hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người thái huyện sốp cộp tỉnh sơn la - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐẶNG DUY THẮNG

HÁT RU VÀ NHỮNG NGHI LỄ ĐẦU ĐỜI
CHO TRẺ NHỎ CỦA NGƢỜI THÁI HUYỆN
SỐ P CỘ P TỈ NH SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÁT RU VÀ NHỮNG NGHI LỄ ĐẦU ĐỜI
CHO TRẺ NHỎ CỦA NGƢỜI THÁI HUYỆN
SỐ P CỘ P TỈ NH SƠN LA

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế

THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN

Đặng Duy Thắng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦ U 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu: 5
6. Bố cục luận văn 5
NỘ I DUNG 6
Chƣơng 1: VÀI NT V LCH S, X HI, TỘ C NGƢỜ I THÁ I
Ở SỐP CP, SƠN LA 6
1.1. Nguồn gốc lịch sử 6
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tộc ngƣời Thái Sốp Cộp , Sơn La. 8
1.2.1 Đặc điểm kinh tế 8
1.2.2. Đặc điểm xã hội 10
1.3. Văn hoá, văn học dân gian củ a ngƣờ i Thái ở Sốp Cộp, Sơn La. 12
1.4. Những lời hát ru của ngƣời Thái Sốp Cộp đậm đà bản sắc dân tộc. 14
1.4.1. Những nhận định chung nhất về sự lƣu truyền, bảo tồn, sử dụng

3.2. Giá trị và ý nghĩa 74
3.2.1. Giá trị 74
3.2.1.1. Giá trị văn hóa 75
3.2.1.2. Giá trị nghệ thuật 75
3.2.1.3. Giá trị tinh thần 76
3.2.1.4. Giá trị giáo dục 78

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3.2.2. Ý nghĩa 81
3.3. Thực trạng bảo lƣu câu hát ru gắn với nghi lễ vòng đời con trẻ ở Sốp
Cộp- Sơn La 81
3.3.1. Hiện trạng bảo lƣu câu hát ru của ngƣời Thái ở Sốp Cộp 82
3.3.2. Nguyên nhân của thực trạng 85
3.3.3. Những kiến nghị, đề xuất 87
Tiểu kết 89
KẾ T LUẬ N 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỞ ĐẦ U
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam , văn học các dân tộc thiểu số
chiếm một vị trí không nhỏ . Văn học các dân tộc thiểu số trong đó có văn họ c dân

cổ điển, nhạc không lời với quan điểm giúp trẻ phát triển trí não, thông minh hơn.
Mặt khác, trong cơ chế thị trƣờng, do bận rộn công việc, nhiều ông bố, bà mẹ,
không có thời gian ru con, muốn con ngủ mau, không ít ngƣời tìm mọi cách rung,
lắc, hoặc quát tháo làm mất đi tình cảm thân thƣơng, tình mẫu tử cao đẹp trong
truyền thống gia đình Việt Nam…
Thiết nghĩ, nghệ thuật hát ru và những bài hát ru không chỉ mang tính di sản
văn hóa mà còn là nguồn mạch quan trọng, có ý nghĩa nhân văn tiêu biểu của gia
đình Việt Nam, là mạch nguồn của sự sống nuôi dƣỡng tâm hồn trẻ thơ, giáo dƣỡng
nhân cách hồn nhiên, trong sáng, trọng lẽ phải, trọng đạo hiếu nghĩa cho trẻ từ khi
lọt lòng.
1.5. Trong kho tà ng văn họ c dân gian Thá i , có một bộ phận dân ca còn chƣa
đƣợ c quan tâm giớ i thiệ u , đó là nhƣ̃ ng là n điệ u há t ru trẻ nhỏ . Trong quá trì nh tì m
hiể u và điề n dã , chúng tôi nhận thấy ở bộ phận dân cƣ ngƣời Thái ở huyện Sốp Cộp
của tỉnh Sơn La đã và đang lƣu truyền và tồn tại một số lƣợng lớn những làn điệu
hát ru trẻ nhỏ với những nội dung phong phú , hấ p dẫ n cù ng vớ i nhƣ̃ ng nghi lễ kè m
theo. Điề u nà y đã thu hú t sƣ̣ chú ý củ a chú ng tôi và thú c đẩ y chú ng tôi lƣ̣ a chọ n
việ c giớ i thiệ u “Hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của người Thái huyện
Số p Cộ p tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Trong lịch sử của mình, tiếng Thái đã có cả một thời kỳ lâu dài làm ngôn
ngữ giao tiếp chung với các dân tộc khác vùng Tây Bắc. Với đặc điểm dân số đông
và cƣ trú lâu đời tại vùng Tây Bắc văn hóa Thái có ảnh hƣởng sâu rộng đến văn hóa
các dân tộc khác trong khu vực.
Xác đị nh đƣợc vị trí tầm quan trọng của văn hóa các dân tộc Tây Bắc nói
chung và dân tộc Thái nói riêng, Đảng và nhà nƣớc đã rất coi trọng đầu tƣ cho việc
nghiên cứu, sƣu tầm, bảo lƣu các giá trị văn hóa cộng đồng các đân tộc, trong đó
văn hóa Thái không nằm ngoại lệ.
2.2. Từ năm 1960 đã có nhiều công trình nghiên cứu , sƣu tầm về văn
học dân gian của ngƣời Thái ở Việt Nam đƣợc xuất bản . Các công trình sƣu tầ m ,


