TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
CHỦ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC
HY LẠP CỔ ĐẠI & NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ
CỦA NÓ
: NGUYỄN THỊ HOÀNG GIANG
: CHKT - K21 - Đêm 5
: 41 – 5
: BÙI VĂN MƯA
TP. HCM, năm 2012
MỤC LỤC
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1. Điều kiện lịch sử ra đời, phát triển:
1.2. Những tư tưởng cơ bản:
1.2.1. Trường phái Milê:
1.2.2. Trường phái Heraclit:
1.2.3. Trường phái đa nguyên:
1.2.4. Trường phái nguyên tử luận:
Chương 2: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA
DUY VẬT CHẤT PHÁC CỔ ĐẠI
2.1. Xem xét riêng trên hai trường phái lớn: trường phái Heraclit và trường
phái nguyên tử.:
2.1.1. Trường phái Heraclit:
2.1.2. Trường phái nguyên tử luận:
2.2. Xem xét chung toàn bộ triết học Hy Lạp cổ đại:
2.2.1. Giá trị:
2.2.2. Hạn chế:
2011; Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005 và
một số tư liệu trên website: http://www.go.vn; http: //yume.vn
1
Chương 1
TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1. Điều kiện lịch sử ra đời, phát triển:
Hy Lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm phần đất
liền và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie, vùng duyên hải Ban căng và Tiểu
Á. Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu ôn hòa, những đồng bằng trù phú
và các thành phố lớn như Athens ra đời sớm, thương mại cũng phát triển từ rất
sớm với các hải cảng và đảo rải rác trên biển Egie. Hy Lạp đã sớm trở thành một
quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công-thương nghiệp phát triển, một nền văn
hóa tinh thần phong phú, đa dạng. Gắn liền với sự phát triển về kinh tế, xã hội
phân chia giai cấp, sự phân công lao động xã hội thành lao động trí óc và lao
động chân tay đã dẫn tới sự hình thành một đội ngũ các nhà trí thức chuyên
nghiệp chuyên nghiên cứu về khoa học, triết học. Sự xuất hiện của những trí thức
khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo nên một bước ngoặt lớn về nhận
thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáo nguyên thủy, những
tri thức về khoa học tự nhiên phát triển mạnh, các nhà triết học đồng thời cũng là
các nhà Toán học, nhà Vật lý học Triết học Hy Lạp cổ đại được xem là thành
tựu rực rỡ của văn minh phương Tây, tạo nên cơ sở xuất phát của triết học châu
Âu sau này.
1.2. Những tư tưởng cơ bản:
1.2.1. Trường phái Milê
1
:
Trường phái triết học Milê do ba nhà triết học duy vật là Talét,
Anaximăngđrơ, Anaximen (Thalès, Anaximandre, Anaximène) xây dựng, nhằm
làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Nếu bản nguyên vật chất của thế giới
được Talét cho là nước, thì Anaximăngđrơ cho là apeiron, còn Anaximen cho là
cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy và mức độ của những cái đang lụi
tàn”
1
.
:;<<===<>?>&<@=(?&>AB CDE9(?F&>&
3
- Lửa là cơ sở làm nên sự thống nhất của thế giới. “Thế giới chỉ là một
ngọn lửa đang bập bùng cháy suốt ngày đêm”. Các hiện tượng tự nhiên như nắng
mưa, các mùa, v.v…theo ông không phải là những hiện tượng thần bí mà chỉ là
những trạng thái khác nhau của lửa. “Cái chết của lửa chỉ là sự ra đời của không
khí, cái chết của không khí chỉ là sự ra đời của nước. Nước sinh ra từ cái chết của
đất, không khí sinh ra từ cái chết của nước, lửa sinh ra từ cái chết của không
khí”
1
. Lửa chính là gốc của mọi sự thay đổi. Tất cả các dạng khác nhau của vật
chất chỉ là trạng thái chuyển hóa của lửa mà thôi.
- Thế giới vận động theo trật tự mà ông gọi là logos: logos khách quan và
logos chủ quan quan hệ với nhau như là quan hệ giữa khách thể và nhận thức.
Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ.
Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói và suy nghĩ của mọi người. Logos
chủ quan phải phù hợp với logos khách quan nhưng nó biểu hiện ở từng người có
khác nhau. Người nào càng tiến gần tới logos khách quan bao nhiêu thì càng
thông thái bấy nhiêu. Và như vậy thì sự phù hợp với logos khách quan là tiêu
chuẩn để đánh giá tư duy con người. Đây là một đóng góp có giá trị của Heraclit
cho phép biện chứng sau này.
Về sự vận động là phổ biến:
Quan niệm về vận động đã được một số nhà triết học trước đó đề cập nhưng
phải đến Heraclit thì mới tồn tại với tư cách là học thuyết về vận động với câu
nói nổi tiếng “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Quan niệm
tự hài hoà về sự thống nhất. Theo ông, cái vốn có ở trong hài hoà là đấu tranh và
đó là điều kiện để hài hoà. Ở đâu không có sự khác biệt thì ở đó không có sự
thống nhất. Đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang hiện hữu, là khởi nguyên
sáng tạo của sự sống và tồn tại. Vì vậy đấu tranh là phổ biến tất yếu.
Về nhận thức luận và nhân bản học:
- Về mặt nhận thức: Theo ông, nhận thức khởi đầu từ cảm tính thông qua
các giác quan để con người nhận thức các sự vật cụ thể. Ông cũng nhận thấy vai
trò không giống nhau giữa các giác quan trong nhận thức “Con mắt là người làm
chứng cao hơn lỗ tai”
3
. Ông chia nhận thức thành hai cấp độ là nhận thức cảm
MP%'()*QR1F1&%SI6%T3M%&5'7'( 9 98
7
MP%'()*QR1F1&%SI6%T3M%&5'7'( 9 98
9
MP%'()*QR1F1&%SI6%T3M%&5'7'( 9 98
5
tính và nhận thức lý tính. Dù quá trình nhận thức bắt đầu từ cảm tính, nhưng cảm
tính không đủ để khám phá bí ẩn của tự nhiên; vì vậy, muốn nhận thức thấu suốt
tự nhiên phải sử dụng tư duy, lý tính. Nhận thức cảm tính chỉ là sự tiếp cận với
logos nhưng không chắc chắn. Nhận thức lý tính là con đường đạt tới chân lý nên
ông đề cao. Nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt tới sự nhận thức “logos” của sự
vật, tức là phải nhận thức được bản chất quy luật của sự vật. Ngoài ra ông còn
nêu lên tính chất tương đối của nhận thức, tuỳ điều kiện cụ thể mà thiện - ác, tốt -
xấu, lợi - hại chuyển hoá cho nhau.
- Về nhân bản học: Con người là sự thống nhất cả hai mặt đối lập ẩm ướt và
lửa. Linh hồn là vật chất, là một trạng thái quá độ của lửa. Quan niệm này sai lầm
nhưng giá trị triết học của nó nằm ở chỗ: Ông tìm bản chất của tinh thần không
phải là ở ngoài vật chất mà là ở chính thế giới vật chất, giá trị ấy có tính chất
Trường phái đa nguyên là một sự tìm tòi mới của chủ nghĩa duy vật nhằm
khắc phục hạn chế của quan điểm duy vật đơn nguyên để lý giải tính thống nhất
trong sự đa dạng của thế giới.
