Thực trạng áp dụng các công cụ quản lý rừng A Lưới - Pdf 24

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
A lưới là một huyện vùng cao của tỉnh Thừa Thiên Huế, có tổng diện tích tự nhiên
là 1229,02 km2, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 73.561,6 ha, chiếm 65% tổng diện
tích đất tự nhiên. Rừng và đất lâm nghiệp ở A Lưới đã và đang bị suy giảm do nhiều
nguyên nhân như ảnh hưởng của chất độc trong chiến tranh, khai thác không hợp lý cho
tiêu dùng và sản xuất, v.v. Cũng như nhiều nơi khác, công tác quản lý và sử dụng nguôn
lợi từ rừng và đất rừng ở đây đang nẫy sinh nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Thiếu
sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ và chức năng quản lý rừng.
Nhiệm vụ và hệ thống tổ chức lâm nghiệp các cấp không ổn định và còn chồng chéo.
Giữa cách thức quản lý Nhà nước và cách thức quản lý truyền thống về rừng đang còn
nhiều mâu thuẫn và xung đột. Vì vậy, hiệu quả của công tác bảo tồn và phát triển tài
nguyên rừng và đất rừng còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến đời sống của các
cộng đồng dân cư, nhất là cộng đồng các dân tộc thiểu số sống trên và gần địa bàn rừng.
Thử thách lớn cho việc quản lý bền vững tài nguyên rừng và đất rừng bảo vệ và phát triển
nguồn tài nguyên cùng với việc giảm nghèo cho người dân địa phương (Bảo, 1999).
Chính vì vậy nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Thực trạng áp dụng các công cụ
quản lý rừng A Lưới” nhằm nghiên cứu thực trạng các công cụ quản lý tài nguyên rừng
và ảnh hưởng của nó đến sinh kế của người dân miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế, góp phần
cải thiện công tác quản lý rừng bảo đảm cả mục tiêu bảo vệ và phát triển nguồn tài
nguyên cùng với việc cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận
 Khái niệm quản lý môi trường
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ
thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững
kinh tế xã hội quốc gia.
 Khái niệm công cụ quản lý môi trường
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý
môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công cụ có một
chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
1

2
môi trường và khí hậu thay đổi, đe doạ sự sống trên khắp Trái đất. Ước tính của Tổ chức
Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho biết, mỗi năm 130.000km² rừng trên thế giới bị
biến mất do nạn phá rừng. Điều này khiến cho môi trường sống của 2/3 loài trên Trái đất
bị thu hẹp, đa dạng sinh học bị suy giảm, và với đà này, trong tương lai không xa, mỗi
ngày chúng ta sẽ phải nói lời chia tay với 100 loài. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi đất rừng
sang đất nông nghiệp, đất định cư, thu hoạch gỗ không bền vững, quản lý đất đai không
hiệu quả cũng là những lý do phổ biến nhất cho sự thất thoát rừng ở nhiều khu vực trên
thế giới.
Thực tế cho thấy, nếu chỉ có các biện pháp mệnh lệnh – điều khiển truyền thống như
luật pháp, ký kết công ước thì không thể bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên còn lại
của nhân loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Một
trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cả cộng đồng quốc tế cũng như từng
quốc gia đặc biệt quan tâm, đó là cùng với những giải pháp truyền thống trên, cần thiết
lập phương pháp Quản lý rừng bền vững (QLRBV) và cấp Chứng chỉ rừng (CCR). Từ
đó, một tổ chức quốc tế hoạt động độc lập, Hội đồng Chứng chỉ rừng (FSC) được thành
lập năm 1993, với nhiệm vụ thúc đẩy quản lý rừng của thế giới có hiệu quả về kinh tế, xã
hội và môi trường. FSC cung cấp một hệ thống cho việc công nhận tự nguyện và chứng
nhận cho phép người sở hữu chứng chỉ cho thị trường các sản phẩm và dịch vụ của họ
như là kết quả của việc quản lý có trách nhiệm. FSC có bộ tiêu chuẩn cho sự phát triển và
phê duyệt các tiêu chuẩn quản lý quốc tế, phù hợp với từng loại rừng. Dựa trên các tiêu
chuẩn, FSC cung cấp một hệ thống chứng nhận cho các tổ chức để tiếp thị sản phẩm của
họ đó là Chứng chỉ FSC. Với các sản phẩm được FSC công nhận sẽ được thị trường thế
giới chấp nhận với giá cả cao hơn và có thị trường rộng hơn, thậm chí một số thị trường
nếu không có chứng nhận của FSC sẽ không trao đổi được. Cho đến năm 2010, đã có hơn
118,33 triệu ha rừng tại 82 nước được cấp chứng chỉ và có hơn 12.000 cơ sở, vận chuyển,
chế biến sản phẩm gỗ tại 83 quốc gia được cấp Chứng chỉ của FSC quốc tế. Bên cạnh
hình thức “quản lý rừng bền vững” và “cấp chứng chỉ rừng” còn có hình thức quản lý tư
nhân – công cụ kinh tế. Đây là hình thức quản lý thấp nhất về quy mô. Trong đó, mỗi cá
thể là một chủ thể được giao trách nhiệm quản lý chất lượng môi trường ở một khu vực