Đề tài lựa chọn các lời hát ru của ngƣời Thái Sốp Cộp, Sơn La là tƣ liệu
điền dã nhiều nơi của vùng Thái Sốp Cộp, Sông Mã làm đối tƣợng nghiên cứu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Ngoài ra, tác giả đề tài tìm hiểu thêm một số lời hát ru của một số dân tộc khác để
so sánh, đối chiếu khi cần thiết.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn chúng tôi chủ yếu tập chung đi sâu vào tìm hiểu
nghiên cứu, phân tích lời hát ru và những nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của ngƣời
Thái huyện Sốp Cộp, Sơn La trên một số mặt: Nội dung, nghệ thuật, giá trị và ý
nghĩa những câu hát đầu đời của trẻ nhỏ từ đó thấy đƣợc phong tục tập quán, đời
sống tín ngƣỡng và đời sống tâm hồn của ngƣời Thái ở Sơn La.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu.
- Đề tài sẽ là nguồn tƣ liệu giúp ngƣời đọc có đƣợc một sự hiểu biết đầy đủ,
sâu sắc hơn về văn hóa dân tộc Thái Việt Nam nói chung và Thái Sốp Cộp nói
riêng. Điều đó sẽ góp phần vào việc quản lý, giữ gìn bảo tồn ngữ hệ và bản sắc văn
hóa của ngƣời Thái Sốp Cộp, Sơn La.
- Có cái nhìn khái quát và tổng thể về văn hóa , văn họ c dân gian của dân tộc
Thái. Qua đó thấy đƣợc dấu ấn văn hó a dân gian trong những nghi lễ đầu đời cho
trẻ nhỏ của ngƣời Thái Sốp Cộp, Sơn La.
- Chỉ ra đặ c trƣng củ a văn học dân gian Thá i trong những khúc hát ru biểu
hiện trên phƣơng diện nội dung, nghệ thuật và giá trị, ý nghĩa.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Luận văn cố gắng làm sáng tỏ và khẳng định những đặc điểm, giá trị hát ru
và nghi lễ đầu đời cho trẻ nhỏ của ngƣời Thái Sốp Cộp, Sơn La. Đó cũng là công
trình nghiên cứu đầu tiên về hát ru, qua đó thấy đƣợc tầm quan trọng trong đời sống
văn hóa tinh thần đa dạng, phong phú và mang tính giáo dục, răn dạy trẻ đi đến
chân thiện mỹ.

