TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NHÓM 6:
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP
CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
SVTH : NGUYỄN NGỌC HIẾU
STT : 56 - Lớp: Cao học Đêm 5 - K21
GVHD :TS BÙI VĂN MƯA
Tp HCM, ngày 24 tháng 2 năm 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN
HY LẠP CỔ ĐẠI 2
6. Quan niệm về chính trị – xã hội được áp dụng nhiều nơi trên thế giới: 12
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
MỞ ĐẦU
Triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc hợp xướng của
triết học phương Tây. Một giai đoạn lịch sử, khởi nguyên của triết học nhân loại,
làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương Tây sau này. Những đôi tay
vàng trong bản hợp xướng đầu tiên đó được phản ánh qua những triết gia dệt nên
những trang bất hủ bởi thời gian. Một trong những đôi tay đẹp hơn tất cả đôi tay
ở Hy Lạp cổ đại đó là Platông. Ông đã để lại cho hậu thế những tư tưởng bất hủ
về tư tưởng chủ nghĩa duy tâm khách quan của mình; góp phần đưa nền triết học
thế giới từ giai đoạn cổ điển phát triển thành chủ nghĩa duy vật khoa học hiện
đại.
Thông qua việc tiến hành tìm hiểu, tham khảo những quyển sách như: 1)
Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học – Phần 1 – Đại cương về lịch sử triết học (tài
liệu dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành
triết học của trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), 2011; 2) Norman
Ông xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là: “thuyết ý
niệm” (giới tự nhiên bắt nguồn từ ý niệm), với giá trị bên trong là phép biện
chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về tư tưởng, đạo đức, chính
trị, xã hội.
II. NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN:
1. Xôcrát:
Xôcrát xuất thân trong một gia đình khá giả ở Aten. Ông hướng về chính
thể chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ. Năm 399 BC, ông bị chủ nô dân
chủ kết án tử hình về tội “coi thường luật pháp, chống lại chế độ bầu cử dân
chủ”. Ông không viết một tác phẩm nào, chúng ta chỉ biết về ông chủ yếu qua
các tác phẩm của Platông và Arixtốt [Aristotle (384 – 322 TCN)]. Ông là nhà
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 2
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
triết học “đối thoại” vì đối với ông, chỉ có văn nói mới sống động, còn những gì
người ta viết ra thì đã bị khô cứng.
Triết học của ông khác với các nhà triết học trước đó. Các nhà triết học
trước nghiên cứu về giới tự nhiên nhưng ông dành phần lớn vào việc nghiên cứu
về con người, về đạo đức, về nhân sinh quan. Triết học không gì khác hơn là sự
nhận thức của con người về chính mình. Vì vậy, quan điểm triết học của ông bàn
đến vấn đề con người trong đời sống xã hội mà trước hết là hành vi đạo đức.
Xôcrát tìm cách khám phá ra các chân lý chung cho con người trong các
cuộc đàm thoại, theo ông để có cuộc đàm thoại được, những người tham gia cuộc
đàm thoại phải có “ngôn ngữ chung” nhất định, ngôn ngữ đó mang tính khách
quan, nhờ đó con người mới khám phá ra chân lý một cách đích thực mà ai cũng
phải thừa nhận. Theo ông ý thức của con người trong cuộc đàm thoại, ngoài yếu
tố chủ quan, còn có một nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang tính
tổng quát. Đó là những tri thức chung mà mỗi con người chúng ta có được bằng
nỗ lực của mình. Xôcrát cho rằng tri thức chung đó là chân lý khách quan thu
được trong các cuộc đàm thoại mà ai cũng phải thừa nhận. Nên ý kiến chủ quan
của mỗi người không phải là tiêu chuẩn của chân lý. Theo ông khám phá ra chân
một số quý tộc. Chủ trương đó trái với nguyên tắc cơ bản của chế độ dân chủ của
Aten bấy giờ.