2.2 Thực trạng áp dụng các công cụ quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam
4
Việt Nam cũng như các nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyến đổi, nhu
cầu sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng rất lớn, do vậy, tài nguyên rừng đã và đang bị
suy giảm nhiều. Nước ta được xem là nước có diện tích rừng tự nhiên tương đối lớn trong
vùng Đông Nam Á. Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích rừng của cả nước
năm 2010 là 13.258.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, diện tích
rừng trồng là 2.919.538 ha, độ che phủ là 39,1%. Tuy diện tích rừng có tăng lên trong
những năm gần đây do thực hiện các chương trình trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh tự nhiên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm, do việc khai thác rừng tự
nhiên không đúng quy trình, khai thác bất hợp pháp. Để có thể quản lý tốt tài nguyên
rừng nước ta cũng đã và đang phấn đấu nâng cao hiệu quả của các công cụ quản lý.
• Công cụ mệnh lệnh kiểm soát
* Các văn bản pháp luật
Cho đến năm 2010, nước ta đã có 25 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
quản lý rừng bền vững. Trong đó, số văn bản thuộc các cấp ban hành là: Quốc hội: 3,
Chính phủ: 7, Thủ tướng Chính phủ: 5, Bộ NN-PTNT: 10. Các đạo luật lâm nghiệp và
Chiến lược lâm nghiệp quốc gia thể hiện cam kết thực hiện quản lý rừng bền vững. Các
vấn đề về Quản lý rừng bền vững là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược
và kế hoạch hành động của nước ta. Điều này được thể hiện trong các văn bản pháp quy
dưới đây:
- Luật đất đai năm 2003
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004
- Chương IV - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020
- Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 của thủ tướng chính phủ về việc
ban hành quy chế quản lý rừng.
- Thông tư số 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/3/1999 của Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn về việc hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng ở địa
phương.

công trong công tác bảo vệ rừng (ví dụ: Khu rừng Miếu Cấm với diện tích 10ha ở làng
Nghi Sơn, xã Quế Hiệp - Quế Sơn - Quảng Nam và gần 250 ha rừng chủ yếu là keo, bạch
đàn được bảo vệ nghêm ngặt ở xã Quế Hiệp; Rừng Nà với diện tích hơn 350.000 m
2