Chƣơng II: Nội dung và nghệ thuật hát ru người Thái Sốp Cộp ,Sơn La
Chƣơng III: Hát ru trong nghi lễ vòng đời cho trẻ nhỏ ở Sốp Cộp, Sơn La

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên NỘ I DUNG
Chƣơng 1: VÀI NT V LCH S, X HI, TỘ C NGƢỜ I THÁ I
Ở SỐP CP, SƠN LA

1.1. Nguồn gốc lịch sử
Dân tộc Thái là một dân tộc lớn trong các dân tộc thiểu số Việt Nam, là một
dân tộc đông dân cƣ nhất của khu vực Tây Bắc Việt Nam. “Theo sự thống kê ở
bảng danh mục của thành phần dân tộc Việt Nam, tổng cục thống kê, Hà Nội 4 –
1999 thì dân tộc Thái có dân số đông thứ ba ( sau người Kinh và người Tày ). Còn
ở Sơn La người Thái chiếm 54,7% dân số” [ 6, tr.14 ].
Cho đến nay việc nghiên cứu lịch sử cƣ trú của ngƣời Thái ở Sơn La nói
chung, ngƣời Thái ở Sốp Cộp nói riêng còn rất nhiều những ý kiến khác nhau. Căn
cứ vào tài liệu thành văn “Quan tô mương” (kể chuyện bản mƣờng) hay “Tày pú
sấc” (dõi theo những bƣớc đƣờng chinh chiến của cha ông) “Hịt khoỏng bản
mường” (phong tục tập quán) Piết mƣơng, phanh mƣơng…. Những công trình
nghiên cứu lịch sử ngƣời Thái của các nhà khoa học đã kết luận rằng: Ngƣời Thái ở
Việt Nam nói chung và ngƣời Thái ở Sơn La nói riêng đều có nguồn gốc từ Đông
Nam Á cổ đại thuộc chủng Mônggôít. Đại chủng Mônggôlôít gồm các tiểu chủng :
Mônggôlôít Phƣơng Bắc, Mônggôlôít Phƣơng Nam và tiểu chủng da đỏ Châu Mỹ.
Hầu hết các tộc ngƣời ở Đông Nam Á cổ đại thuộc tiểu chủng Mônggôlôít Phƣơng
Nam. Tiểu chủng Mônggôít thuộc các nhóm loại hình: Anhđônêdiêng, Nam Á,
Vêđôti, Nêgrôti. Ngƣời Thái thuộc nhóm hình Nam Á.
Theo các văn tự chữ Thái tồn tại đến ngày nay, những văn bản trên lá cây,
giấy bản, sách, những cuốn sách sử chép tay hàng trăm trang… đã nói về quê hƣơng

