TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NHĨM 6:
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
HVTH : Trần Thị Hoa - STT: 58
LỚP : ĐÊM 5 – K 21
GVHD : TS.Bùi Văn Mưa
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH
QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 2
I. Hoàn cảnh ra đời 2
II. Những tư tưởng cơ bản 2
1. Tư tưởng của Xôcrát 2
2. Tư tưởng của Platông 4
CHƯƠNG 2:
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH
QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI 9
I. Những giá trị 9
II. Những hạn chế 11
KẾT LUẬN 15
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
MỞ ĐẦU
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại thời cổ đại
- là thời kỳ tích trữ một khối lượng tri thức khổng lồ trên nhiều lĩnh vực như toán
Hy Lạp cổ đại là một quốc gia sớm có nền công - thương nghiệp phát triển,
lại có điều kiện tự nhiên thuận lợi và một nền văn hóa tinh thần phong phú, đa
dạng. Sự phát triển về mặt kinh tế - xã hội này đã làm cho sự phân hóa giai cấp
diễn ra ngày càng sâu sắc, đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt. Dưới con mắt
của người Hy Lạp cổ đại, nô lệ không phải là người mà chỉ là “công cụ biết nói”,
họ không được hưởng một chút quyền lợi gì về chính trị và quyền làm người.
Chế độ cộng hòa dân chủ chỉ thuộc về giai cấp chủ nô, còn về phía đông đảo nô
lệ thì đó là một nền chuyên chính tàn bạo.
Ăngghen đã viết: “Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn
bộ sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong đó
chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giống như nó được tất cả mọi người thừa
nhận. Theo nghĩa đó chúng ta có quyền nói rằng: Không có chế độ nô lệ cổ đại,
thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại” [2, tr.254].
II. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hy
Lạp cổ đại
Xôcrát và Platông là hai đại biểu của hệ thống triết học duy tâm khách quan
Hy Lạp cổ đại. Nếu triết học của Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra
bước tiến mới trong sự phát triển triết học khi đưa đề tài con người làm trọng tâm
nghiên cứu thì triết học của Platông lại trở nên kiệt xuất với nội dung chính là
thuyết ý niệm mà giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm.
1. Tư tưởng của Xôcrát [Socrate (469-399 TCN)]
HVTH: TRẦN THỊ HOA 2
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
Xôcrát xuất thân trong một gia đình khá giả ở Aten. Ông là nhà triết học
“đối thoại” vì đối với ông, chỉ có văn nói mới sống động, còn những gì người ta
viết ra thì đã bị khô cứng nên ông không viết một tác phẩm nào, chúng ta chỉ biết
về ông chủ yếu qua các tác phẩm của học trò ông.
Khác với các triết gia khác, ông không chủ trương nghiên cứu các hiện
tượng tự nhiên vì theo ông, chúng đã được thần thánh an bài, con người không có
biết riêng lẻ khái quát lên thành những hiểu biết phổ biến, từ những hành vi đạo
đức riêng lẻ tìm ra cái thiện phổ biến của mọi hành vi đạo đức. Bốn là “định
nghĩa”, tức là chỉ ra hành vi thế nào là đạo đức, quan hệ thế nào là đúng mực [1,
tr.106]. Bốn bước này quan hệ chặt chẽ với nhau trên bước đường tìm kiếm tri
thức chân thật giúp con người sống đúng với tư cách và phận sự của mình trong
đời sống xã hội.
- Quan niệm về chính trị - xã hội: Xôcrát chủ trương việc trị nước không
nên do nhiều người mà phải do những nhà thông thái có tài năng và đạo đức, nói
một cách khác là do một số quý tộc. Chủ trương đó rõ ràng là trái với nguyên tắc
cơ bản của chế độ dân chủ của Aten. Năm 399 TCN, ông bị kết tội truyền bá học
thuyết kỳ quặc đầu độc thanh niên, làm hại đến chế độ dân chủ và sự tồn tại của
quốc gia nên bị xử tử bằng thuốc độc [8, tr.245].
- Quan niệm về mỹ học: Theo Xôcrát cái đẹp ở đây là cái đẹp tâm hồn, là
kết hợp giữa vẻ đẹp với phẩm chất tâm hồn. Chính vì vậy ông đòi hỏi trong nghệ
thuật các nghệ sĩ phải thể hiện được những “trạng thái của tâm hồn” hay nói cách
khác cái đẹp của Xôcrát là cái đẹp đạo đức, chú trọng nội dung hơn hình thức.
Chủ nghĩa duy tâm của Xôcrát đã thể hiện việc tách các khái niệm ra khỏi
chủ thể nhận thức. Khái niệm tồn tại tự thân và không lệ thuộc vào tồn tại của sự
vật, con người. Ông đã phác thảo nên những nét đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm
khách quan để Platông đẩy nó lên trình độ một hệ thống.