làng Lương Nông, xã Đức Thạnh - Mộ Đức - Quảng Ngãi …) Tuy nhiên, nhiều quy định
6
trong hương ước không phù hợp với quy định của pháp luật, các quyết định vượt quá
thẩm quyền của cấp xã như: trục xuất người vi phạm ra khỏi cộng đồng, thu hồi rừng nhà
nước đã giao cho người có hành vi vi phạm quy ước bảo vệ rừng, bắt giam người vi phạm
quy ước … Người soạn thảo quy ước không hiểu rõ, không nắm vững luật, trình độ văn
hoá thấp nên chất lượng quy ước bảo vệ rừng không cao.
• Công cụ kinh tế
* Giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp
Nước ta đã thực hiện giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia
đình,cá nhân từ năm 1994 (theo nghị định số 02/1994/NĐ-CP ban hành ngày 15 - 01 -
1994) để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, nhằm tạo động lực kinh tế khuyến
khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng; làm cho thu nhập từ rừng trở
thành một nguồn thu đáng kể, góp phần bảo đảm cuộc sống của những người làm nghề
rừng, đồng thời làm rõ trách nhiệm của người được giao, cho thuê, nhận khoán rừng đối
với việc bảo vệ và phát triển rừng. Các hộ gia đình, cá nhân được quyền hưởng lợi các
sản phẩm trên đất lâm nghiệp như: gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm trồng xen … theo quy
định nhưng bên cạnh đó, các hộ gia đình, cá nhân cũng phải có trách nhiệm bảo vệ và
phát triển rừng, nộp thuế cho Nhà nước theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ra ngày 12/11/2001. Việc giao đất giao rừng cho nhân dân, cho các làng
bản đã tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế không phải bằng nghề khai thác
rừng, mà bằng việc phát triển rừng, bảo vệ rừng và được hưởng lợi từ các sản phẩm tận
dụng của rừng. Cuộc sống của đồng bào được cải thiện và các khu rừng được bảo vệ,
phát triển (theo tổng cục thống kê, diện tích rừng trồng tăng qua các năm, cụ thể: năm
2008 là 200.100 ha, năm 2009 là 243.000 ha và sơ bộ năm 2010 là 252.500 ha). Nhưng

những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó. Cụ
thể: các khu rừng đầu nguồn có tác dụng giữ nước, duy trì chất lượng nước, chống sạt lở
đất và lũ lụt cho hạ lưu … nên những người được hưởng lợi ở hạ lưu cần chi trả một
khoản tương xứng cho những người trực tiếp tham gia duy trì và bảo vệ các chức năng
của rừng đầu nguồn.
Nước ta đã thực hiện thí điểm PES tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Sơn La nhưng có ảnh
hưởng thi hành đến nhiều tỉnh thành như Lâm Đồng, Sơn La, Đồng Nai, Ninh Thuận,
Bình Thuận, Hoà Bình và thành phố Hồ Chí Minh với các loại dịch vụ: điều tiết nguồn
8
nước; hạn chế xói mòn, bồi lấp; cảnh quan du lịch. Và mới đây, từ ngày 1/6/2011 PES đã
được áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế với mức thu chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng
là 40 đồng/m
3
nước tiêu thụ. PES đã tạo cơ chế khuyến khích và mang lại lợi ích cho
cộng đồng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái, nhằm thực hiện xã hội hoá nghề rừng để bảo
vệ, phát triển rừng cùng các hệ sinh thái, tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo
tồn đa dạng sinh học, nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân đối
với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng.
* Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng (QLRBV & CCR)
Trong thời gian qua do nhu cầu về QLR và tiêu thụ sản phẩm, một số đơn vị tư
nhân, nhất là các đơn vị trồng rừng, khai thác, chế biến gỗ liên doanh hoặc 100% vốn
nước ngoài đã tự xây dựng kế hoạch thực hiện và được cấp Chứng chỉ FSC (Hội đồng
Chứng chỉ rừng (FSC) được thành lập năm 1993, với nhiệm vụ thúc đẩy quản lý rừng của
thế giới có hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường) quốc tế hoặc Chứng chỉ quản lý
rừng tương đương cho đơn vị mình.
QLRBV và CCR đã và đang trở thành một công cụ để quản lý kinh doanh rừng
trong giai đoạn hiện nay. Nước ta đã thực hiện cấp chứng chỉ rừng cho nhiều đơn vị như:
cấp chứng chỉ cho 9,9 ha rừng tại công ty TNHH trồng rừng Quy Nhơn, 6000 ha rừng và
đất lâm nghiệp của Tổng Công ty Giấy Việt Nam (VINAPACO) và đặc biệt đã cấp chứng
chỉ cho nhóm trồng rừng gồm 118 hộ sinh sống tại 5 thôn thuộc hai huyện Gio Linh và

