đời sống văn hóa người mông ở huyện mai châu tỉnh hòa bình (1986-2010) - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI TUẤN AN ĐỜI SỐNG VĂN HĨA NGƯỜI MƠNG
Ở HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HỊA BÌNH
(1986 – 2010)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

(1986 – 2010)
Chun ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGND. Nguyễn Cảnh Minh Thái Ngun, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/

iLỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tơi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tơi và chưa được cơng bố
trong bất cứ một cơng trình nào khác.

song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu khơng
tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của
các thầy cơ và các bạn để cơng trình thêm hồn thiện
Tác giả luận văn Bùi Tuấn An
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/

iii

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QT VỀ HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HỊA BÌNH 11

1.1. Khái qt huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình 11

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 11

1.1.2. Lịch sử hình thành 14

1.1.3. Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội 15

1.2. Khái qt về người Mơng ở huyện Mai Châu 17


2.6. Những chuyển biến trong văn hóa vật chất của người Mơng ở huyện
Mai Châu tỉnh Hòa Bình 46

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/

iv

Chương 3. VĂN HĨA TINH THẦN NGƯỜI MƠNG Ở HUYỆN MAI
CHÂU- TỈNH HỊA BÌNH ( 1986– 2010) 52

3.1. Tín ngưỡng tơn giáo 52

3.2. Phong tục tập qn 60

3.2.1. Nghi lễ khi sinh 60
2.2.2. Nghi lễ trong hơn nhân 62

2.2.3. Nghi lễ trong tang ma 73

3.3. Lễ hội 83

3.3.1. Lễ cúng Đa Zồng 84

3.3.2. Lễ hội mùa xn 84

3.4. Văn hóa dân gian 87

3.4.1 Văn học dân gian 87


giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc là một việc làm hết sức quan
trọng và cấp bách nhằm triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng về cơng
tác văn hóa. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay trên thế giới và khu vực đang
diễn ra q trình khu vực hóa và tồn cầu hóa.
Việt Nam từ khi lập nước (Văn Lang – Âu Lạc) đã là quốc gia đa dân
tộc. Tính đa dân tộc ngày càng được củng cố và tăng cường trong q trình
phát triển của lịch sử, tạo thành một trong những đặc điểm nổi bật của nước
ta. Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc trong đó đa số là người kinh,
còn lại 53 dân tộc thiểu số anh em, các dân tộc Việt Nam đã khơng ngừng đấu
tranh xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc và tạo dựng nền văn hóa Việt
Nam “đậm đà giàu bản sắc”.
Nói đến văn hóa (vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần) là nói đến
những sản phẩm do trí óc và bàn tay con người sáng tạo nên. Đất nước Việt
Nam có được ngày hơm nay là thành quả to lớn, là sức sáng tạo khơng mệt
mỏi của 54 dân tộc anh em. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn
hóa chung “thống nhất trong đa dạng”, song mỗi dân tộc lại có địa vực cư
trú, điều kiện hồn cảnh lịch sử địa lý văn hóa riêng, trong q trình hình
thành và phát triển của mỗi dân tộc lại tạo dựng nên một truyền thống văn hóa
mang đặc trưng của dân tộc đó, và chính yếu tố đó đã tạo nên tổng thể bản sắc
của dân tộc Việt đa dạng và phong phú.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/2

Tính đa dạng của văn hóa dân tộc nước ta thể hiện trong sắc thái văn
hóa vùng miền, mỗi vùng miền lại mang những yếu tố, sắc thái văn hóa riêng
được thể hiện trong mọi mặt đời sống, văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh
thần. Trong văn hóa của mỗi dân tộc, đều có sự kết tinh của tinh hoa văn hóa
các dân tộc khác (văn hóa các dân tộc lân cận, văn hóa vùng và văn hóa nhân