Chủ nghĩa duy tâm Xôcrát thể hiện trước hết việc tách các khái niệm ra
khỏi chủ thể nhận thức. Khái niệm trong cách hiểu của ông chỉ là kết quả của
những nỗ lực tinh thần, không đơn giản là hiện tượng chủ quan, mà là một hiện
thể khách quan siêu thoát nào đó của lý tính. Khái niệm tồn tại tự thân và không
lệ thuộc vào tồn tại của sự vật, con người. Ông đã phác thảo nên những nét đầu
tiên của chủ nghĩa duy tâm khách quan để Platông về sau đẩy nó lên trình độ một
hệ thống.
2. Platông:
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 4
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
Platông sinh trưởng trong một gia đình chủ nô quý tộc ÔNG viết nhiều tác
phẩm như “Biện hộ cho Xôcrát”, “Đối thoại”, “Bữa tiệc”, “Chế độ cộng hòa”…
Platông chịu ảnh hưởng bởi ba nguồn gốc tư tưởng: tư tưởng của Xôcrát về
cái phổ biến, cái chung làm cơ sở cho đạo đức; học thuyết của Pácmênít
[Parmenide (500 – 449 TCN)], trường phái Êlê, về sự tồn tại duy nhất, bất biến;
tư tưởng của Pytago [Pythagore (571 – 497 TCN)] về những con số được xem là
bản chất chân thật của sự vật. Dựa vào ba nguồn gốc trên, chủ yếu vẫn là tư
tưởng của Xôcrát, Platông đã xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan lần đầu
tiên trong lịch sử triết học Hy Lạp đạt đến sự hoàn chỉnh, nhất quán và triệt để.
Thuyết ý niệm: Platông chia thế giới ra thành thế giới ý niệm và thế giới sự
vật. Thế giới ý niệm là lý tính, tồn tại trên trời, mang tính phổ biến, chân thực,
tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng và duy nhất. Thế giới sự vật là cảm tính, tồn tại
dưới đất, mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, khả biến, thoáng qua và đa tạp.
Ông coi ý niệm là cái sản sinh, có trước, là nguyên nhân, bản chất và khuôn mẫu
của sự vật; coi sự vật là cái được sản sinh, có sau và là cái bóng được mô phỏng,
sao chép lại từ ý niệm; đồng thời, bất cứ sự vật nào cũng xuất hiện từ ý niệm và
có quan hệ ràng buộc với ý niệm [1, trang 106].
Bằng thuyết ý niệm, Platông đã lý giải sự sinh thành thế giới sự vật, con
Quan niệm về mỹ học: Cũng dựa trên thuyết ý niệm, Platông cho rằng cái
đẹp chân thực là cái đẹp của ý niệm, nó đối lập tuyệt đối với cái đẹp của sự vật
cảm tính. Cái đẹp của sự vật không tuyệt vời, khả biến và tương đối. Còn cái đẹp
của ý niệm là cái đẹp tuyệt vời, vĩnh viễn, tồn tại ngoài không gian và phi thời
gian, nó là bất biến.
Theo Platông, chỉ có thể cảm nhận cái đẹp của ý niệm bằng lý tính. Ông phê
phán quan niệm cho rằng cái đẹp chỉ có trong thực tế và bác bỏ quan niệm cho
rằng cái đẹp là cái có lợi ích hoặc là cái có khoái cảm do thị giác và thính giác
mang lại. Chủ thể nhận thức cái đẹp là linh hồn bất tử, phương pháp nhận thức là
sự hồi tưởng.
Platông cho rằng nghệ thuật là sự bắt chước nhưng không phải bắt chước sự
vật, mà là bắt chước ý niệm. Chỉ có nghệ thuật xuất phát từ nguồn cảm hứng do
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 6
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
thần thánh tạo ra mới là nghệ thuật cao quý vì nó không phải là sự bắt chước sự
vật cảm tính. Đây là một thứ chủ nghĩa thần bí về nghệ thuật.
Quan niệm về đạo đức: Xuất phát từ đạo đức học duy lý, Platông cho rằng
sống hạnh phúc là sống có đạo đức. Hành vi hướng thiện là hành vi không dựa
trên khoái lạc, lợi thú chủ quan mà là hướng đến những ý tưởng tuyệt đối khách
quan thuộc về thế giới ý niệm ở trên trời. Con người chỉ nhận thức được những ý
tưởng này bằng lý trí.