đây là một số công cụ đã được áp dụng:
1. Công cụ mệnh lệnh kiểm soát
Đây là phương thức tồn tại rõ nét nhất và có quyền lực cao nhất trong việc ra các
quyết định liên quan đến quản lý rừng trên địa bàn. Đặc điểm của phương thức quản lý
này là thực hiện các chức năng nhiệm vụ quản lý rừng với phương pháp tiếp cận từ trên
xuống và chú trọng chủ yếu đến vấn đề lâm luật, cụ thể là ban hành các văn bản pháp luật
và xây dựng các hương ước bảo vệ rừng.
• Các văn bản pháp luật
UBND huyện đã ban hành các văn bản trong lĩnh vực QLBVR-PCCCR phục vụ kịp
thời cho công tác chỉ đạo điều hành gồm:
10
- Chỉ thị số 01/CT-UBND, ngày 04/01/2010, Về việc tăng cường các biện pháp
trong quản lý nương rẫy, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2010;
- Chỉ thị số 30/2010/CT-UBND, ngày 08/10/2010 về tăng cường các biện pháp cấp
bách quản lý, bảo vệ rừng;
- Quyết định 1201/QĐ-UBND, ngày 29/10/2009 của UBND huyện về việc kiện
toàn BCH thực hiện Chỉ thị 12- 08/TTg & Phòng cháy chữa cháy rừng;
- Công văn số 12/UBND-NN, ngày 18/01/2011, về việc tăng cường các biện pháp
trong quản lý nương rẫy, phòng cháy chữa cháy và chống chặt phá rừng;
Với các văn bản pháp luật trên sẽ giúp cho công tác bảo vệ rừng thực hiện dễ hơn,
người dân nghiêm túc hơn trong việc khai thác, bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài ra, hình
thức quản lý này còn có ưu điểm là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cả về kỹ
thuật và hiểu biết lâm luật nên có thể giải quyết tốt những vấn đề chuyên môn như chống
cháy rừng, dự báo và phòng trừ sâu bệnh hại, kỹ thuật tạo giống, xử lý vi phạm lâm luật.
Nhưng phần lớn các trường hợp vi phạm luật bảo vệ rừng, khai thác rừng trái phép, phá
rừng làm nương rẫy đều là dân tộc thiểu số, những hộ gia đình có đời sống kinh tế khó
khăn nên việc xử phạt cũng không có hiệu quả vì họ không có tiền để nộp, khi không có
đất sản xuất thì buộc họ phải phát rừng làm nương rẫy để có cái ăn dẫn tới tình trạng các
cơ quan chức năng rất khó khăn trong việc giải quyết tình trạng phá rừng, khai thác rừng
trái phép trên địa bàn huyện.