Mường Ai ( thuộc các châu Tung Lăng, Hoàng Nham), khu vực Bỏ Te (thuộc miền
tây nam Vân Nam). Họ đến Tây Bắc từ lâu lắm rồi, tổ tiên của họ có thể là một
phần trong nhóm cư dân bản địa của các nghành người Việt cổ” [11,tr.12].
Khác với dân tộc khác, dân tộc Thái thƣờng sống tập trung trong các vùng
lòng chảo, thung lũng, cao nguyên, những nơi đất đai phì nhiêu tƣơng đối bằng
phẳng chạy dọc theo những con suối, tiện lợi giao thông. Chính vì vậy đã hình
thành, sáng tạo nên một nền văn hoá vật chất, tinh thần đa dạng và độc đáo. Với
những văn hoá vật chất ngƣời Thái đã tạo ra hình ảnh ngôi nhà sàn mang đậm văn
hoá của núi rừng Tây Bắc, các giá trị văn hoá tinh thần mang đậm hình ảnh dân tộc
Quan Tô Mƣơng (chuyện kể bản mƣờng), Tày Pú Sấc, Truyện Thơ đã mang lại
những giá trị văn hoá tinh thần phong phú, đa dạng của dân tộc Thái.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Ngƣời Thái ở Sơn La nói chung và ngƣời Thái Sốp Cộp nói riêng vẫn mang
đậm những đặc trƣng văn hoá truyền thống và nó đƣợc lƣu truyền qua nhiều thế hệ.
Sôp Cộp một vùng đất mới, mang đậm văn hoá hoang sơ đã thu hút độc giả nghiên
cứu về mảnh đất này.
1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội tộc ngƣời Thái Sốp Cộp , Sơn La.
1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Sốp Cộp là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Sơn La , cách thành phố Sơn
La khoảng 130 km, cách Hà Nội khoả ng hơn 400 km.
Huyện Sốp Cộp đƣợc thành lập từ ngày 2/12/2003, (trên cơ sở điều chỉnh địa
giới hành chính huyện Sông Mã ) theo Nghị định số 148/2003/NĐ-CP của Chính
phủ.Dƣớ i thờ i thuộ c Phá p , Số p Cộ p đƣợ c gọ i là tổ ng Số p Cộ p thuộ c châu M ƣờng
Thanh (Điệ n Biên ngà y nay ), gồ m 7 mƣờ ng: Mƣờ ng Lạ n, Mƣờ ng Và , Mƣờ ng Số p
Cộ p, Mƣờ ng Ten, Mƣờ ng Ló i, Mƣờ ng Luân, Mƣờ ng Lè o Huyệ n Số p Cộ p về phía
Nam có 120 km đƣờ ng biên giớ i quố c gia giá p cộ ng hò a dân chủ nhân dân Là o ;
phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; phía Bắc và phía Đông giáp
huyện Sông Mã. Địa hình khá phức tạp, phần lớn là đồi núi, đất đai tƣơng đối màu

liệu, săn thú rừng, chim muông, đánh bắt cá ở suối, sông…Ngƣời Thái Sộp Cộp đã
đúc kết đặc điểm kinh tế của mình là “miếng cơm ở đất, thức ăn ở rừng”. Trong
“Quam Tô Mương” đã có đoạn nhắc đến vấn đề này:
- Nguyên văn tiếng Thái:
“Kháu mết, kháu hak ma
Pa mết, pa hak táu
Mịt kháu to nuối mák phặc
Thút phắc po khoan hẳm”
- Dịch sang tiếng việt:
“Lúa hết lúa tự đến
Cá hết cá tự lại
Hạt lúa to bằng quả bí xanh
Ngọn rau dùng rừu chặt” [11,tr.31].
Nền kinh tế của ngƣời Thái Sốp Cộp chƣa có sự phân công lao động lớn nhƣ
chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp chƣa tách ra khỏi nông nghiệp
nên chƣa xuất hiện các thị trƣờng tập trung. Điều đó không thực sự quan trọng vì
nền kinh tế của họ vẫn là tự cung tự cấp. Họ có thể tự cung tự cấp từ lƣơng thực,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

thực phẩm, vải vóc đến các đồ dùng nhƣ dao, cuốc, xẻng, vật dụng gia đình bằng
các nghề thủ công truyền thống.
Ngày nay theo sự đổi mới của Đảng, Nhà nƣớc và sự quan tâm đặc biệt tới
vùng cao, vùng sâu xa vùng đồng bào dân tộc. Cơ cấu kinh tế chuyển đổi trở nên
linh hoạt hơn. Cây trồng vật nuôi cũng trở nên phù hợp, giao lƣu buôn bán cũng trở
nên phát triển. Cuộc sống đƣợc cải thiện dần kinh tế khá giả. Ngƣời Thái Sốp Cộp
cùng với các dân tộc anh em trong khu vực đã tham gia làm chủ, xây dựng quê
hƣơng, địa phƣơng mình ngày càng phát triển, văn minh hơn.
Các nghề phụ gia nhƣ : làm mộc, đan lát, dệt vải… cũng phát triển. Đầu tiên
là cung cấp cho nhu cầu gia đình sau là trao đổi với các vùng, các dân tộc khác theo

