Điều tra thành phần sâu hại và ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỉ lệ và mức độ hại của rệp vảy nâu trên cây cà phê chè tại xã dồm cang, huyện sốp cộp, tỉnh sơn la - Pdf 34

TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
-----******-----

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NHGIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN SÂU HẠI VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU
TỐ NGOẠI CẢNH ĐẾN TỶ LỆ VÀ MỨC ĐỘ HẠI CỦA RỆP VẢY NÂU
TRÊN CÂY CÀ PHÊ CHÈ TẠI XÃ DỒM CANG, HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH
SƠN LA

Ngƣời thực hiện: Tòng Văn Tuân
Lớp CĐ KHCT K47
Ngƣời hƣớng dẫn: Kỹ sƣ Quàng Thị Vân Thảo
Giảng viên bộ môn Khoa học cây trồng
– Khoa Nông lâm – Trƣờng CĐ Sơn La

SƠN LA, THÁNG 01 NĂM 201

1


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của
thầy cô giáo trong khoa Nông – Lâm, Trường Cao Đẳng Sơn La và các đồng chí lãnh
đạo UBND xã Dồm Cang, các cá nhân và hộ gia đình bản men Xã Dồm Cang Huyện
Sốp Cộp đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo, kĩ sư Quàng Thị Vân Thảo –giảng
viên bộ môn Bệnh cây, khoa Nông lâm, trường Cao Đẳng Sơn La người đã gợi cho
em những ý tưởng về đề tài và đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ đề tài được thực hiện
và hoàn thành .

Tỷ lệ hại

TT

Trƣởng thành

3


PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà phê là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho
sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao. Cà phê trồng một lần, có thể thu hoạch khá lâu
.Trong điều kiện thuận lợi của nƣớc ta cây sinh trƣởng tốt thì cuối năm thứ tƣ đã thu
hái trên dƣới một tấn hạt /ha. Các năm thứ 5 - 6 (trong thời kỳ kiến thiết cơ bản) cũng
cho một sản lƣợng đáng kể khoảng 2 - 3 tấn hạt/ha. Từ năm thứ bẩy cà phê đã đƣa
vào kinh doanh sản xuất .
Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào, thay đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp với điều kiện không tranh chấp với diện tích trồng cây
lƣơng thực, cà phê là một trong những cây có ƣu thế nhất.
Hiện nay ta mới sử dụng khoảng 50% đất nông nghiệp. Nguồn lao động của ta
dồi dào nhƣng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng, cà phê là một
loại cây yêu cầu một lƣợng lao động sống rất lớn. Do đó việc phát triển mạnh cây cà
phê ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp có hiệu lực, vừa để sử dụng hợp lý
vừa để phân bố đồng đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi cả nƣớc.
Việc phát triển mạnh cây cả phê ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc phân
bố các xí nghiệp công nghiệp chế biến cà phê hiện đại ngay ở những vùng đó, do đó
làm cho việc phân bố công nghiệp đƣợc đồng đều và làm cho vùng trung du và miền
núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa.
Cây cà phê còn là cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc và giải quyết việc làm

“Điều tra thành phần sâu hại và ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh
đến tỷ lệ và mức độ hại của rệp vảy nâu trên cây cà phê chè tại Xã Dồm Cang,
Huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La”.

5


PHẦN II
MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
2.1 Mục đích yêu cầu
2.1.1 Mục đích
- Xác định thành phần sâu hại chính trên cây cà phê chè tại xã dồm cang, huyện
sốp cộp, tỉnh sơn la.
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ và mức độ hại
của rệp vảy nâu trên cây cà phê chè.
2.1.2 Yêu cầu
- Điều tra, thu mẫu, phân loại các loại sâu hại phát hiện đƣợc trên cây cà phê.
- Điều tra diễn biến rệp vẩy nâu gây hại.
- Tìm hiểu ảnh hƣởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ và mức độ hại
của rệp vẩy nâu gây hại.
- Đƣa ra một số biện pháp phòng trừ chính có hiệu quả.
.

