TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
ARISTOTLE - NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN
CHẾ
NTH: BÙI THÁI HÙNG
STT: 66
LỚP : CHKT K21- ĐÊM 5
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
TRONG CÁC LĨNH VỰC
1.1 Thuyết nguyên nhân – Cơ sở siêu hình học
1.2 Thuyết vận động – Cơ sở vật lý học
1.3. Nhận thức luận
1.4. Logic học
1.5. Nhân bản học
1.6. Học thuyết chính trị - xã hội
1.7. Đạo đức học
1.8. Thẩm mỹ học và những tư tưởng kinh tế học của Arixtốt 10
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG CỦA
ARIXTOT
2.1. Giá trị: 11
2.1.1 Giá trị tư tưởng của Arixtot đối với nhân loại 11
2.1.2 Đóng góp đối với Logic học 11
2.1.3 Những đóng góp đối với giáo dục 12
2.1.4 Đóng góp đối với nhà thờ 12
2.2. Hạn chế: 13

đó có Thượng đế. Vì lí do đó, đôi khi ông gọi triết học là thần học. Nếu như các
khoa học khác nghiên cứu các sự vật của giới tự nhiên, các dạng tồn tại cụ thể
đang vận động và biến đổi không ngừng thì triết học thứ nhất nghiên cứu những
gì có tình chất vĩnh hằng trong thế giới hiện thực, vì thế nó là nền tảng của mọi
lĩnh vực thế giới quan khác của con người.
Nghiên cứu "Siêu hình học" của ông, chúng ta thấy ông coi lịch sử của tư
tưởng triết học chính là lịch sử con người đi tìm chân lý. Theo ông, tìm chân lý
trong một mối quan hệ là rất khó, nhưng trong nhiều mối quan hệ thì dễ
hơn.Việc tìm chân lý trong lịch sử xã hội không thể dựa vào một vài sự kiện, mà
cần phải có sự khảo sát công phu từ nhiều góc độ khác nhau với nhiều sự
kiện khác nhau.
Theo Arixtot tồn tại nói chung xuất phát từ 4 nguyên nhân cơ bản là: hình
dạng, vật chất, vận động và mục đích. Bất kỳ sự vật nào cũng đều phát triển dựa
trên 4 nguyên nhân đó. Tương tự như vậy, bất kỳ sự vật nào cũng có 4 nguyên
nhân trên thì mới có thể tồn tại được.
Trong số các nguyên nhân trên của tồn tại thì nguyên nhân hình dạng là cơ
bản nhất. Nó là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự vật. Bản thân nó đã bao
hàm cả nguyên nhân vận động và mục đích. Với việc thừa nhận nguyên nhân
mục đích trong sự phát triển của mọi vật, Arixtot đã làm cho quan niệm của ông
về tồn tại trở nên thần bí.
Như vậy, coi vận động và mục đích chỉ là những khía cạnh khác nhau của
nguyên nhân hình dạng, Arixtot đã thừa nhận học thuyết bốn nguyên nhân chỉ là
sự phát triển, cụ thể hóa quan niệm của ông về hình dạng và vật chất cũng như
Trang 2
mối quan hệ giữa chúng.
Trong hai nguyên nhân cơ bản của tồn tại – vật chất và hình dạng, thì
Arixtot coi hình dạng là nguyên nhân quan trọng hơn, có vai trò quyết định, bởi
nó là bản chất của sự vật. Xác định bản chất của sự vật ông đưa ra hai tiêu chuẩn:
Thứ nhất, bản chất phải là cái được nhận thức trong khái niệm, tức là cái
chung. Góc độ này ông hiểu bản chất của sự vật thuộc về lĩnh vực tinh thần.