Platông cho rằng con người muốn sống hạnh phúc thì phải dùng lý trí để
chiêm nghiệm những ý tưởng và khắc phục những dục vọng vật chất thấp hèn,
giúp linh hồn thoát khỏi gông cùm của nhà tù thể xác. Dục vọng phải phục tùng
trái tim, trái tim phải làm theo khối óc là điều kiện tiên quyết để sống hạnh phúc.
Như vậy, theo Platông, con người không thể tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình
ở xung quanh mình, dưới trần gian và con người chỉ có thể đạt được hạnh phúc
trong thế giới ý niệm, ở trên trời, sau khi chết. Quan niệm về đạo đức đầy tính
chất duy tâm thần bí của Platông là cơ sở cho nền đạo đức Thiên chúa giao sau
này [1, trang 108].
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
CHƯƠNG II
NHỮNG GIÁ TRỊ - HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY
TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI
I. NHỮNG GIÁ TRỊ:
1. Thực hiện đơn đặt hàng của lịch sử:
Trường phái duy tâm Hy Lạp cổ đại lúc đầu xuất hiện dưới hình thức ngụy
biện và lập thành một trường phái gọi là phái ngụy biện. Tính chất duy tâm chủ
yếu của phái ngụy biện là cho rằng không có chân lý khách quan mà chỉ có nhận
thức chủ quan hoặc chủ nghĩa tương đối mà thôi.
Đại biểu đầu tiên của trường phái ngụy biện là Prôtagôrát [Protagoras (485
– 410 TCN)]. Ông cho rằng mọi nhận thức đều có tính chủ quan, "con người là
thước đo của mọi sự vật". Như thế có nghĩa là chủ trương mỗi cá nhân đều có thể
căn cứ vào trực giác của mình để giải thích thế giới. Một đại biểu khác là
Giorơgiát (487-380 TCN), cho rằng "tồn tại không tồn tại". Nếu có cái gì thực sự
tồn tại chăng nữa thì cũng không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả được, vì ngôn ngữ
không đủ để diễn tả tư tưởng. Từ đó ông kết luận chân lý là không có [6, trang
244].
Và dĩ nhiên là thuyết tương đối, thái độ hoài nghi và chủ nghĩa cá nhân của
trường phái ngụy biện đã làm dấy lên 1 làn sóng phản đối đương thời. Một số
người Hy Lạp bảo thủ còn cho rằng điều đó dường như dẫn đến tình trạng vô
chính phủ và vô thần. Nếu chân lý và những điều tốt hay công lý chỉ mang tính
tương đối với ý nghĩ chợt nảy ra trong tâm trí của một con người thì tôn giáo,
những nền tảng đạo đức, nhà nước hay xã hội đều không thể duy trì được lâu dài.
Kết quả của sự thú nhận đó là sự ra đời và phát triển của phong trào triết học mới
mà những người đứng đầu là Xôcrát, Platông [3, trang 161]. Chủ nghĩa duy tâm
khách quan của hai ông cho rằng chân lý và ý niệm tuyệt đối là thực sự tồn tại,
đồng thời nâng sự lý giải vấn đề đạo đức – chính trị lên trình độ khái niệm,
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 9
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
vào nhau khi con người được sinh ra đời. Khi chết, linh hồn tách ra khỏi thể xác
và bay trở về với Thượng đế. Khoảng nửa thế kỷ sau cái chết của chúa Jesus
(năm 37 sau Thiên chúa), những lời thuyết giảng của Chúa Jesus được viết lại
theo hình thức triết lý của Platông và chi phối toàn bộ thần học Cơ Đốc đến thế
kỷ thứ 13 và ngày nay phần nào vẫn còn phổ biến [4, trang 36].