2. Tư tưởng của Platông [Platon (472-347 TCN)]
Platông sinh trưởng trong một gia đình chủ nô quý tộc ở thành phố Aten, là
nhà triết học duy tâm khách quan kiệt xuất nhất thời cổ Hy Lạp, Platông chịu ảnh
hưởng bởi tư tưởng của Pácmênít, Pytago, đặc biệt là của Xôcrát. Ông là người
HVTH: TRẦN THỊ HOA 4
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
xây dựng Viện hàn lâm Aten và viết nhiều tác phẩm như Biện hộ cho Xôcrát,
Đối thoại, Bữa tiệc, …
Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platông là học thuyết về
của chúng ta là cái hằng tri, hằng giác. Đó là quan điểm nhận thức tồn tại và
không tồn tại của triết gia Platông.
2.2 Quan niệm về nhận thức
Platông không những giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học một
cách duy tâm khách quan mà khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết
học Platông cũng rơi vào quan niệm duy tâm, thần bí.
Theo Platông, đối tượng của nhận thức không phải là các sự vật cảm biến khách
quan bên ngoài, mà là thế giới ý niệm. Nhận thức cảm tính không phải là nguồn
gốc của tri thức, tri thức chân thực chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính,
được thể hiện ở các ý niệm. Mỗi sự vật đều có ý niệm về nó, sự vật có thể mất đi
nhưng ý niệm về sự vật thì không bao giờ mất đi, ví dụ: cái bàn có thể mục nát,
không còn là cái bàn nữa nhưng ý niệm về cái bàn (khái niệm bàn) thì không mất
đi. Như vậy bằng cách nào để có thể nhận thức chân thực, đạt được chân lý? Đó
là “sự hồi tưởng lại (trực giác thần bí) của linh hồn bất tử (lý trí) về những gì nó
đã từng chiêm ngưỡng được trong thế giới ý niệm những lãng quên. Linh hồn
nhận thức bằng cách đàm thoại trực tiếp với nhau để làm thức tỉnh các ý niệm
trong bản thân mình. Tranh luận, sự va chạm giữa các ý kiến riêng khác hay thậm
chí trái ngược nhau để tiến đến sự thừa nhận những ý kiến chung; chúng là biện
pháp khám phá ra các ý niệm phổ biến, vĩnh hằng, chân thực, là công cụ để nhận
thức chân lý” [1, tr.108].
2.3 Quan niệm về đạo đức
Xuất phát từ đạo đức học duy lý, Platông cho rằng sống hạnh phúc là sống
có đạo đức. Sống có đạo đức là làm điều thiện. Hành vi hướng thiện là hành vi
không dựa trên khoái lạc, lợi thú chủ quan mà là hướng đến những ý tưởng tuyệt
đối khách quan thuộc về thế giới ý niệm ở trên trời, con người phải dùng lý trí để
HVTH: TRẦN THỊ HOA 6
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
chiêm nghiệm những ý tưởng và khắc phục những dục vọng thấp hèn để giúp
linh hồn thoát khỏi gông cùm của nhà tù thể xác [1, tr.108].
b) Học thuyết Nhà nước lý tưởng của Platông
Một cộng đồng hay Nhà nước lý tưởng theo Platông phải bao gồm ba giai
cấp khác nhau tương ứng với ba thành phần của linh hồn con người. Ba giai cấp
này có các chức năng khác nhau và cùng thể hiện đức tính tốt trong cộng đồng
của Nhà nước. Platông đã gán những thành phần của linh hồn con người và phẩm
chất đạo đức tương ứng của chúng với một cơ thể xã hội, như vậy cá nhân khi
sống trong cộng đồng sẽ mất đi vai trò độc lập trong việc thể hiện mình như một
nhân cách. Platông đã biến mục đích thành phương tiện, lẽ ra con người mới là
mục đích mà Nhà nước phải hướng tới thì trái lại con người phải sống vì Nhà
nước.
Platông đặc biệt trú trọng đến việc giáo dục vì giáo dục là một phương pháp
nhằm bảo vệ và duy trì Nhà nước. Một nội dung rất quan trọng trong giáo dục là
giáo dục các triết gia, vì họ đảm trách công việc cai trị một cách lý tưởng. Những
môn học mà họ cần phải nắm được để có thể cai trị cộng đồng một cách hiệu quả
là toán học, thiên văn học, âm nhạc và trên hết là phép biện chứng.