bản sắc và có giá trị.
Việc nghiên cứu văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số nói
chung là một việc làm cần thiết, phù hợp với tinh thần nghị quyết ban chấp hành
TW lần thứ 9 (khóa IX) Đảng ta: “Phải nghiên cứu để bảo tồn và phát huy
những di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc ít người ở Việt Nam”
Trên tinh thần đó việc nghiên cứu sưu tầm một cách đầy đủ, có hệ
thống kho tàng văn hóa dân gian của các dân tộc là việc làm thiết thực, nhằm
nâng cao hiểu biết về giá trị văn hóa của các dân tộc ít người, nhằm góp phần
bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa truyền thống, tạo lập cơ sở khoa
học cho các giải pháp hữu hiệu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố và
nâng cao tinh thần đồn kết dân tộc, thực hiện thành cơng các chủ trương,
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, nằm ở cửa ngõ của Tây Bắc vốn là q
hương của “nền văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, đã để lại nhiều di chỉ từ thời đồ
đá giữa, cách đây hàng vạn năm.
Tỉnh Hòa Bình có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, dân cư trong
tỉnh gồm 7 dân tộc: Mường, Thái, Kinh, Tày, Dao, Mơng, Hoa với tổng dân
số 803,3 nghìn người (theo danh mục điều tra dân số năm 2004). Trong đó
dân tộc Mơng sống tập trung chủ yếu ở hai xã Hang Kia và xã Pà Cò thuộc
huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình, có q trình lịch sử định cư lâu dài ở đây. Tại
hai địa bàn này từ xa xưa đã hình thành hai nhóm người Mơng: người Mơng
Đen và Mơng Hoa. Có thể thấy cho đến ngày nay người Mơng vẫn lưu giữ
được những nét bản sắc văn hóa riêng mang tính đặc thù, tiêu biểu của dân
tộc mình.
Là một người con của tỉnh Hòa Bình, được tận mắt chứng kiến những
giá trị văn hóa rất đặc sắc của các dân tộc trong vùng. Tơi thấy rằng những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/5

văn hố và xã hội của người Mơng để phục vụ cho mục đích truyền đạo và
thiết lập ách thống trị của thực dân Pháp ở vùng người Mơng. Vì vậy, cơng
trình này mang nặng quan điểm của thực dân Pháp áp đặt khiên cưỡng khi
cho rằng người Mơng và văn hố người Mơng có nguồn gốc sâu xa từ phương
Tây. Mặc dù vậy, cơng trình này cũng có giá trị về mặt tư liệu trong việc
nghiên cứu về nguồn gốc và những tập tục xã hội của người Mơng;
Cuốn Dân ca Mơng của nhà sưu tầm văn hố dân gian Dỗn Thanh,
1984, NXB Văn học, là cơng trình sưu tập có hệ thống các bài hát dân ca của
người Mơng - một yếu tố quan trọng làm nên văn hố tinh thần của dân tộc
Mơng. Tác giả Bế Viết Bảng (chủ biên), 1987, Dân tộc Mèo – Các dân tộc ít
người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), NXB Khoa học xã hội, cũng đề cập tới
các mặt đời sống văn hóa của các tộc người ở vùng Tây bắc Việt Nam;
Cuốn Dân tộc Mơng ở Việt Nam của hai tác giả Hồng Nam và Cư Hồ
Vần, 1994, NXB Văn hố dân tộc. Các tác giả đã giới thiệu khái qt về lịch
sử di cư, tên gọi, địa bàn cư trú, phân nhóm, sinh hoạt vật chất và tinh thần
của nguời Mơng ở Việt Nam, trong đó có đề cập tới người Mơng ở Mù Cang
Chải. Tác giả Trần Hữu Sơn, 1996, Văn hóa Mơng, NXB văn hóa dân tộc, tác
phẩm đã nêu khái qt về những nét văn hóa đắc sắc của người Mơng;
Cuốn Âm nhạc dân tộc Mơng của Hồng Thao, 1997, NXB Văn hố dân
tộc. Trong tác phẩm này tác giả đi sâu nghiên cứu về các nhạc khí của dân
tộc Mơng, lời ca trong bài hát Mơng, trên cơ sở đó tác giả rút ra những đặc
điểm của âm nhạc Mơng. Đây là một tài liệu có giá trị quan trọng để nghiên
cứu về văn hố tinh thần của người Mơng ở Việt Nam nói chung và người
Mơng ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình nói riêng;
Tác giả Bùi Xn Trường, 1999, với tác phẩm: Tác dụng của luật tục

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về đời sống văn
hóa người Mơng ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình (1986 – 2010), với hai lĩnh
vực là: Đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Giới hạn về khơng gian: Luận văn nghiên cứu văn hóa người Mơng
ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/7