1.2.4. Trường phái nguyên tử luận :
Đỉnh cao của triết học duy vật Hi Lạp cổ đại được thể hiện trong trường phái
nguyên tử luận (thế kỷ thứ V-III TCN) với các đại biểu Lơxíp, Đêmôcrít và
Êpicua. Học thuyết nguyên tử (do Lơxíp là người đầu tiên nêu lên, Đêmôcrít phát
triển) có nội dung lý luận sau:
Thuyết nguyên tử
Theo ông, vũ trụ được cấu thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên tử và
chân không. Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy, không
phân chia được, không biến đổi, luôn vận động và tồn tại vĩnh viễn. Chân không
(không gian trống rỗng) không có kích thước và hình dáng, nhưng vô tận và duy
nhất, nó là điều kiện cần thiết cho sự vận động của nguyên tử. Theo Đêmôcrít, sự
sống phát sinh từ những vật thể ẩm ướt, dưới tác dụng của nhiệt độ. Chỉ có sinh
vật mới có linh hồn. Linh hồn cũng được tạo thành từ các nguyên tử. Linh hồn khả
tử, nó sẽ rời thể xác và tan rã ra thành các nguyên tử dạng lửa khi sinh vật chết.
!"#$%ư&'()*+,-./'(ư01*2),3%'456&()*'7 '(8B
7
Nguyên tử vận động trong chân không theo luật nhân quả mang tính tất
nhiên tuyệt đối. Trong thế giới, mọi sự vật, hiện tượng xảy ra đều theo lẽ tất nhiên,
vì vậy, bản tính thế giới là tất nhiên. Như vậy, vạn vật trong thế giới, dù là vô sinh
hay hữu sinh, đều xuất hiện và mất đi một cách tự nhiên, không do thần thánh hay
ai đó sáng tạo ra. Thậm chí, nếu có thần thánh thì họ cũng được tạo ra từ nguyên tử
và tồn tại trong chân không. Mặc dù Đêmôcrít không lý giải được nguồn gốc của
vận động, không biết được linh hồn là hiện tượng tinh thần; nhưng việc ông khẳng
định bản chất thế giới là vật chất - nguyên tử luôn vận động theo quy luật nhân
quả; vũ trụ vật chất là vô hạn và đa dạng, không được sáng tạo và không bị hủy
diệt bởi các thế lực siêu nhiên là quan niệm duy vật, vô thần dũng cảm đương
nô. Theo ông, chế độ dân chủ chủ nô phải gắn liền với nền thương mại và sản xuất
thủ công, nhưng nó cũng phải gắn liền với tình thân ái, với tính ôn hòa và lợi ích
chung của công dân tự do, chứ không phải của nô lệ. Nô lệ cần phải tuân theo
mệnh lệnh của ông chủ. Nhà nước cộng hòa dân cử là nền tảng của chế độ dân chủ
chủ nô phải biết tự điều hành hoạt động của mình theo các chuẩn mực đạo đức và
pháp lý. Quản lý nhà nước phải coi như một nghệ thuật mang lại cho con người
hạnh phúc, vinh quang, tự do và dân chủ.
Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế nhưng với những thành tựu đạt được,
Đêmôcrít đã nâng chủ nghĩa duy vật Hi Lạp lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức
đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh hành bấy giờ, mà sau đó là
trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platon.
Chương 2
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA DUY
VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ ĐẠI
2.1. Xem xét riêng trên hai trường phái lớn: trường phái Heraclit và trường
phái nguyên tử.
9
2.1.1. Trường phái Heraclit:
Phép biện chứng của Heraclit đã đề cập tới hầu hết những luận điểm cốt lõi
của phép biện chứng dưới dạng các câu danh ngôn, tỷ dụ, hay những phát biểu
mang tính chất triết lý sâu sắc. Thứ nhất, ông quan niệm về vận động vĩnh viễn
của vật chất. Theo Heraclit không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im
tuyệt đối mà trái lại, tất cả đều ở trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành
cái khác và ngược lại. Lửa chính là gốc của mọi sự thay đổi. Tất cả các dạng
khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi. Ông đã nêu
lên khá rõ nét về tính thống nhất của vũ trụ.
Thứ hai, Heraclit đã nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu
thuẫn trong mọi sự vật hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của
ông về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về
“sự trao đổi của những mặt đối lập”, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối
thành quả vĩ đại của tư tưởng duy vật trong thế giới cổ đại. Những tư tưởng vũ
trụ học của ông xây dựng trong lý luận nguyên tử về cấu tạo vật chất và thấm
nhuần tinh thần biện chứng tự phát có một ý nghĩa sâu sắc đối với lịch sử triết
học.