6


PHẦN III
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tƣợng, vật liệu nghiên cứu:

- Lấyđiểm điều tra ngẫu nhiên theo ô bàn cờ.
- Tại mỗi điểm điều tra 4 cây điển hình. Tại mỗi điểm điều tra, quan sát kỹ
toàn bộ cây cà phê và thu nhập các loại sâu hại hiện diện.
+ Đối với nhóm rệp: Điều tra, quan sát kỹ các cành, chồi, chum, quả.
+ Đối với nhóm đục thân: Quan sát thấy vùng đục, lỗ đục, viền đục chẽ
cây thu mẫu.
+ Đối với nhóm rệp rễ: bới đất xung quanh đất, đặc biệt có kiến bò từ
gốc lên.
+ Đối với nhóm ăn lá: Quan sát kỹ các gây hại trên lá.
+ Đối với nhóm mọt đục quả: Quan sát lỗ đục trên qua.
+ Đối với nhóm mọt đục cành: Quan sát cành bị lục.
- Chỉ tiêu theo rõi đánh giá: Điều tra đánh giá mức độ phổ biến của sâu hại cà
phê để từ đó biết đƣợc loài nào gây hại mạnh và có mặt nhiều, Tỷ lệ các loại sâu hại,
Ở các điểm/tổng số điểm điều tra.
0% loài không suất hiện
1-5% mức nhẹ (ít)
6-15% mức trung bình
6-30% xuất hiện phổ biến
>30% xuất hiện rất phổ biến
3.3.2. Phƣơng pháp tính toán:
Σ số cây bị rệp hại
+ Tỷ lệ cây bị rệp hạ =

x 100
Σ sốcây điều tra
Σ số cành bị rệp

+ Tỷ lệ cành bị rệp ( %) = –––––––––––––––––––––––x 100
Σ số cành điều tra
(n1v2)+(n2v2)+(n3v3)+(n4v4)

giới.
“(Vũ Quang Giảng, 2001) [1] có viết: từ năm 1962 đã ghi nhận đƣợc 48 loài
sâu hại cà phê ở vùng nhiệt đới. Trong đó quan trọng la các loài: Anthores
leuconotus, Bixadus sierricola, cocous viridis, Leucoptea coffeella, Leoffeina,
Dichocrcis crocodora, Epicampoptera maranica. Habrochila placida Taurantii,
Olgonychus cofeae, Antestia lineaticollis, Stephanoderes hampei, Toxoptera aurantii
và Thliptoceras octguttale (Wynger, 1962)”.
“(Nguyễn Huy Nhất, 2000) [2] có viết: theo Le Pelley (1973), trên cây cà phê
có gần 400 loài côn trùng gây hại ở Ethiopia, ở các nƣớc đong nam Á có 250 loài và
các vùng trung tâm nhiệt đới có 200 loài. Theo Kalarke, Macrae (1987) và Clifford,
Willson (1987), đến nay trên thế giới dịch hại cây cà phê đã ghi nhận tƣơng đối chi
tiết đầy đủ với khoảng hơn 900 loài. Các dịch hại này bao gồm côn trùng, ve, động
vật than mềm, truyến trùng, chim và động vật có vú, trong đó có nhiều loại là dịch hại
nguy hiểm trên cây cà phê. Phần lớn những loài, bộ cánh nửa cứng (Hemiptera) với
28% tổng số loài và bộ cánh vẩy (lepdotera) với 21% tổng số loài. Các bộ phận khác
đã phát hiện đƣợc số loài ít hơn. Thí dụ, có 6% tổng số loài đã phát hiện thuộc bộ
cánh thẳng (Orthoptera), tổng số loài thuộc bộ cánh tơ (Thysanoptyra), 3% tổng số
loài thuộc 2 cánh (Diptera) và 1% tổng số loài thuộc bộ mối.
“(Vũ Quang Giảng,2001) [1]” có viết: theo Anthony Youdeowei (1983), rệp
vẩy nâu hại cà phê đều có mặt hầu hêt các nƣớc trồng cà phê trên thê giới,bao
gồm các nƣớc địa trung hải, Nam Mỹ,Châu Á. Theo Gorodon Wrigley (1988),
cho biết: rệp có 3 loài rệp quan trọng phát hại trên cà phê là: rẹp trần nhƣ rệp
10


vẩy xanh Coccus riridis Green, rệp vảy bao giáp nhƣ: rệp vảy sao
Asterolecanium cofeae,rệp có lớp sáp dạng bột E.M Lavabre (1970), cho rằng :
rệp sáp phổ biến ở vùng nhiệt đới trên thê giới, chúng tấn công các bề mặt trên
mặt đấ ở cây cà phê. Việt Nam, Zara… chúng tấn công phần rễ ở cà phê các
nƣớc: Ấn Độ, Kenya, Uganda… hiếm khi 2 loài này cùng tồn tại với nhau.