+ Giới hạn về thời gian: Đề tài nghiên cứu về văn hóa người Mơng ở
huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình từ 1986 đến 2010.
4. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nguồn tài liệu
- Với đề tài tìm hiểu “ Đời sống văn hóa người Mơng ở huyện Mai
Châu tỉnh Hòa Bình (1986 -2010)” là đề tài nghiên cứu lịch sử văn hóa địa
phương còn mới mẻ, nguồn tài liệu còn ít vì vậy để hồn thành luận văn này
tơi đã cố gắng sưu tầm, tập hợp tư liệu ở nhiều nguồn khác nhau.
1.1. Các tác phẩm lịch sử, các sách chun khảo
Đại việt sử ký tồn thư, Đại nam thực lục, Việt sử thơng giám cương
mục… do nhà nước phong kiến biên soạn, sách viết về dân tộc học, sách lịch
sử địa phương.
1.2. Các bài viết đăng trên tạp chí
Tạp chí dân tộc học, Tạp chí nghiên cứu con người, Tạp chí Đơng Nam
Á, Tạp chí nghiên cứu lịch sử…
1.3. Nguồn tư liệu địa phương
- Tư liệu địa phương:
Lịch sử Đảng bộ Hòa Bình, lịch sử Đảng bộ huyện Mai Châu và một số

4. Luận văn là một tài liệu bổ ích góp phần vào việc biên soạn giảng
dạy về lịch sử địa phương và giáo dục truyền thống cho nhân dân ở địa phương.
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngồi phần mở, kết luận, phụ lục bao gồm ảnh minh họa, nội dung chính
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Khái qt về huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình.
Chương 2: Văn hóa vật chất của người Mơng ở huyện Mai Châu tỉnh
Hòa Bình ( 1986 – 2010)
Chương 3: Văn hóa tinh thần người Mơng ở huyện Mai Châu- tỉnh Hòa
Bình( 1986 – 2010)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/9BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN MAI CHÂU - HỊA BÌNH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/10

BẢN ĐỒ PHÂN BỐ DÂN CƯ HUYỆN MAI CHÂU - HỊA BÌNH


nghiệp là 5.033,24 ha, chiếm 9,71%; diện tích đất lâm nghiệp là 35.505,15 ha,
chiếm 68,46%; phần còn lại là đất ở, đất chun dùng, đất chưa sử dụng và
sơng, suối, núi đá chiếm 21,83%., dân số trung bình là 52.615 người (chiếm
6,6% dân số tồn tỉnh), mật độ dân số là 92,1 người/km
2
(bằng 1,8% mật độ
dân số tồn tỉnh).[3 - 15]
Về địa hình Mai Châu rất đa dạng, như đã nói bao gồm cả vùng đất
thấp và vùng núi cao. Vùng núi cao có những dãy núi đá vơi dựng đứng chạy
dọc từ Xăm Khòe, Mai Hịch, qua Mai Hạ đến Chiềng Châu, ở giữa các dãy
núi là các thung lũng khá bằng phẳng. Còn vùng đất thấp bao gồm hai loại đất
phù sa (sơng Mã và sơng Đà) và đất ngun sinh. Mỗi loại đất có nét đặc
trưng riêng phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau, nhất là cây lúa.
Địa hình Mai Châu khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều khe, suối và núi
cao. Theo đặc điểm địa hình, có thể chia thành hai vùng rõ rệt:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/12

Vùng thấp: phân bố dọc theo suối Xia, xuối Mùn và quốc lộ 15, diện
tích trên 2.000ha địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ.
Vùng cao: giống như một vành đai bao quanh huyện, gồm 8 xã với tổng
diện tích trên 400 km
2
, có nhiều dãi núi, địa hình cao hiểm trở. Độ cao trung
bình so với mực nước biển là 500 - 600m, điểm cao nhất là 1.287m (núi Spai
Linh thuộc địa phận xã Pà Cò), điểm thấp nhất là 220m (thuộc thị trấn Mai
Châu). Độ dốc trung bình từ 30
0