Ý niệm về thiên đàng và địa ngục cùng những huyền thoại mà Platông đề ra
cũng đã được giáo hội Thiên chúa giáo áp dụng nhằm thực hiện nền đạo đức và
các thủ đoạn chính trị của mình. Cả nghìn năm dân chúng châu Âu đã được cai
trị mà không cần dùng đến vũ lực, họ sẵn sàng chấp nhận sự cai trị ấy và không
bao giờ đòi hỏi tham gia trực tiếp vào bộ máy chính quyền.
4. Phép biện chứng sơ khai lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử triết học
của nhân loại:
Một đóng góp quan trọng của Xôcrát cho tư tưởng phương Tây là phương
pháp truy vấn biện chứng, được biết đến dưới tên gọi là “phương pháp Xôcrát”
hay “phương pháp bác bỏ bằng lôgíc” (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp
này chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như
tốt đẹp – công bằng, cái thiện – cái ác, cái tốt – cái xấu,…Để giải quyết một vấn
đề, ông dẫn dắt người đối thoại đến với chân lý bằng tư duy lôgíc và khả năng
biện luận thuyết phục, có cơ sở, có chứng cứ. Đó là phép biện chứng của khái
niệm hay biện chứng chủ quan.
Thuyết ý niệm và các quan niệm triết học của Platông cũng chứa đựng
nhiều yếu tố biện chứng. Thông qua các khái niệm đối lập và phương pháp đối
chiếu những mặt đối lập, ông giải quyết thấu đoá mối quan hệ giữa vận động –
đứng im, hữu hạn – vô hạn, liên tục – gián đoạn, tồn tại – hư vô,…
Các triết gia của triết học cổ điển Đức (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX)
cũng đã tiếp thu những tư tưởng biện chứng quý báu trong di sản triết học Hy
Lạp, phát triển thêm và xây dựng được phép biện chứng mới như một học thuyết
triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trong thế giới [1, trang
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 11
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
quyền hành và đã cai trị một cách gần như tuyệt đối một phần nửa lãnh thổ Âu
châu. Giai cấp giáo sĩ này cũng không bị ràng buộc vì nếp sống gia đình và trong
nhiều trường hợp, họ được hưởng nhiều tự do trong vấn đề luyến ái mà Platông
chủ trương nên dành cho giai cấp lãnh đạo.
Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, những nhà lãnh đạo cộng sản ở Nga Xô
cũng đã sống cuộc đời mà Platông đã mô tả. Họ là một thiểu số, cấu kết với nhau
với nhau bằng một niềm tin mãnh liệt. Họ sợ sự khai trừ khỏi đảng hơn là sợ cái
chết, hoàn toàn hiến thân cho đảng, chết vì đảng không khác gì các thánh tử đạo.
Họ sống một cuộc đời giản dị đơn sơ trong khi cầm quyền cai trị một nửa diện
tích Âu châu. Nói tóm lại, khi đề ra quan niệm về chính trị - xã hội của mình,
Platông không coi đó là một quan niệm hão huyền và xa rời thực tế.
II. NHỮNG HẠN CHẾ:
1. Mang đầy màu sắc duy tâm và thần bí:
Theo Arixtốt, về mặt bản thể luận, việc Platông chia thế giới ra thành thế
giới ý niệm và thế giới sự vật là thiếu cơ sở và đầy mâu thuẫn. Bởi vì ý niệm là
cái tồn tại bên ngoài và độc lập với sự vật thì không thể làm bản chất cho sự vật
được. Hơn nữa, ý niệm là cái trừu tượng, phi cảm tính thì không thể làm khuôn
mẫu cho sự vật cảm tính được. Còn về mặt nhận thức luận, việc Platông coi ý
niệm là cái có trước và độc lập so với sự vật thì ý niệm (khái niệm) cũng không
thể được dùng để nhận thức sự vật được. Arixtốt cho rằng bản chất phải nằm
ngay trong bản thân sự vật và phải được nhận thức của con người khái quát thành
cái chung dưới dạng khái niệm, quy luật, phạm trù. Khái niệm, quy luật, phạm
trù không phải là cái có trước, sinh ra và quyết định sự tồn tại của sự vật [1 trang
110].
