một nền khoa học thực thụ - một nền
khoa học vô thần, thoát khỏi mọi rào cản tôn giáo và sự níu kéo của chủ nghĩa
duy tâm. Thuyết nguyên tử của Démocrite với xu hướng cổ vũ cho tư tưởng vô
thần chắc hẳn đã bị phản đối dữ dội bởi số đông tăng lữ và những người theo tư
tưởng duy tâm thời bấy giờ. Nhưng chân lý vẫn là chân lý, Chúng ta phải cảm ơn
vì Démocrite đã nuôi lớn trí tuệ loài người thêm một bậc bằng học thuyết đúng
đắn của ông. Bởi lẽ, loài người sinh ra và tự nuôi lớn trí tuệ mình bằng vô vàn
13

Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Về quan hệ xã hội thì mọi người đều phải có những vai trò và nhiệm vụ
riêng theo từng giai cấp đã được phân chia. Làm đúng theo nhiệm vụ ấy là bảo vệ
và xây dựng đời sống hạnh phúc. Mọi người đều phải được học hành, không có
chiến tranh, kể cả ngoại chiến lẫn nội chiến; các quan chức lãnh đạo phải là
những triết gia vì những người như họ mới đủ khả năng sáng suốt lãnh đạo, họ
không được tham nhũng vơ vét của cải của dân. Những của cải của người dân
làm ra phải được phân chia một cách đồng đều để không ai quá giàu hoặc quá
nghèo. Ông chủ trương một nhà nước lí tưởng cần phải có địa hình nằm sâu vào
trong đất liền để tránh giao thương buôn bán mà chỉ phát triển về nông, thủ công
nghiệp là đủ.
Và tất nhiên, xã hội đó là một xã hội quý tộc dân chủ, tất cả mọi tài năng đều
có cơ hội phát triển đồng đều, dù là con vua hay con chúa cũng bắt đầu ngang
nhau. Trong chế độ này hoàn toàn không có giai cấp, không có vấn đề cha truyền
con nối, nếu không có năng lực thì sẽ bị đào thải, dù là con vua.
Một nền thể chế chính trị hay xã hội nếu làm cho trọn vẹn quá trình đào tạo
“chất liệu cấu tạo triết lý chính trị” như vậy tất nhiên đã bảo đảm được phần nội
lực bên trong từ đó tiến lên xây dựng quốc gia xã hội không còn là chuyện khó.
Bàn về nhà nước lí tưởng của Platon thì người khâm phục cũng nhiều mà
người chê bai cũng không ít. Cái được với ông là mặc dù nhiều người cho nó là
một xã hội “không tưởng” thế nhưng nó đã có cả một cơ sở về sau đó là giáo hội
Thiên Chúa giáo La mã sống theo tinh thần của ông suốt hơn một ngàn năm ở
châu Âu và gần đây nhất có nhà nước Cộng Sản Liên Xô hay như nhà nước cộng
sản Việt Nam.
Nhưng cái mất là xã hội chính trị lí tưởng của ông mặc dù được che đậy
bằng những ý tưởng rất tốt đẹp như công bằng hạnh phúc nhưng nó đã không
bảo đảm được những vấn đề cơ bản của cá nhân bởi “những mối nguy hiểm đều
15
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
bắt nguồn từ những ý định rất tốt đẹp là xác lập sự công bằng chung cho mọi

biết nuôi dưỡng nghệ sĩ”.
17
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN
1. Tư tưởng trị quốc của hai nền triết học Hy Lạp và Trung Quốc
Nếu Socrates đã từng chết để bảo vệ chân lý; nếu Plato đã từng bị bắt làm nô
lệ chỉ vì ông muốn hoàn tất lý tưởng "cộng hòa"; nếu triết học của Aristotle đã
từng ảnh hưởng Alexander Ðại Ðế trong giấc mộng đế quốc, thì chúng ta phải
nói, triết học luôn gắn liền với phương thế trị quốc bình thiên hạ. Nếu Khổng Tử
đề nghị tu thân, thì Tuân Tử lại đề nghị kiêm ái như là một phương thế để trị dân.
Nếu Hàn Phi ca tụng luật pháp thì Mạnh Tử lại đề nghị thân dân. Song nói một
cách chung, các lý thuyết triết học của Trung Quốc và Hy Lạp có một đôi chút
khác biệt: đó là, triết đông chú trọng đến hành chánh, bảo vệ và hoàn thiện con
người và xã hội, song triết Hy Lạp lại chú trọng đến vai trò phê bình, cách mạng
và tiên tri.
Chính vì vậy mà các nền triết học Ðông phương dễ biến thành ý hệ, và các
triết gia của họ thường là những người nắm quyền, nhất là từ thời Tống trở về
sau. Trong đoạn này, chúng tôi muốn nói đến vai trò tiên tri, và cách mạng của
triết học. Lẽ tất nhiên, chúng tôi không hoàn toàn phủ nhận công năng của triết
học như là một công cụ hành chánh, điều hành, giữ trật tự. Song chúng tôi nhận
định rằng, nếu chỉ có như vậy, triết học sẽ mất lý do tồn tại, và biến thành một
nền ý hệ, hay một hệ thống pháp luật và đạo đức.
Sự khác biệt giữa triết học và triết lý thực hành nằm ở điểm triết học luôn
phản tỉnh về chính mình, về thế giới, về bất cứ một hệ thống, kết cấu hay cơ cấu
nào trong khi triết lý thực hành chỉ chú trọng đến khía cạnh thực dụng. Vậy thì,
bất cứ một nền triết học thuần túy nào cũng phải giữ vai trò tiên tri, và cách
mạng. Ðó là một triết học đi trước dẫn đường, chứ không phải một ý hệ, tức một
triết lý đi sau nhắm giải thích, và củng cố quyền lực. Ðể được như vậy, theo
Marx, triết học phải có hai yếu tố: triết học là một sự phê bình liên tục tình trạng
18