[13].
Với sự bành trƣớng của Đế quốc Ottoman (Đế quốc thổ nhĩ kỳ) đồ uống này
càng ngày càng đƣợc ƣa chuộng hơn. Quán cà phê đầu tiên mở ra ở Ba Tƣ, trong
những quá nhỏ ở vùng tiểu Á, Syria và Ai Cập ngƣời ta gặp nhau để thƣởng thức loại
đồ uống kì lạ, kể từ năm 1532 các quán cà phê luôn đông nghịt khách.Vào thế kỉ 17
cây cà phê đƣợc trồng phổ biến tại các thuộc địa của Hà Lan, đƣa nƣớc này thống trị
ngang với thƣơng mai cà phê [14].
Ở Coostantinople (Itanbul ngày nay) có lẽ cà phê đƣợc biết đến lần đầu tiên
vào năm 1517 (khi ông hoàng selimchiêm lĩnh Ai Cập), năm 1554 quán cà phê đầu
tiên ở châu Âu đã đƣợc mở ở đây, bất chấp sự phản đối của nhà thờ.Vào năm 1645
quán cà phê đầu tiên ở Ý đƣợc mở ở Venezia. Năm 1650 ở Oxford và năm 1652 ở
London lần lƣợt xuất hiện các quán cà phê đầu tiên của Vƣơng quốc Anh. Ở Pháp
những quán đầu tiên đƣợc khai trƣơng vào năm 1659, ở thành phố cảng Marseille,
Paris theo sau vao năm 1672, vào năm 1683 Wien cũng có quán cà phê đầu tiên (do
một ngƣời Ba Lan thành lập) sau khi Áo giành thắng lợi trƣớc Thổ Nhĩ Kỳ và tịch thu
đƣợc 500 bao cà phê chiến lợi phẩm. Thủ đô Wien sau đó trở thành phố với quán cà
phê nổi tiếng nhất, từ nƣớc pháp, cà phê đủ nhập vào Đức qua thành phố cảng bremen
vào năm 1673. Năm 1679 quán cà phê đâu tiên của Đức đƣợc một ngƣời Anh mở ở
Hamburg, sau đó là Rengbung (1686) và Leipzig (1694) .
Loại cây này đầu tiên chỉ đƣợc trồng ở Châu Phi và Ả Rập, nhƣng sau đó
ngƣời ta nghĩ tới việc gieo trồng nó ở các vùng đất thích hợp khác, những ngƣời Hà
Lan đã trồng cây cà phê trên các vùng đất thuộc địa của họ. Thống đốc vùng bắc Ả
Rập, Van Hoorn, đã có trồng cà phê trên đảo Tích Lan (SriLanka ngày nay) vào năm
1690 (có tại liệu ghi là năm 1658), sao đó đến đảo Java (Indonesia) 1696 hoặc (1699).
Năm 1710 ngƣời ta đã đem cây cà phê về châu Âu và trồng thử trong các khu vƣờn
12


sinh vật. Amsterdam là nơi đầu tiên cây cà phê nảy mầm trên đất châu Âu, năm 1718
ngƣời Hà Lan mang cây cà phê tới Surinam, năm 1725 ngƣời pháp tới Cayenne, 1720


Theo “( Phạm Thị Vƣợng và Trƣơng Văn Hàm, 2000)” [3] cho rằng: thu thập
đƣợc 24 loài sâu hại cà phê chè: 3 loài hại thân, 2 loài hại cành, 1 loài hại gốc, 2 loài
cắn cây con, 15 loài hại lá. Trong đó có 4 loài thƣờng xuyên gây hại và ảnh hƣởng
lớn đến năng suất đó là: sâu đục thân, sâu tiện vỏ, mọt đục hạt và 1 số loài rệp.
+ Sâu đục thân: (Xylotrechus quadripes) trƣởng thành hoạt động thích hợp ở
nhiệt độ 25-36C, 1 năm phát sinh 2 đợt chính: đợt 1 t4- t5; đợt 2 t9-t10. đỉnh cao sâu
non vào t6-t7, cà phê năm thứ 3 bị hại 3-5% số cây, cây năm thứ 4 bị hại trên 10% số
cây, Nhƣng nó còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện sinh thái của vùng và điều kiện khí
hậu của từng năm.
+ Sâu tiện vỏ: (pihammus cervinus) gây hại ở cà phê chè khi cây đƣợc 1-3 năm
tuổi. trong năm sau vũ từ giữa tháng 3 kết thúc vào cuối thang 5 đầu t6. sâu non phá
hại nặng từ t4-t5, năm sau 1 năm 2 lứa. cà phê năm thƣ 2 bị hại khoảng 20-26% là
loài nguy hiểm nhất ở các tỉnh trồng cà phê phía bắc.
+ Rệp hại cà phê: có 6 loài rệp chủ yếu gây hại ở cà phê: rệp mầm xanh, rệp
vảy, rệp sáp nâu lồi, rệp muội đen, rệp sáp giả, rệp sáp nâu mềm, trong đó rệp sáp giả
và rệp sáp nâu mềm là 2 loại gây hại nghiêm trọng. những năm khô hạn rệp thƣờng
phát sinh và gây hại năng ở hầu hết các vùng trồng cà phê.
Theo “(Vũ Khắc Nhƣợng và Đoàn Triệu Nhạn, 1989)” [4] cho rằng: có 22 loài
sâu hại chủ yếu thƣờng gặp trên các vƣờn cà phê ở Việt Nam. Trong đó, sâu hại phổ
biên ở rễ có loài, sâu hại phổ biến ở thân và cành có 4 loài, sâu hại phổ biến ở lá có 9
loài và sâu hại ở chum quả có 3 loài.
Kết quả điều tra thu thập thành phần sâu hại cà phê ở các tỉnh phái nam và tây
nguyên đã phát hiện có 12 loài. Chúng thuộc 5 bộ côn trùng là bộ cánh cứng
Coleoptera ( 5 loài ),bộ cánh vảy Lepidoptera ( 3 loài ), bọ cánh điều Hompytera (2
loài), bộ cánh thẳng Orthoptera (1 loài) và bộ ánh nửa cứng Hemiptera (1 loài) [6]
Sâu hại cà phê rất phong phú và đa dạng tuy nhiên không phải loài sâu hại nào
cũng gây hại nghiêm trọng, chỉ có 1 số loài gây hại có ý nghĩa đối với cà phê. Điểu
tra trong 3 năm 1996-1998 trên cây cà phê ở vùng tây nguyên phát hiện đƣợc 12 loài
côn trùng hại cà phê.