Tóm lại, chủ nghĩa duy tâm khách quan mang tính “duy tâm” là vì cho rằng
“ý niệm”, “tinh thần thế giới” là cái có trước, sản sinh ra thế giới tự nhiên và
mang tính “thần bí” là vì không thể giải thích được “ý niệm” đã sản sinh ra thế
giới tự nhiên bằng cách nào.
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 13
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
Thứ hai, nhiều luận điểm khác cũng chỉ trích Platông dựa trên yếu tố kinh
tế. Trong chính thể Platông, giai cấp lãnh đạo có quyền chính trị và quyền điều
khiển nhưng họ không có quyền lực kinh tế. Do đó, một số người thắc mắc là
làm sao giai cấp lãnh đạo có thể giữ vững được quyền hành nếu không kiểm soát
được những lực lượng kinh tế? Thực tế đã cho thấy giáo hội Thiên chúa giáo La
Mã đã có một thời oanh liệt một phần là do lãnh thổ ở trạng thái nông nghiệp,
những nhà nông thường dễ mê tín vì nghề nghiệp của họ lệ thuộc rất nhiều vào
thiên nhiên. Nhưng khi các điều kiện kinh tế thay đổi, nền kinh tế kỹ nghệ bắt
đầu thay thế nền cho nền kinh tế nông nghiệp thì quyền lực của giáo hội bắt đầu
sút giảm. Quyền lực chính trị phải luôn luôn được điều chỉnh để ăn khớp với tình
trạng kinh tế. Giai cấp cầm quyền của Platông dù nắm trong tay tất cả quân lực
thì cũng không thoát khỏi sự lệ thuộc vào giai cấp sản xuất đã nuôi dưỡng họ.
Cuối cùng, với quan niệm cần phải xóa bỏ sở hữu tư nhân, phải xây dựng
chế độ sở hữu công xã với tài sản chung, cha mẹ con cái chung,…tuy với một lý
tưởng tốt nhưng thật sự, Platông đã cũng ngấm ngầm phá vỡ nền móng xã hội lý
tưởng mà ông sắp xây cất. Platông khinh thường sức mạnh của tập tục đã được
xây dựng lâu đời như phong tục độc thê và không tiên liệu được tánh ghen tuông
tự nhiên của đàn ông, tình mẫu tử của đàn bà. Khi ông muốn phá vỡ đời sống gia
đình, ông đã phá vỡ những điều kiện cho một nếp sống đạo đức. Ngoài ra, chế độ
cộng sản sẽ làm cho tinh thần trách nhiệm bị lu mờ, khi tất cả của cải đều thuộc
quyền sở hữu của tất cả mọi người thì sẽ không còn ai lo giữ gìn của cải ấy. Nó
buộc dân chúng sống cuộc đời tập thể nghĩa là giết chết sự độc đáo cá nhân và sự
tự do của đời tư. Mặc khác, chế độ cộng sản này lại mâu thuẫn với chính chế độ
đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội như đã nêu ở trên. Ông vừa kêu gọi
phải xây dựng cho bằng được nhà nước cộng hòa lý tưởng nhưng lại vừa ra sức
bảo vệ cho bằng được lợi ích và địa vị của tầng lớp chủ nô quý tộc, chống lại nhà
nước dân chủ Aten [1, trang 109].
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 15
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: BÙI VĂN MƯA
KẾT LUẬN
[4] : Norman F.Cantor, Nền văn minh thế giới cổ đại, Kiến Văn và Khắc Vinh
biên dịch, NXB Lao Động Xã Hội, 2008.
[5] : Tô Mộng Vi, Tìm lại nền văn minh Hy Lạp cổ đại, Nguyễn Kim Dân biên
dịch, NXB Lao động, 2010.
[6] : Vũ Dương Minh chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới cổ đại, NXB Giáo
Dục Việt Nam, 2011.
[7] : Will Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu Đích biên dịch, NXB
Văn hóa thông tin, 2008.
[8] : Wikipedia, />[9] : Phan Thị Cam, Cuộc đời và nội dung triết học của Platon,
/>dhoi-va-noi-dung-triet-hoc-cua-platon.
SVTH: NGUYỄN NGỌC HIẾU 1