của các dòng quý tộc Thái mà trong nhiều đời đã đƣợc triều đình phong kiến trung
ƣơng công nhận quyền thống trị ở địa phƣơng với tính cách thế tập. Ngƣời Thái có
câu. “Dòng họ nhà trời làm chủ đất vàng” (sinh bẩu chẩu căm) đã nói nên quyền
làm chủ của quý tộc Thái với vùng đất đai của họ là Châu mƣờng.
Trƣớc cách mạng 1945, các đơn vị Châu mƣờng Tây bắc trực thuộc tỉnh
Hƣng Hoá nhƣng cũng có những thời kỳ Châu mƣờng lại đƣợc thống nhất thành
khối xung quanh các mƣờng lớn trung tâm – có ngƣời “Chẩu mường” đứng đầu thể
hiện với triều đình (các trung tâm lớn: Mƣờng Lò Luông – nay thuộc Văn Chấn,
Yên Bái, Mƣờng Muổi Luông – nay là Thuận Châu, Mƣờng Sang Luông – nay là
Mộc Châu…).
Tuy nhiên, Mƣơng Luông không có đầy đủ tính chất nhƣ một cấp tỉnh mà
chủ yếu là nhiệm vụ truyền đạt và đôn đốc châu mƣờng thực hiện các chiếu chỉ của
triều đình.
Về hình thức bộ máy hàng chính của cả nƣớc, các Châu mƣờng chỉ có vị trí
nhƣ cấp huyện. Song về thực chất mỗi Châu mƣờng có tính chất nhƣ một “triều
đình thu nhỏ” đƣợc triều đình phong kiến trung ƣơng công nhận quyền “thế tập”
của quý tộc, cũng nhƣ quyền tổ chức bộ máy hành chính và cai quản địa phƣơng
theo tập quán và tục lệ riêng. Trong đơn vị Châu mƣờng thƣờng có nhiều tộc ngƣời
cƣ trú cho nên quý tộc Thái cùng với bộ máy hành chính của họ không những thống
trị nhân dân lao động Thái mà còn cả các dân tộc khác.
Sơ đồ tổ chức các đơn vị Châu mƣờng: [22, tr.331].
Í tu thống quán thế Các giáo
Mƣờng phía ngoài: Xuổng Các bản
Châu mƣờng: Mƣờng phía trong: Lộng Quan Xuổng
Cang y chủa tố. Xuổng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Sau khi đất nƣớc độc lập thống nhất, dƣới sự lãnh đạo của Đảng đồng bào

Mƣờng Thanh có mỏ muối, mỏ thóc, mỏ thiếc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

“Đi Sốp Cộp ăn cá
Sang Mƣờng Và ăn cơm
Tới Búng Lạnh ăn măng vầu đắng”[7, tr.77].
Qua đó họ đã có những đóng góp vào quá trình xây dựng và gìn gữ đất nƣớc:
Ngƣời Thái đã đƣợc “vua Kinh cần, vua Lào yêu”.
Trong quá trình xâm lƣợc của các thế lực ngoại bang những giá trị truyền
thống của ngƣời Thái Tây Bắc nói chung, đồng bào Thái Sốp Cộp nói riêng vẫn
đƣợc giữ gìn và bảo lƣu: Hát, múa xòe, luật tục,lễ hội… Nhiều lúc mục đích và ý
nghĩa của nó bị thay đổi nhƣng hình thức vẫn giữ đƣợc. Nếp văn hoá truyền thống
đặc trƣng nhất của ngƣời Thái là ngôi nhà sàn cùng với các hoạt động sinh hoạt văn
hoá gia đình không hề bị biến hoá. (Đƣờng lên Tây Bắc quanh co, nếp nhà sàn thấp
thoáng). Ngƣời Thái Sốp Cộp làm nhà sàn 3 – 5 gian, chôn cột hình khum nhƣ mái
rùa, hai đầu nóc hồi đƣợc trang trí “khau cút” biểu tƣợng mang ý nghĩa chỉ vai trò,
địa vị của các tầng lớp trong xã hội.
Bên cạnh nếp nhà sàn đặc sắc đó ngƣời Thái Sốp Cộp nói riêng và tộc ngƣời
Thái Tây bắc nói chung còn có trang phuc truyền thống riêng biệt mà ta không thể
nhầm lẫn với các dân tộc khác. Trang phục nữ vừa đẹp vừa gọn và đặc biệt làm nổi
bật những đƣờng nét trên cơ thể họ. Họ mặc áo cánh ngắn (Xửng cỏm), khuy cài
bằng bạc hình bƣớm ve ôm sát lấy thân ngƣời, váy màu đen không trang trí hoa văn.
Trang phục nam giới ngày thƣờng họ mặc áo màu đen, cổ tròn, xẻ ngực, cài cúc vải
có hai túi dƣới vạt trƣớc, quần kiểu chân què, màu chàm đen. Dịp lễ tết hộ mặc loại
áo dài xẻ nách phải, màu chàm đầu quấn khăn, chân đi guốc. Trong tang lễ họ mặc
nhiều loại áo sặc sỡ, tƣơng phản màu sắc với ngày thƣờng có lối cắt may dài, thụng,
không lƣợn lách với các loại: xẻ ngực, xẻ lách, chui đầu.
Ngoài ra ngƣời Thái là một trong bốn nhóm tộc ngƣời có chữ viết riêng.
Điều này có ý nghĩa lớn với dân tộc Thái nói chung và ngƣời Thái Sốp Cộp nói