được xây dựng trên nền tảng của “triết học thứ nhất”. Mọi sự vật trong thế giới
chúng ta, theo Arixtot đều vận động và phát triển khôn ngừng. Vì thế, nghiên
cứu vận động là điều kiện cần thiết để hiểu giới tự nhiên. Chính “sự thiếu hiểu
biết về vận dụng tất yếu sẽ kéo theo sự không hiểu biết về giới tự nhiên”. Arixtot
cho rằng giới tự nhiên là toàn bộ các sự vật, quá trình luôn vận động có liên hệ
với nhau và được cấu thành từ một bản thể vật chất.
Vận động không thể bị tiêu diệt và cũng không thể tách ra khỏi vật chất.
Có 6 hình thức vận động là: phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm,
di chuyển vị trí. Arixtot đã dừng lại trước quan niệm vận động tự thân của vật
chất mà thừa nhận cái hích đầu tiên của thượng đế nằm bên ngoài giới tự nhiên
là nguồn gốc thần thánh của mọi vận động xảy ra trong giới tự nhiên. Arixtot
cho rằng, vũ trụ là hữu hạn, liên tục và khép kín trong không gian nhưng vĩnh
viễn về thời gian. Vạn vật trong vũ trụ từ mặt trăng trở xuống đều được cấu
thành từ 4 yếu tố vật chất (nóng, lạnh, khô và ẩm) được đặc trưng bằng chuyển
động thẳng, mang tính cưỡng bức, dựa trên nguyên lý vật nặng rơi nhanh hơn
vật nhẹ; do vậy mà mỗi yếu tố có một xu hướng vận động riêng, chiếm giữ một
vị trí nhất định trong trật tự cấu trúc vũ trụ.
Từ những quan niệm vật lý trên, Arixtot xây dựng vũ trụ luận của mình.
Ông là người khởi xướng ra thuyết địa tâm coi trái đất là hình cầu, là trung tâm
của vũ trụ.
1.3. Nhận thức luận
Học thuyết của Arixtot về tri thức được xây dựng trên nền tảng quan niệm
về thế giới của ông. Tác phẩm “siêu hình học” của ông được mở đầu bằng luận
Trang 4
điểm “ tất cả mọi người, về bản tính đều khát vọng tới trí thức”
Lý luận nhận thức của Arixtot là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng
nhận thức luận thời cổ đại. Khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con
người, ông coi quá trình nhận thức là quá trình khám phá ra chân lí đích thực về
bản chất sự vật. Ông phê phán mọi quan niệm hoài nghi luận trong nhận thức,
ông coi “ngụy biện chỉ là một sự thông thái giả hiệu”.

trình bày trong mối quan hệ biện chứng, trong đó phân tích, diễn dịch được đặt
lên vị trí hàng đầu.
Arixtot là người đầu tiên đưa ra học thuyết về tam đoạn luận và suy lý.
Đây chính là cống hiến bất diệt của ông trong lịch sử phát triển logic học. "Tam
đoạn luận” là một mệnh đề mà trong đó nếu một cái nào đó được giả định, thì
một cái khác nào đó cần phải bắt nguồn từ một cái đã định, vì rằng cái đã định đó
là có". Tam đoạn luận của Arixtot được cấu thành từ ba phán đoán, trong đó hai
phán đoán là tiền đề, còn phán đoán thứ ba là kết luận
Mặc dù rất coi trọng vai trò của tam đoạn luận (hay của phương pháp diễn
dịch), song Aristotle hoàn toàn không xem nhẹ suy lý quy nạp trong quá trình
nhận thức. Theo ông, cái chung được nhận thức thông qua khái niệm, còn cái
riêng được nhận thức thông qua cảm giác. Ông đánh giá cao vai trò cửa nhận
thức cảm tính và coi đó là nguồn gốc để nhận thức cái chung
Như vậy, trong logic học của Arixtot phân tích và tổng hợp là hai phương
pháp luôn bổ sung cho nhau và không tách rời nhau. Quá trình suy lý quy nạp đi
từ cái đơn nhất đến cái chung diễn ra nhờ sự phân tích còn quá trình suy lý diễn
dịch để từ cái chung đến cái riêng diễn ra nhờ sự tổng hợp. Theo quan niệm của
Arixtot, quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp cũng như một số vận động khác
nhau của tư duy không thể tồn tại ở ngoài suy lý tam đoạn luận. Chúng luôn diễn
ra trong mới quan hệ chặt chẽ với tam đoạn luận và thông qua tam đoạn luận.
Logic học của Arixtot không chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp như vậy mà
còn bao hàm cả học thuyết của ông về các phạm trù, thể hiện như là phương pháp
luận xuyên suốt mọi lĩnh vực thế giới quan của ông. Bản thân thượng đế, dưới
Trang 6
con mắt của Arixtot là một nhà logic lý tưởng. Arixtot đã xây dựng nên hệ thống
các phạm trù như những hình thức của tư tưởng: 1) bản chất; 2) số lượng; 3) chất
lượng; 4) quan hệ; 5) vị trí; 6) thời gian; 7) tình trạng; 8) chiếm hữu; 9) hành
động; 10) chịu đựng.
Mặc dù ở một mức độ nhất đinh, Arixtot chưa thấy hết được vai trò của
quy nạp và đánh giá quá cao vai trò của diễn dịch trong nhận thức, nhưng về cơ