2.5 Quan niệm về mỹ học
Dựa trên cơ sở thuyết ý niệm, Platông cho rằng cái đẹp là một ý niệm tồn tại
vĩnh viễn và nguồn gốc của nó nằm trong thế giới thần linh. Đặc biệt Platông đưa
ra một định nghĩa về cái đẹp đó là “Cái đẹp tồn tại vĩnh viễn, nó không tự xuất
hiện, không mất đi, không tăng thêm, không giảm đi, thậm chí nó không đẹp ở
nơi đây mà lại xấu ở nơi kia, không đẹp ở quan hệ này mà lại xấu ở điểm khác,
không đẹp đối với cái này và lại thô kệch đối với cái kia. Cái đẹp hiện ra không
như một vẻ mặt hoặc như một cánh tay, cũng không ở bất cứ phần nào của cơ
thể. Đẹp cũng không hiện ra như một lập luận hay một khoa học nào, cái đẹp là
tự nó …”. Như vậy với định nghĩa này của Platông đã khẳng định quan điểm duy
tâm khách quan về cái đẹp khi kéo nó lên thế giới của thần linh, siêu hiện thực,
bất biến, tồn tại vĩnh viễn.
HVTH: TRẦN THỊ HOA 8
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
học vào chính trị được đề cập mối quan hệ giữa triết học và thế giới hiện thực
hay nói cách khác chính trị cần phải dựa trên một hệ thống khái niệm, phạm trù
và những quy luật.
Theo Platông, các thể chế chính trị đã từng tồn tại không có được một nguyên
lý làm nền tảng nên không thể bền vững được. Một Nhà nước được tổ chức và
cai trị hợp lý thì sẽ bền vững, hưng thịnh nếu không thì sẽ tan rã rối loạn. Chỉ có
các triết gia mới nắm được nguyên lý đó, do vậy Nhà nước được cai trị bằng các
triết gia thì mới có thể đem lại sự công bằng.
3. Tạo động lực thúc đẩy khoa học của nhân loại phát triển
Tư tưởng triết học toán học của Platông là sự đồng nhất đối với nhận thức
luận của ông, đặc biệt là sự không thể tách rời đối với quan niệm lý tính do ông
đề xướng. Theo ông, đối tượng nghiên cứu của toán học phải là những quan hệ
vĩnh hằng bất biến trong thế giới quan niệm lý tính có thể nhận biết được, chứ
không phải là những biến động vô thường trong thế giới vật chất không thể cảm
thụ. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của toán học phải là những con số trừu tượng
và những hình vẽ lý tưởng [4, tr.207]. Ông chủ trương bồi dưỡng khả năng tư
duy lôgíc thông qua môn hình học, bởi vì hình học mang lại cho con người ấn
tượng trực quan, thể hiện sự trừu tượng của quy luật lôgíc trong các hình cụ thể.
Ở trước cửa Hàn Lâm viện, Platông đã cho viết những chữ sau: “Kẻ nào không
thông suốt hình học thì xin chớ vào đây”.
4. Bước đầu hình thành phép biện chứng – phép biện chứng chất phác
Bằng nghệ thuật đàm thoại, tranh luận; Xôcrát đã đóng góp cho nền triết
học phương Tây một phương pháp quan trọng là phương pháp truy vấn biện
chứng, được biết đến dưới tên gọi là “phương pháp Xôcrát” hay “phương pháp
bác bỏ bằng lôgíc” (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu cho
việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như cái thiện – cái
ác, cái tốt – cái xấu, … Để giải quyết một vấn đề, ông dẫn dắt người đối thoại
HVTH: TRẦN THỊ HOA 10
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
động dựa theo cái trung dung, tức là không thái quá, thông qua tập quán lâu đời
của cộng đồng) thì đó là phẩm hạnh luân lý [1, tr.114]. Theo Arixtốt: thứ nhất,
các thái độ ích kỷ hay hy sinh cực độ đều không có tác dụng đối với hầu hết mọi
người mà hãy tìm một biện pháp trung dung. Thứ hai, hành vi tốt không phải là
kết quả của cảm hứng đột ngột hoặc kìm chế khắc nghiệt, nó là một thói quen,
được điều kiện hoá chậm rãi và đều đặn. “Một con én không làm nên mùa xuân”
tức là chỉ một việc làm tốt thì không tạo ra tư cách đạo đức [5, tr.38].
Arixtốt cho rằng hạnh phúc thật sự của con người phải gắn liền với cuộc
sống trần gian, gắn liền với bản tính tự nhiên của mình. Hạnh phúc của con người
không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan như sự khôn ngoan của lý trí, đức
hạnh trong hành vi, sự khoái lạc trong trạng thái…mà còn bị chi phối bởi các
điều kiện khách quan như tiền bạc, sức khỏe, tình bạn, xã hội công bằng, … Như
vậy, theo Arixtốt, đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong
thế giới ý niệm trên trời, mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất; đồng thời,
chúng cũng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người trong
cộng đồng xã hội [1, tr.114].