Thừa nhận vũ trụ là vô tận và vĩnh cửu, Đêmocrit cho rằng có vô số thế giới
vĩnh viễn phát sinh, phát triển và tiêu diệt. Ông phỏng đoán rằng, vận động
không tách rời vật chất, đó là một phỏng đoán thiên tài. Theo ông, vận động của
những nguyên tử là vĩnh viễn, không có điểm kết thúc.
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Đêmocrit nêu ra khái niệm không gian.
Theo ông, không gian là khoảng chân không rộng lớn, trong đó những nguyên tử
vận động vĩnh viễn. Không gian là những khoảng trống giữa các vật thể, nhờ đó
các vật thể có thể tụ lại hoặc giãn ra. Xuất phát từ học thuyết nguyên tử,
Đêmmocit cho rằng không gian là gián đoạn và có thể phân chia vô tận.
Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa duy vật Đêmôcit là quyết định luận (thừa
nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả và tính quy luật của các hiện tượng tự
nhiên) nhằm chống lại mục đích luận (là quan điểm duy tâm cho rằng cái thống
trị trong tự nhiên không phải là tính nhân quả mà có tính mục đích). Sự thừa
:;<<F5?<6&6F&FEB<&(UV?<&5V@55&5&>5F&
11
nhận tính nhân quả, tính tất yếu và tính quy luật trong giới tự nhiên là một trong
những thành quả có giá trị nhất của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại.
Đêmocrit có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về nhận thức. Ông
đặt ra và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của
cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong
việc nhận thức tự nhiên.
Nét đặc sắc trong triết học duy vật của Đêmôcrit là chủ nghĩa vô thần. Ông
cho rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người bất lực trước những
hiện tượng khủng khiếp của tự nhiên. Theo ông, thần thánh chỉ là sự nhân cách
hoá những hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người. Thí dụ,
Ngoài ra, chủ nghĩa duy vật cổ đại còn được gọi là triết học tự nhiên. Nó
khái quát những tư tưởng của khoa học cụ thể và cùng khoa học cụ thể giải quyết
những vấn đề của khoa học lý thuyết. Nó chứa đựng những nội dung cơ bản các
ngành khoa học của Hy Lạp như thiên văn, toán học, y học…
Triết học thời kỳ này cũng đã thể hiện sự tiến bộ về mặt đạo đức xã hội khi
đề đạt mô hình nhà nước pháp trị, dân chủ với mục đích đem lại hạnh phúc, tự do
cho con người, phê phán những bất công, trục lợi bất lương
Thêm nữa, nó còn mang đến những câu triết lý mang giá trị vượt thời gian
“Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông” hoặc những câu nói có ý
nghĩa sâu sắc đến ngày nay “Người đào vàng phải đào rất nhiều đất mới có được
chút xíu vàng”, “Những người yêu thích trí tuệ cần phải biết yêu rất nhiều thứ”.
Không chỉ đóng góp những lý luận giải quyết những vấn đề cho xã hội đương
thời mà các nhà triết học duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại đã đặt ra những vấn đề
mà triết học và khoa học đời sau phải giải đáp, do vậy nó thúc đẩy hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn con người phát triển.
2.2.2. Hạn chế:
Do hạn chế nhất định về trình độ khoa học nên chủ nghĩa duy vật cổ đại đã
đồng nhất vật chất vào thực thể được coi là bản nguyên của thế giới, đồng nhất
vật chất với một số dạng vật chất cụ thể hoặc thuộc tính của nó, sự kết hợp của
13
trực quan và phỏng đoán mà thiếu những chứng cứ dựa trên kết quả nghiên cứu
khoa học.
Còn những khái niệm mang ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo như
“linh hồn”, “tình yêu”, “hận thù”.
Chưa thấy được hết khả năng của con người trong việc cải tạo biến đổi thế
giới.