của nhà nước. Ông đã dành gần hết cuộc đời mình để khảo cứu các thành bang và
Hiến pháp Athen để rút ra những kết luận khoa học mà tầm vóc của nó không chỉ
dừng lại ở đương thời.
Ông cho rằng con người là một sinh vật xã hội (động vật chính trị). Con
người chính trị tức là công dân của một nhà nước và được đặc trưng ở khả năng
lập luận có lý lẽ và hành động có hợp tác. Khả năng lập luận hợp lý cho phép con
người thể hiện được những điều mà không một con vật nào có thể làm được, nhờ
khả năng này con người có thể phân biệt được đúng - sai, thiện - ác, chính đáng –
bất chính, công bằng – bất công. Đó chính là cơ sở để con người có thể hiệp tác
và liên kết với nhau nhằm xây dựng các thể chế chính trị mà cơ bản nhất là gia
đình và các thành bang.
Dưới con mắt của Arixtot, mọi công dân có đạo đức đều có quyền cai trị.
Tuy nhiên, ông quan niệm rằng con người chính trị lý tưởng chỉ giới hạn ở những
pháp quan và những ông vua thông thái, đó là những người có phẩm chất đạo
đức ưu việt, vượt lên trên tất cả những người khác, có trí tuệ và kỹ năng lãnh đạo,
dẫn dắt đám đông quần chúng. Những người nô lệ không có chỗ đứng trong thể
chế chính trị, họ chỉ được coi là những “công cụ” và dành cho các công việc “hèn
hạ”.
Từ sự quan sát nhà nước Athens cùng với nền dân chủ của nó, Arixtot
khẳng định, thể chế chính trị là sự sắp xếp các pháp quan trong một thành bang,
hay nói cách khác thể chế là một nhà nước trong thực tế. Theo Arixtot, nhà nước
là một thực thể tự nhiên, từ các cá nhân hình thành gia đình, các gia đình liên kết
nhau lại thành làng xã, nhiều làng xã liên kết nhau lại thành các thành bang, nhà
Trang 8
nước.
Arixtot lập luận rằng, quá trình hình thành các thể chế, nhà nước là quá
trình tự nhiên và nó có quan hệ chặt chẽ với khả năng suy lý và lập luận của con
người, nhưng trên hết vẫn là khả năng và nhu cầu của con người về sự liên kết để
tập hợp sức mạnh, thể hiện tự do và khát vọng dân chủ của mình.
Tham gia vào các thể chế chính trị, tự do của con người “dường như” bị

Nghệ thuật được coi là toàn bộ hoạt động vật chất của con người và sản
phẩm của nó. “nghệ thuật nói, Arixtot nhấn mạnh – trong một số trường hợp
hoàn thành những cái mà giới tự nhiên không thể làm được, trong một số trường
hợp khác, mô phỏng”. Ông đặc biệt nhấn mạnh chức năng mô phỏng theo giới tự
nhiên của nghệ thuật. Theo ông, nghệ thuật phát minh do nhu cầu của con người
muốn diễn tả những cảm nghĩ, cảm giác của mình. Trong bản chất, nghệ thuật là
một sự bắt chước và phản ánh thiên nhiên giống như cái kiến thu hình ảnh của
tạo vật. Nghệ thuật cao cả nhất vừa đánh động lý trí vừa đánh động tình cảm, tạo
nên một khoái cảm cao cả nhất cho con người
Trong số các dạng nghệ thuật Arixtot đặc biệt đề cao thơ ca, coi đó là
ngôn ngữ nói chung. Nó bao hàm cả sử thi hài kịch, bi kịch mỗi dạng nghệ thuật
có một dạng và tính chất mô phỏng khác nhau.
Arixtot có những quan điểm kinh tế học rất sâu sắc. C.Mác dã gọi ông là
nhà nghiên cứu vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử đã hiểu được hình thức giá trị
của trao đổi. Arixtot cũng đã nghiên cứu những hiện tượng của đời sống xã hội
như: phân công lao động, hàng hóa, trao đổi, phân phối ông cũng đã tìm ra mối
liên hệ giữa trao đổi với phân công lao động, sự phân ra gia đình nguyên thủy
thành những gia đình nhỏ. Khi nghiên cứu trao đổi, Arixtot đã tiếp cận đến hai
hình thức sở hữu: tự nhiên và không tự nhiên; đồng thời cũng đoàn ra một cách
tài tình tính hai mặt của giá trị tư tưởng độc quyền và giá cả độc quyền cũng đã
xuất hiện trong học thuyết về kinh tế của ông.
Trang 10
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG CỦA
ARIXTOT
2.1. Giá trị:
2.1.1 Giá trị tư tưởng của Arixtot đối với nhân loại
Arixtot trở thành người đầu tiên tổng kết và hệ thống hóa tư
tưởng triết học trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại theo nghĩa rộng, còn theo
nghĩa hẹp, Arixtot là người đầu tiên phân loại tri thức khoa học, mặc dù đó mới
chỉ là ban đầu, còn rấtsơ khai.