cho các hộ dân trên địa bàn bảo vệ với diện tích 2.987,9 ha, với tổng số vốn 299.089.000
đồng.
Các công cụ kinh tế được áp dụng để quản lý rừng A Lưới chủ yếu là hình thức giao
khoán cho các hộ gia đình quản lý nên tỏ ra khá hiệu quả vì các hộ gia đình sẽ giám sát
chặt chẽ với trách nhiệm cao do ý thức được đó là tài sản của họ. Nhưng bên cạnh đó vẫn
còn nhiều vấn đề bất cập, gần 100ha rừng trồng tái sinh ở huyện A Lưới đã bị người dân
tự ý chặt trụi để lấy gỗ và làm rẫy trước sự bất lực của cơ quan chức năng. Tình trạng
người dân chặt, đốt phá rừng tại tiểu khu 321(nơi giáp ranh giữa xã Hương Nguyên và xã
Hồng Tiến) đã diễn ra từ cuối năm 2010 đến nay, khi xã có chủ trương xin chuyển đổi
giao rừng cho người dân thôn Ta Rá quản lý, số diện tích rừng bị đốt phá đã hơn 30ha.
Tình trạng phá rừng này vẫn đang tiếp diễn trong khi các cơ quan chức năng vẫn chưa có
hướng giải quyết hiệu quả.
• Bên cạnh đó, Nhà nước còn triển khai các dự án nhằm bảo vệ và phát triển rừng trồng
Dự án 147
Thực hiện dự án 147 với giai đoạn 2010-2015: Tham gia chỉ đạo 06 xã gồm: Hồng
Thủy, Hồng Vân, Hồng Trung, Bắc Sơn, Hồng Hạ và Hương Nguyên, với 1.310 ha.
Trong đó:
12
- Trồng rừng tập trung: 800 ha;
- Trồng rừng thí điểm: 200 ha;
- Trồng rừng phân tán: 250 ha;
- Vườn ươm 4 vườn.
Dự án 661
Năm 2011 dự án 661 đã kết thúc, nhằm thực hiện tốt các hạng mục công trình lâm
sinh dở dang. Hiện nay đơn vị đã đề nghị tỉnh tiếp tục đầu tư để phát triển rừng bền vững
cho 3 công trình: Chăm sóc, KNXTTS và BVR:
* Bảo vệ rừng 3.000 ha
* Chăm sóc rừng 115 ha rừng trồng
* Khoanh nuôi tái sinh bảo vệ .1590 ha
 Nhận xét

dân quân tự vệ xã Hồng Hạ và Hương Nguyên;
- Tổ chức cán bộ đến tận thôn bản để vận động thực hiện Luật bảo vệ và Phát triển
rừng, làm cam kết với các tổ chức và nhân dân sống gần rừng về công tác QLBVR-
PCCCR.
Việc tuyên truyền ngày càng sâu rộng trong quần chúng nhân dân với nhiều hình
thức đã làm cho nhận thức của phần lớn người dân nơi đây về công tác QLBVR -
PCCCR ngày một nâng lên, đặc biệt là đã thu hút được sự quan tâm của học sinh làm cho
ý thức về bảo vệ rừng ngày càng chuyển biến tích cực hơn.Bên cạnh đó, lực lượng BVR
nói chung và kiểm lâm nói riêng đã được đào tạo tốt về chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt
nhanh thực tiễn góp phần bảo vệ và phát triển rừng ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, trình
độ nhận thức của một số người dân còn hạn chế và vì công cuộc mưu sinh nên người dân
vẫn liều lĩnh khai thác rừng trái phép đã làm ảnh hưởng tới việc bảo vệ, phát triển rừng
của địa phương.
2.4 Thuận lợi, khó khăn khi áp dụng công cụ
2.4.1 Mệnh lệnh kiểm soát
 Thuận lợi
- Được sự chỉ đạo của Sở NN và PTNT Tỉnh Thừa Thiên Huế, Thường vụ Huyện
Uỷ, UBND Huyện
14
- Đội ngũ cán bộ kiểm lâm có trình độ về chuyên môn và hiểu biết về lâm luật nên
dễ dàng áp dụng luật và hướng dẫn người dân thực hiện theo luật.
- Lực lượng Kiểm lâm địa bàn đã bám sát địa bàn, tham mưu kịp thời cho Chủ tịch
UBND xã, thị trấn trong lĩnh vực lâm nghiệp.
 Khó khăn
- Quyền hạn xử lý còn thấp.
- Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn cấp huyện chưa được phân
chia rõ ràng.
- Hạn chế về nguồn nhân lực và tài chính.
2.4.2 Công cụ kinh tế
 Thuận lợi