kiểu rừng tự nhiên với nhiều lồi cây nhiệt đới, gồm các loại gỗ q (lát hoa,
sến ), các loại cây đặc sản có giá trị (sa nhân, song ), các loại tre, nứa,
luồng Tuy nhiên, do q trình khai thác khơng có kế hoạch kéo dài, thiếu tổ
chức, quản lý, thêm vào đó là việc đốt phá rừng làm nương, rẫy đã dẫn đến
hậu quả là hiện nay nguồn tài ngun rừng nơi đây đã nhanh bị cạn kiệt. Q
trình chặt phá thiếu tổ chức, phát nương làm rẫy của bà con đã tạo ra những
trảng cỏ nghèo, độ che phủ thấp, huỷ diệt mơi trường sinh sống của các lồi
động vật. Hiện nay, các loại động vật rừng như lợn, gấu, khỉ, vượn, hoẵng, gà
lơi, rắn trong các thảm rừng hiện còn ở Mai Châu rất hiếm, nếu có thì số
lượng ít, sống tập trung trong các khu rừng cấm. Đến năm 2002, theo số liệu
thống kê, tồn huyện chỉ còn 35.507,91 ha rừng với trữ lượng gỗ khoảng
2.615 m3.[7, tr.895]
Được thiên nhiên ưu đãi, cảnh quan mơi trường nơi đây rất đẹp, với núi
non hùng vĩ, thảm rừng được bảo vệ ln giữ màu xanh tươi. Ngồi ra, Mai
Châu từ lâu đã nổi tiếng vơi những khu di tích, danh thắng như hang Khồi,
hang Láng, hang Lác, bản Bước, bản Lác, xóm Hang Kia gắn liền với lích
sử phát triển của Mai Châu có hệ thống sơng, suối khá dày đặc, là nguồn cung
cấp nước phong phú phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Ngồi hai
con sơng lớn chảy qua là sơng Đà và sơng Mã, ở Mai Châu còn có 4 con suối
lớn là suối Xia dài 40 km, suối Mùn dài 25 km, suối Bãi Sang dài 10 km và
suối Cò Nào dài 14 km cùng với nhiều khe, lạch, mạch nước, hệ thống các ao,
hồ tự nhiên và nhân tạo.
Tuy nhiên, do địa hình có độ dốc lớn nên khả năng trữ nước của hệ
thống sơng, suối ở Mai Châu kém. Vào mùa khơ, một số xã thường lâm vào
tình trạng thiếu nước trầm trọng như Noong Lng, Thung Khe. Ngược lại,
chính vì mất rừng và địa thế dốc đã tạo điều kiện hình thành lũ qt có sức tàn
phá ghê gớm sau các trận mưa lớn trong mùa lũ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/15

là Mai Đà. Sau một thời gian tồn tại lại tách làm hai châu cho tới năm 1941
lại hợp thành huyện Mai Đà. Sau cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp
thắng lợi, xuất phát từ u cầu thực tiễn của cách mạng đến năm 1956, Thủ
tướng Chính phủ ký quyết định tách huyện Mai Đà thành hai huyện là huyện
Mai Châu và huyện Đà Bắc, tồn tại và phát triển cho tới ngày nay.
Năm 1957, theo quyết định của Liên khu III, huyện Mai Châu bao gồm 5
xã: Mai Thượng, Tân Mai, Mai Hạ, Bao La và Pù Bin. Trong thời kỳ đấu tranh
thống nhất đất nước, địa giới hành chính của huyện khơng có gì thay đổi lớn.
Từ năm 1986, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, huyện Mai Châu
bao gồm 21 xã và 1 thị trấn, sau đó huyện cũng đã có một số thay đổi trong
việc tách nhập các xã trong hai huyện Mai Châu và Đà Bắc. Đến năm 2010,
huyện đã ổn định với 23 đơn vị hành chính gồm 22 xã: Tân Dân (sáp nhập
năm 2010), Tân Mai, Mai Hạ, Bao La, Pù Bin, Cun Pheo, Piềng Vế, Xăm
Khòe, Mai Hịch, Vạn Mai, Chiềng Châu, Nà Phòn, Nà Mèo, Tòng Đậu, Đồng
Bảng, Phúc Sạn, Tân Sơn, Noong Lng, Ba Khan, Thung Khe, Hang Kia, Pà
Cò và thị trấn Mai Châu. Cùng với việc gia tăng các đơn vị hành chính trong
huyện là sự gia tăng dân số, bên cạnh đó là sự giao lưu, tiếp biến giữa các
nền văn hóa trên địa bàn huyện cũng như với các khu vực xung quanh.
1.1.3. Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội
1.1.3.1. Tình hình kinh tế
Về phát triển sản xuất: thực hiện các mơ hình sản xuất mới với sự
chuyển giao, vật tư cơng cụ sản xuất, được hỗ trợ và áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật trong sản xuất, qua đó đã làm tăng năng suất, sản lượng, sản
phẩm nơng lâm nghiệp ngày càng tăng góp phần tăng thu nhập cho người dân
trong vùng. Năm 2010 có trên 75% số hộ đạt được mức thu nhập bình qn