cổ đại, khối óc bách khoa nhất trong số các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người
đặt nền móng cho logic học. Nhưng có lẽ còn ít người biết về ông với tư cách
nhà giáo dục, người mà cách đây hơn hai nghìn năm, trong các tác phẩm Về giáo
dục, Chính trị học và Đạo đức học đã đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc
về vai trò, mục đích của giáo dục, về hệ thống giáo dục và sư phạm học
Tư tưởng giáo dục của ông có nhiều tiến bộ, hệ thống giáo dục hướng tới
là 1 nền giáo dục thường trực, thường xuyên, liên tục, bao trùm và kéo dài suốt
đời người.
Đối với Arixtot, giáo dục là công việc của nhà nước. Các trường học phải
là trường công lập. Cũng như Platon, Arixtot đã đi trước thời đại trong việc xây
dựng hệ thống giáo dục công lập mà ngày nay, chúng ta vẫn đang thực hiện. Việc
thiết lập một sự giảng dạy công cộng là một sự dân chủ hoá của giáo dục. Giáo
dục nhất thiết phải là thông nhất và đồng nhất cho mọi người
Tóm lại, theo Arixtot, do bản chất của mình, con người vốn đã có những
năng khiếu đặc biệt, nhưng chỉ có thể bằng giáo dục thì con người mới học được
cách làm người, mới trở thành con người thực thụ, con người hoàn thiện. Tất cả
các hoạt động nghệ thuật, các hoạt động giáo dục đều hướng đến mục tiêu khắc
phục những nhược điểm của con người. Chính thông qua giáo dục mà nền văn
hoá của nhân loại được tạo dựng.
2.1.4 Đóng góp đối với nhà thờ
Trang 12
Đối với giai cấp thống trị và nhà thờ, những học thuyết của ông được
nhiều học giả thời đó tin tưởng, tôn sùng. Một mặt củng cố quyền lực của giai
cấp thống trị, mặc khác họ kết hợp các học thuyết của ông với học thuyết cơ đốc
giáo thành hệ thống triết học kinh viện (scholastism). Triết học Arixtot trở thành
triết học chính thức của nhà thờ thiên chúa Roma. Một số khám phá khoa học
vào thời Trung cổ và thời Phục hưng bị chỉ trích đơn giản chỉ vì chúng không
được tìm thấy trong các thuyết của Arixtot.
2.2. Hạn chế:
Do hạn chế lịch sử, việc phân loại các khoa học ở Arixtốt mang nặng tính

động giữa lập trường duy vật và duy tâm, nhưng ông đã là người đặt nền móng
cho triết học châu Âu và thế giới, đồng thời còn là người mở ra hướng nghiên
cứu cho một loạt các khoa học xã hội và nhân văn chuyên ngành như: chinh trị
học, kinh tế học, đạo đức học, thẩm mỹ học, tâm lý học và đặc biệt là khoa lôgic
học hình thức cho đến ngày nay và sau này vẫn còn nguyên giá trị.
C.Mác đánh giá: “tư tưởng sâu sắc của Arixtot vạch ra những vấn đề trừu
tượng tế nhị nhất một cách đáng ngạc nhiên. Ông giống như người đi tìm kho
vàng, dù cho kho tài liệu sống bị chôn vùi bất cứ ở đâu dưới bụi rậm trong khe
núi, thì cái gậy hóa phép của Arixtot nhất định chỉ đúng vào nó”
Trang 15
Tài liệu tham khảo:
1. Bùi Văn Mưa – Đại cương về lịch sử triết học – Trường Đại học kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh – 2010
2. Judy Groves. Rupert Woodfin - Nhập Môn Aristotle – Nhà xuất bản trẻ
Tp.HCM 2008
3. Samuel Enoch Stumpf – Nhập môn triết học phương tây – Nhà xuất bản
tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh -2004
4. Will Durant – Câu chuyện triết học – Nhà xuất bản văn hóa thông tin
Tp.HCM – 2008
Các bài viết trên các trang web:
5. />%20VNU/NGUYENLYCOBANCUACHUNGHIAMAC-LENIN/Chuong
%20II/Chuong%20II.pdf
6.
7.
8. />option=com_content&view=article&id=535:tac-phm-o-c-hc-nicomachean-ca-
aristotle&Itemid=5
9. />%C3%A0-Tri%E1%BA%BFt-H%E1%BB%8Dc-Gi%C3%A1o-D%E1%BB
%A5c-Khoa-H%E1%BB%8Dc-(384-322-TCN-)
10. />param=14DEaWQ9Mjg4NzEmZ3JvdXBpZD0xNiZraW5kPSZrZXl3b3JkPQ==
&page=1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status