rừng kiếm kế sinh nhai, lấn chiếm đất lâm nghiệp để canh tác.
• Dân cư sống trong vùng đại bộ phận là đồng bào dân tộc ít người, nhận thức kém,
thiếu hiểu biết về những chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vấn đề bảo
vệ và Phát triển rừng.
• Bên cạnh đó, huyện A Lưới là một huyện miền núi, điều kiện cơ sở vật chất còn
khó khăn, số lượng loa phóng thanh còn hạn chế nay lại rất nhiều loa bị hỏng nên không
thể tuyên truyền sâu rộng, liên tục trong nhân dân.
Năng lực của cán bộ đội ngũ làm công tác truyền thông, cán bộ thôn, xã vẫn còn hạn chế.
2.5 Giải pháp cho các công cụ được áp dụng ở rừng A Lưới
 Giải pháp cho công cụ mệnh lệnh – điều khiển
- Tăng cường thực hiện theo quy chế đã được UBND các xã, thị trấn ban hành về
việc phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, công an xã và lực lượng dân quân tự vệ trong
công tác bảo vệ rừng.
- Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thi hành Luật bảo vệ và Phát triển rừng.
- Tăng cường chỉ đạo KLĐB thực hiện đúng quy chế hoạt động theo Quyết định số
414/QĐ-KL, ngày 28/10/2009 của Chi cục Kiểm lâm TT.Huế và thực hiện tốt nhiệm vụ
KLĐB xã được quy định tại Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN ngày 04/10/2007 của Bộ
NN&PTNT;
- Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy chế công vụ, đạo đức nghề nghiệp;
16
- Tranh thủ sự chỉ đạo của các ban ngành cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi
cục Kiểm lâm, Thường vụ Huyện uỷ. Kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc lên
cấp trên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để xin ý kiến chỉ đạo kịp thời.
 Giải pháp cho công cụ kinh tế
- Xử lý nghiêm minh trường hợp các chủ rừng, các tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất, giao rừng để sản xuất kinh doanh để xảy ra khai thác trái phép, mua bán vận
chuyển lâm sản và sử dụng rừng sai mục đích làm ảnh hưởng đến tài nguyên rừng.
- Nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ viên chức nhằm đẩy mạnh
hiệu quả công việc.
- Kêu gọi các Dự án trong và ngoài nước đầu tư vào để tạo điều kiện nâng cao năng

- Về tổ chức thực hiện
Xây dựng và duy trì hoạt động của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại các địa
phương. Có chính sách khen thưởng và động viên kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân
làm tốt công tác bảo vệ rừng.
3. Kết luận
Để thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng A Lưới thì Nhà nước và chính
quyền địa phương cần quan tâm, chỉ đạo, đi sâu vào thực tiễn hơn nữa. Ngoài việc áp
dụng các công cụ quản lý rừng đã có thì Ban quản lý cũng như chính quyền các cấp cần
nghiên cứu, đưa các công cụ quản lý mới tiên tiến hơn, đã thành công ở nhiều nơi áp
dụng vào rừng A Lưới để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, để cho
công cụ quản lý phát huy tác dụng thì cần thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý
vi phạm cũng như tuyên tuyền giáo dục nhằm tránh các trường hợp vi phạm và giúp
người dân nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của con
người.
18
Tài liệu tham khảo
-
-
tay/141/7153669.epi
-
-
GiaoDien=9&ChucNang=153&NewsID=20110615090805
-
-
%A9ng-ch%E1%BB%89-r%E1%BB%ABng-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB
%9Bi
19
-
html
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status