Triết học Hy Lạp thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng
phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn
toàn cái ở giai đoạn trước.
Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng có
nét khác biệt. Triết học Trung Quốc nghiêng về thống nhất hay vận động vòng
tròn, tuần hoàn. Triết học Hy Lạp nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát
triển theo hướng đi lên.
Triết học Hy Lạp thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống
còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa
học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
Khuynh hướng nổi trội của Triết học Trung Quốc lại là hướng nội, bị động, trực
giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập
thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều
tới quan hệ
Triết học Trung Quốc Triết học Hy Lạp
Tinh thần - Đời người - Tĩnh lặng
cảm nhận các mối quan hệ
Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ,
quyết liệt, Sức động, quan tâm thực
thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ
thuật
Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo
đức Con người, đạo học
Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm
sự vật/hiện tượng Vũ trụ, học
thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày
20

21
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Vai trò đóng góp tích cực của triết học nho gia là rất to lớn trong lịch sử phát
triển của nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam, và những đóng góp nhất
định của ông đối với thế giới ngày nay. Tháng giêng 1988 ở Paris, những người
được trao giải Nobel đã tuyên bố : “Nếu loài người muốn sống trong hòa bình và
thịnh vượng trong thế kỷ XXI thì họ phải quay lại 2.500 năm trước và tìm kiếm
đến sự thông tuệ của Khổng Tử”.
Thế kỷ XXI sẽ tiến bộ, không chỉ biết triết học nho gia mà còn khai thác và phát
huy những thành tựu vĩ đại của nhân loại từ xưa đến nay, trong đó Khổng Tử là
một phần đóng góp. Thế kỷ XXI, với những phát minh còn kỳ diệu hơn ngày nay
rất nhiều, với đầu óc sáng suốt và nhân đạo hơn, tự nó biết đẩy lui vào quá khứ
những sự kiện đáng buồn trong quan hệ giữa người với người, những xung đột về
sắc tộc và tôn giáo, những mâu thuẫn và phát triển xã hội và môi trường sinh
thái, và sẽ mở ra một kỷ nguyên mới, nhân loại thực sự tiến bộ và văn minh, một
nhân loại đi từ quá khứ đến tương lai.
3. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Hy Lạp
3.1 Triết học Đêmocrit
Đêmocrit có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về nhận thức. Ông đặt ra
và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm
giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc
nhận thức tự nhiên.
Triết học Đêmôcrit đã bền bỉ đấu tranh cho quan niệm duy vật về tự nhiên. Nó đã
có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tiếp theo của triết học duy vật.
3.2 Triết học Platon
Nếu ở Đêmocrit, phép biện chứng được sử dụng để phục vụ khoa học thì ở
Platôn phép biện chứng lệ thuộc vào triết học duy tâm. Đường lối Platôn chống
22
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
lại đường lối Đêmôcrit trong triết học Hi Lạp cổ đại, chống lại thuyết nguyên tử

triển của các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêng. .

24
Quan điểm trị quốc của các nhà triết học cổ đại GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Triết học Phần I Đại cương về Lích sử Triết học - TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên),
2010
2) Triết học và Bức tranh VẬt lý học về Thế giới- TS. Bùi Văn Mưa - NXB Đại
học Quốc gia TPHCM 2008
3) c
4)
Thuc/Ve_so_phan_cua_Nho_giao /
5)
nhng-chiu-hng-ca-trit-hc-hin-i&Itemid= 5
6)
xa-hoi-cua-platon.htm l
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status