Chưa lý giải được nguồn gốc vận động của thế giới vật chất. Chưa giải thích
được các hiện tượng tinh thần cũng như mối quan hệ giữa cái tinh thần và cái vật
chất. Nó chỉ mới lý giải thế giới chứ chưa góp phần cải tạo thế giới.
Còn chịu ảnh hưởng của giai cấp chủ nô thống trị nên vẫn bảo vệ lợi ích
nhận, đang áp dụng, nhận thấy vai trò, hiệu quả và ý nghĩa to lớn của nó trong
cuộc sống chúng ta thì một lời cảm ơn cho lịch sử, cho các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại quả thật sự không thừa.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] TS Bùi Văn Mưa, Triết học (Phần I), Trường Đại học Kinh tế TPHCM, Tiểu
ban Triết học, 2011.
[2] Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005
[3] TS Bùi Văn Mưa, Triết học (Phần II), Trường Đại học Kinh tế TPHCM, Tiểu
ban Triết học, 2011.
[4] Hà Thúc Minh, Triết học cổ đại Hy Lạp La Mã. Nxb. Mũi Cà Mau, 2000
[5] http://www.go.vn/diendan/showthread.php?516783-Triet-hoc-Hy-Lap-co-dai
[6] http://yume.vn/babymay85/article/cac-hinh-thuc-lich-su-cua-chu-nghia-duy-
vat.35CE1109.html
PHỤ LỤC
TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI HY LẠP-LA MÃ
Nxb. Mũi Cà Mau, 2000, tr. 131-139
o0o
TÁC PHẨM ĐỂ LẠI CỦA HÉRACLITE
Hà Thúc Minh dịch
D 1. Logos tuy vĩnh viễn tồn tại, thế nhưng trước khi nghe người ta nói đến nó, hoặc là lần đầu tiên sau
khi nghe người ta nói đến nó, đều không thể hiểu nó. Tuy rằng vạn vật đều ra đời dựa vào Logos, thế
nhưng khi chúng ta dùng lời nói hoặc sự thực để phân biệt từng sự vật hoặc chỉ ra thực chất của nó thì khi
thể hiện nó, người ta lại tỏ ra không có chút kinh nghiệm nào cả. Ngoài ra có một số người không hề biết
việc họ làm khi họ tỉnh, chẳng khác gì họ đã quên những việc họ đã làm trong lúc họ nằm mộng.
D 2. Do đó, nên tôn trọng những cái mà mọi người đều có. Thế nhưng Logos là cái mà mọi người đều có,
nhưng nhiều người lại sống mà không đếm xỉa đến nó, giống như họ có trí tuệ gì đặc biệt vậy.
D 3. Mặt trời có chân rộng như chân của người.
D 4. Nếu như hạnh phúc là khoái cảm của thể xác, thế thì khi con bò tìm được cỏ để ăn thì đó là lúc nó
hạnh phúc.
D 29. Người ưu tú nhất thà rằng chiếm lấy một thứ chứ không cần tất cả những thứ khác. Tức là, thà rằng
được cái quang vinh bất diệt chứ không cần những cái điêu tàn. Thế nhưng đại đa số người lại nuốt lấy
nuốt để giống như súc vật.
D 30. Thế giới này là đồng nhất đối với hết thảy sự vật tồn tại. Nó không do bất cứ vị thần nào sáng tạo ra
cũng không do bất cứ người nào sáng tạo ra. Nó là một ngọn lửa sống bất diệt trong quá khứ, hiện tại
cũng như tương lai. Nó được cháy sáng trong khoảnh khắc nhất định và tàn lụi trong khoảnh khắc nhất
định.
D 31. Sự chuyển hóa của lửa là: đầu tiên thành biển, một nửa biển thành đất, nửa còn lại thành gió
xoáy, , đất hóa thành biển và tuân thủ theo Logos mà trước kia biển hóa thành mà nó đã tuân theo.
D 32. Chỉ có một người duy nhất có trí tuệ, người đó vừa tiếp nhận vừa không tiếp nhận danh hiệu thần
Zeus.
D 33. Pháp luật chẳng qua là phục tùng ý chí của một người duy nhất
D 35. Những người yêu thích trí tuệ cần phải biết yêu rất nhiều thứ.