vậ y, trong kho tà ng văn hó a cộ ng đồ ng củ a ngƣờ i Thá i ở Số p Cộ p vẫ n hiệ n hƣ̃ u
nhƣ̃ ng tá c phẩ m cổ truyề n có giá trị củ a ngƣờ i Thá i truyề n thố ng nó i chung nhƣ
truyệ n kể (Quắ m tố mướ n, …), nhƣ̃ ng lờ i khắ p (Tản chụ xiết xương ,…), nhƣ̃ ng câu
tục ngữ, câu đố (Thái kỏm kẻm), v.v đã đƣợ c lƣu giƣ̃ qua nhiề u thế hệ . Song đặ c

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

biệ t, có một thể loại tác phẩm là những lời hát ru và đồng dao cho trẻ nhỏ đƣợc gắn
liề n vớ i sinh hoạ t hà ng ngà y củ a ngƣờ i Th ái ở Sốp Cộp còn đƣợc bảo lƣu khá
phong phú cho đế n tậ n ngà y nay.
Những câu hát ru của ngƣời Thái Sốp Cộp đã đƣợc dịch sang thành tiếng
Thái một cách rất lô gíc và tình tứ. Điều đó tạo thêm sự phong phú về văn hoá, tín
ngƣỡng của ngƣời Thái, ngƣời phụ nữ Thái Sốp Cộp thể hiện tình yêu thƣơng con
mình qua những lời hát ru, mang lại cho tâm hồn trẻ nét tƣơi sáng, hồn nhiên, mang
tính giáo dục trẻ cao. Từ khi đứa trẻ sinh ra đƣợc mẹ ôm ấp bế bồng vừa hát ru vừa
tập cho trẻ cách nằm ngửa, nằm nghiêng, bế đung đƣa, bế đứng, bế đi lại, vui đùa
làm cho trẻ thói quen bắt nhịp vào tai những lời hay, ý đẹp. Chính điều đó đã nuôi
dƣỡng tâm hồn trẻ một sự hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng.
Ngƣờ i Thá i ở Số p Cộ p quan niệ m rằ ng mộ t em bé đƣợ c sinh ra là mộ t tà i sả n
vô cù ng quý giá củ a gia đình , của ông bà , họ mạc, đố i vớ i ngƣờ i mẹ thì em bé “là
hơi ấ m là sƣ́ c số ng” củ a mẹ , Do vậ y, trong tiế ng Thá i có nhiề u tƣ̀ để gọ i trẻ nhỏ
mộ t cá ch yêu mế n, để so sánh trẻ với nhƣ̃ ng vậ t vô giá nhƣ “tó n ngân tó n kắ n”, “tó n
khọt tón xanh”, “khua chau ấ m”, … nghĩ a là “hò n ngọ c hò n và ng” , “hò n ngọ c sá ng
nhấ t củ a mẹ ” , “trá i tim số ng cò n củ a mẹ ” , v.v…Với sự đa dạng của những câu hát
ru đƣợc lƣu truyền qua nhiều thế hệ từ ông bà, cha mẹ, con cháu, với ngôn từ thì dễ
nhớ, những lời hát ru đó của ngƣời Thái Sốp Cộp đã mang lại những giá trị văn hoá
tinh thần hết sức độc đáo cho văn hoá Thái Tây Bắc.
1.4.2. Khái quát giới thiệu về số lƣợng những lời há t ru đã sƣu tầ m đƣợ c ở Số p
Cộ p, Sơn La
Trong đề tài nà y chú ng tôi muố n giớ i thiệ u nhƣ̃ ng bà i há t ru và đồ ng dao