các khu vực lân cận. Từ đó góp phần phát triển hơn nữa nền kinh tế, văn hóa -
xã hội của huyện.
1.1.3.3. Tình hình xã hội
Huyện Mai Châu được thành lập ngày 15 tháng 01 năm 1957, được
tách từ huyện Mai Đà cũ. Mai Châu là nơi tập trung sinh sống của nhiều dân
tộc anh em. Năm 2010, dân số của huyện 52.615 người (chiếm 6,6% dân số
tồn tỉnh), mật độ dân số là 92,1 người/km
2
(bằng 1,8% mật độ dân số tồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/17

tỉnh). Theo thống kê trên tồn huyện có trên 20 dân tộc cùng sinh sống, trong
đó có 5 dân tộc chiếm phần đa dân số của huyện là: Thái 29.855 người (chiếm
59,9%), Dao 1.029 người (chiếm 2,1%), Tày 54 người (chiếm 0,1%), Mơng (
chiếm 10,1%), Kinh( chiếm 12,5%), Mường( chiếm 15,1%). Ngồi ra là đồng
bào các dân tộc Dao, Tày, Hoa, Nùng, Khơ Me sự phân bố dân cư trong
huyện các dân tộc sinh sống đan xen ở hầu hết các xã của huyện. Thành phần
dân cư cho thấy huyện Mai Châu là nơi diễn ra sự giao lưu tiếp xúc nhiều nét
văn hóa khác nhau trong địa bàn tỉnh Hòa Bình, trong đó người Mơng cũng là
một trong những cộng đồng người cấu thành nên sự đa dạng của bản săc văn
hóa ở khu vực huyện Mai Châu.
Huyện Mai Châu có một bề dày lịch sử đáng trân trọng. Trong hơn sáu
thế kỉ xây dựng và phát triển, đồng bào các dân tộc huyện đã để lại nhiều dấu
ấn lịch sử đậm nét của vùng dất Mường Mai xưa kia.
Từ trước năm 1945, xã hội người Thái ở Mai Châu được phân chia
đẳng cấp rất rõ rệt. Thống trị xã hội là hệ thống Phìa, Tạo cha truyền con nối,
bên dưới các là các Tạo mường làm Bang tá, Chánh tổng. Trực tiếp cai quản

Việt Nam đều coi cao ngun Đồng Văn là q hương đất tổ của mình. Người
Mơng phân chia thành 4 nhóm: Mơng Hoa (Mơng Lềnh), Mơng Đen (Mơng
Dú), Mơng Xanh (Mơng Chúa), Mơng Trắng (Mơng Đu). Tuy có 4 nhóm
Mơng khác nhau, nhưng về ngơn ngữ và văn hố cơ bản giống nhau, sự khác
nhau giữa các nhóm chủ yếu là dựa trên trang phục phụ nữ.
Người Mơng phân bố hầu khắp trên các tỉnh miền núi phía Bắc Việt
Nam: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tun Quang,
n Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hồ Bình, Thanh Hố, Nghệ
An và một số ít ở Phú Thọ. Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), một bộ
phận Người Mơng di cư vào sinh sống ở các tỉnh Tây Ngun. Người Mơng ở
Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ về nguồn gốc, ngơn ngữ, văn hố với cộng
đồng người Mẹo ở Lào, người Mơng ở Thái Lan, người Miêu ở Trung Quốc
và Myanma.
Tuy cư trú ở độ cao từ 700m đến 1.500m, rải rác khắp nơi trên miền núi
phía Bắc Việt Nam và trên Tây Ngun, nhưng tộc người Mơng vẫn duy trì được
bản sắc văn hố độc đáo của mình trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam.
Theo các nhà dân tộc học Việt Nam thì phần lớn những người Mơng ở
các tỉnh miền núi phía Bắc đều di cư trực tiếp từ Q Châu, Quảng Tây và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/19

Vân Nam (Trung Quốc) sang. Riêng một số nhóm ở Thanh Hố, Nghệ An di
cư đến Việt Nam qua Lào. Người Mơng đến Việt Nam bằng các con đường
khác nhau và chia thành nhiều đợt, trong đó có 3 đợt chính:
- Đợt thứ nhất, khoảng 100 hộ, thuộc các họ Lù, Giàng từ Q Châu
đến khu vực các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, thời gian vào
qng cuối đời Minh, đầu đời thanh của lịch sử Trung Quốc, tương đương với
những năm có phong trào của người Miêu ở Q Châu chống lại chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status