D 36. Đối với linh hồn thì chết có nghĩa là biến thành nước. Đối với nước thì chết tức là biến thành đất.
Thế nhưng nước từ đất mà ra, linh hồn từ nước mà ra.
D 41. Trí tuệ chỉ là nhận thức tư tưởng mà có thể chế ngự được hết.
D 43. Dập tắt bệnh phóng đãng còn cần hơn là cứu hỏa.
D 44. Người dân nên chiến đấu cho pháp luật cũng giống như chiến đấu cho bức tường thành của mình
vậy.
D 45. Anh không thể nhìn thấy biên giới của linh hồn đâu. Cho dầu anh có đi khắp mọi nẻo đường rộng
lớn cũng không thể tìm thấy được. Gốc rễ của linh hồn sâu như vậy đó.
D 47. Không nên kết luận quá sớm đối với một việc gì.
D 48. Cây cung (βισς) tên gọi của nó là sống (βισς) nhưng tác dụng của nó là chết.
D 49. Nếu như một người nào đó là ưu tú (αριοτος) theo tôi thì họ có thể sánh với hàng vạn người khác.
D 49a. Chúng ta vừa bước xuống vừa không bước xuống cùng một dòng sông. Chúng ta vừa tồn tại vừa
không tồn tại.
D 78. Tâm của con người không có trí tuệ, còn tâm của thần thì có trí tuệ.
D 79. Đối với thần thì con người là ấu trĩ, cũng như đối với người lớn thì con nít là ấu trĩ vậy.
D 80. Nên biết rằng chiến tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh. Tất cả đều sinh ra từ sự đấu
tranh và từ tính tất yếu.
D 82. Con khỉ đẹp nhất so với con người cũng rất dị hợm.
D 83. Một con người trí tuệ nhất so với thần, bất luận là về mặt trí tuệ, mỹ quan hay bất cứ mặt nào cũng
đều giống như một con khỉ.
D 85. Đấu tranh với trái tim là rất khó bởi vì mỗi một nguyện vọng đều được trả giá bằng linh hồn.
D 86. Chúng ta còn lâu mới nhận thức được thần thánh bởi vì chúng ta chưa có lòng tin.
D. 87. Con người nông cạn nghe bất cứ cái gì cũng thất kinh.
D. 88. Trong con người chúng ta, sống và chết, tỉnh và mộng, trẻ và già trước sau cũng đều là một. Cái
sau biến hoá thành cái trước. Cái trước biến hoá lại trở thành cái sau.
D 90. Hết thảy mọi sự vật đều chuyển đổi thành lửa. Lửa cũng chuyển đổi thành hết thảy sự vật. Cũng
giống như hàng hoá chuyển đổi thành vàng, vàng lại chuyển đổi thành hàng hoá.
D 96. Xác chết còn đáng quăng đi hơn là cục phân.
D 97. Chó sủa người lạ.
D 98. Linh hồn đang hôi thối trong địa ngục.
D 99. Nếu như không có Mặt trời, cho dù có các tinh tú khác cũng chỉ là đêm tối.
D 100. Mặt trời là người quản lý và theo dõi thời gian. Nó xây dựng, quản lý, quy định và chỉ ra những
biến thiên cũng như mọi thời tiết của mùa màng.
D 101. Tôi đã đi tìm tôi.
D 101a. Con mắt là người làm chứng cao hơn lỗ tai.
D 102. Đối với thần, tất cả đều đẹp, thiện và ngay thẳng. Còn đối với người thì một số là ngay thẳng còn
một số thì không ngay thẳng.
D 103. Trên đường tròn, điểm khởi đầu và điểm kết thúc trùng hợp nhau.
D 104. Tâm linh và lý trí của họ là cái gì vậy? Họ tin tưởng ở người hát rong đầu đường, lấy số đông tạp
nhạp làm thầy. Bởi vì họ không biết rằng số đông là xấu, chỉ có một số ít người mới là tốt mà thôi.