mẹ phát hiện ra mình đã mang
thai.
Sƣu tầm
2
Tháng thứ 2
Ngƣời mẹ mang
thai tháng thứ 2
“… muốn ăn cá muối dưa
Bé vào bụng hai tháng”
Sƣu tầm
3
Tháng thứ 3
Ngƣời mẹ mang
thai tháng thứ 3
“Mẹ thèm ăn chua me
Bé vào bụng ba tháng”
Sƣu tầm
4
Tháng thứ 4
Ngƣời mẹ mang
thai tháng thứ 4
“Mẹ them ăn chua cá ly
Bé vào bụng bốn tháng
Vừa ăn mẹ lại thèm”
Sƣu tầm
5
Tháng thứ 5
Ngƣời mẹ mang
thai tháng thứ 5
“Mẹ lại muốn ăn chua cá bá


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

mười ngày”
10
Giây phút chào
đời của trẻ
Ngƣời mẹ bắt
đầu sinh con
“Đã được tám tháng tạm
Đã được chín tháng mong
Mở cửa mẹ ra bé thành
người…”
Sƣu tầm
11
Lời hả hơi vào
thóp
Trẻ nhỏ khi mới
chào đời
Người mẹ thường hả hơi vào
thóp con vừa hát
Sách
Thái cổ
12
Lời ru vỗ về
yêu thƣơng của
ông bà, bố me,
cô gì
Lời ru bé từ
1tuổi đến 2 tuổi

“…Trên cẳng mẹ xinh xinh
Trên đùi mẹ lơm lơm
Thon thon tron trịa trịa…”
Sƣu tầm
16
Lời ru của chị
Lời ru bé từ
1tuổi đến 2 tuổi
Những lời ru yêu thương của
Chị vỗ về em đòi bú sữa khi mẹ
vắng nhà.
Sƣu tầm
17
Lời ru lúc gội
đầu cho trẻ
Lời ru bé từ
1tuổi đến 2 tuổi
Những lời hát day bảo bétránh
các thói xấu tật hư mà người đời
thường mắc phải như làm bậy,
lười biếng hay trộm cướp
Sƣu tầm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Câu hát đồng
dao “Đánh du”
Bé từ 3 tuổi đến
4 tuổi

Gọi nắng
Bé từ 3 tuổi đến
4 tuổi
Day trẻ nhận biết được trời nắng
Sƣu tầm
23
Cháy rừng
Bé từ 3 tuổi đến
4 tuổi
Nhận thức cho trẻ về cháy rừng
Sƣu tầm
24
Bảo gà chọi
nhau
Bé từ 3 tuổi đến
4 tuổi
Khi nhin thấy gà chọi nhau thì
trẻ bắt đầu hát
Sách
Thái cổ
25
Lời bảo trâu
húc nhau
Bé từ 3 tuổi đến
4 tuổi
Ý muốn nói cho trẻ hiểu được vỡ
mắt, nổ mắt thì vô phương cứu
chữa để bảo vệ đôi mắt của mình
Sƣu tầm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status