3. Tạo nền tảng triết lý và trở thành công cụ của Thiên chúa giáo
Với ý niệm về thiên đàng và địa ngục cùng những huyền thoại mà Platông
đề ra, giáo hội Thiên chúa giáo đã áp dụng nhằm thực hiện nền đạo đức và các
thủ đoạn chính trị của mình. Cả nghìn năm dân chúng Châu Âu đã được cai trị
mà không cần dùng đến vũ lực, họ sẵn sàng chấp nhận sự cai trị ấy và không bao
giờ đòi hỏi tham gia trực tiếp vào bộ máy chính quyền [9, tr.20].
4. Quan niệm về chính trị - xã hội chứa đầy tính bảo thủ và mâu thuẫn
Platông đã phân loại con người thành những giai cấp không khác gì nhà côn
trùng học phân loại các côn trùng khi ông coi nô lệ không phải là con người mà
chỉ là “động vật biết nói”. Rõ ràng, thuật chính trị của Platông thiếu sự tế nhị
mềm dẻo, nó đề cao trật tự nhưng lại không đề cao sự tự do. [9, tr.21]
HVTH: TRẦN THỊ HOA 12
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
HVTH: TRẦN THỊ HOA 13
CHỦ NGHĨA DUY TÂM KHÁCH QUAN HY LẠP CỔ ĐẠI GVHD: TS.BÙI VĂN MƯA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
không đạt được kết quả cụ thể, song điều quan trọng là đã chứng minh khả năng
vô tận của con người [6, tr.19, 65, 70].
6. Tuyệt đối hóa vai trò của triết học
Trong bối cảnh trình độ nhận thức của con người còn tương đối thấp, tri
thức về mọi mặt chưa phát triển cao, nên triết học đóng vai trò là nhận thức lý
luận gần như duy nhất. Những lý giải về các vấn đề của các khoa học cụ thể vào
thời kỳ này còn trong tình trạng tản mạn, sơ khai, mang nặng tính trực quan, thực
nghiệm. Triết học được xem như “khoa học của các khoa học”, còn các triết gia
thì được tôn vình thành những nhà thông thái, đại diện cho trí tuệ xã hội. Trong
mô hình Nhà nước lý tưởng của Platông, các triết gia được đặt ở vị trí cao nhất.
Các tư tưởng đạo đức, chính trị, mỹ học, … đều được quy về tư tưởng triết học,
được hiểu như một phần của triết học. Quan điểm này đã tồn tại khá lâu và điều
này đưa đến chỗ các nhà triết học nhận thức lý luận là cái vượt lên trên hoạt động
thực tiễn, biết thành “nhận thức để nhận thức”, “nhận thức tự thân”, đối lập với
thực tiễn.
7. Phép biện chứng duy tâm
Theo Xôcrát, ý thức về sự vật của những người trong đàm thoại, ngoài
những yếu tố chủ quan còn có nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang
tính tổng quát. Ông cho rằng nếu không hiểu cái chung, cái phổ biến thì người ta
không thể phân biệt cái thiện – cái ác, cái tốt – cái xấu. Song, muốn phát hiện ra
cái thiện phổ biến thì phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc
tranh luận, tọa đàm, luận chiến. Đây chính là yếu tố biện chứng trong triết học
Xôcrát nhưng nó lại dựa trên lập trường duy tâm vì Xôcrát cho rằng giới tự nhiên
là do thần thánh an bài. Còn Platông cũng thừa nhận sự vận động của thế giới,
song đó chỉ là vận động theo sự điều khiển của ý niệm. Đó là biện chứng duy tâm
– biện chứng của các khái niệm, tách rời hiện thực, chỉ nhận thức bằng tư duy
thuần túy.
[2]: C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội,
1994.
[3]: Đinh Ngọc Thạch, Lịch sử triết học phương Tây (dùng cho học viên cao học
không thuộc chuyên ngành triết học của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), 2010.
[4]: Edward McNall Burns, Văn minh phương Tây - Lịch sử và văn hóa, NXB Từ
điển bách khoa, 2010.
[5]: Norman F.Cantor, Nền văn minh thế giới cổ đại, Kiến Văn và Khắc Vinh biên
dịch, NXB Lao động xã hội, 2008.
[6]: Nietzsche, Triết lý Hy Lạp thời bi kich, Trần Xuân Khiêm biên dịch, NXB Tân
An, 1975.
[7]: Tô Mộng Vi, Tìm lại nền văn minh Hy Lạp cổ đại, Nguyễn Kim Dân biên dịch,
NXB Lao động, 2010.
[8]: Vũ Dương Minh chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới cổ đại, NXB Giáo dục
Việt Nam, 2011.
[9]: Will Durant, Câu chuyện triết học, Trí Hải và Bửu Đích biên dịch, NXB Văn
hóa thông tin, 2008.
Website tham khảo
[10]: Phan Thị Cam, Cuộc đời và nội dung triết học của Platon,
/>dhoi-va-noi-dung-triet-hoc-cua-platon.
[11]: Wikipedia, />