tấn.
Thị trƣờng cà phê của Việt Nam càng đƣợc mở rộng cà phê là mặt hàng
nông sản xuất khẩu có giá trị đúng thứ 2 sau gạo, giá trị cà phê xuất khẩu thƣờng
chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Vụ 2000 – 2001 Việt Nam đã
xuất khẩu cà phê đi 61 nƣớc trong đó đứng đầu là 10 nƣớc.
Bảng 4.2 Danh sách 10 nƣớc đứng đầu nhập khẩu cà phê của Việt Nam.

15


STT

Tên nƣớc

Số lƣợng

Trị giá

Tỷ phần so với

(tấn)

(USD)

Tổng xuất nhập khẩu
(%)

1

Bỷ


73852

31666,889

8,44

5

Ý

62559

27796,789

7,15

6

Pháp

45998

20147,381

5,26

7

Ba Lan


26288

11310,104

3,01

(Nguồn: ICO năm 2010)
Theo số liệu từ tổng tiêu cục thống kê Việt Nam, xuất khẩu cà phê trong tháng 02
năm 2013 đã tăng 75% so với cung tháng trƣớc, đạt 900000 tấn. Tính từ thang 10 đầu
nien vụ 2011 – 2012, xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt 1,03 triệu tấn tăng 1,1% so với
cùng kỳ niên trƣớc [9].
Tổng cục thống kê cũng vừa điều chỉnh con số xuất khẩu của tháng 06 tăng lên
nhẹ 94000 tấn, thay vì ƣớc tính 900000 tấn trƣớc đó.Việt Nam nƣớc sản xuất lớn thứ
2 trên thế giới, có thể bị giảm 20% sản lƣợng trong nien vụ này, xuất khẩu cà phê
Việt Nam đạt 748700 tấn, tƣơng đƣơng 12,48 triệu bao, giảm 5,9% so với cùng kỳ
năm ngoái [9].
Với tổng diện tích trồng đạt trên 500000 ha và sản lƣợng 10 triệu bao mỗi năm,
cà phê hiện nay đƣợc xếp thứ 2 sau gạo trong danh mục hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam. Để đạt sản lƣợng cao nhƣ vậy ngành cà phê Việt Nam mỗi năm thu hút
khoang 300000, hộ gia đình với trên 600000 lao động trong các tháng thu hoạch con
số này có thê tăng lên. Nhƣ vậy số lao động của ngành cà phê đã đạt tới 1,83%, tổng
lao động trên toàn quốc nói chung và 2,93 tổng số lao động trong ngành nông nghiệp
nói riêng [10].
16


Qua bảng 4.3 ta có thể thấy sự phát triển về diện tích của cây cà phê Việt Nam
qua các năm. Trong vòng 2005 đến 2009 diện tích tăng cà phê Việt Nam tăng từ
497499 ha lên 537000 ha, và sản lƣợng cũng tăng lên qua các năm đạt 752100 tấn

2007

2008

2009

Diện tích (1000) ha

497,4

497,0

509,3

530,9

537,0

Sản lƣợng (1000) tấn

752,1

985,3

915,8

1055,8

1045,1



0,651

0,389

0,410

0,386

0,401

sốp cộp

Sản lƣợng (1000) tấn

0,618

0,346

0,333

0,304

0,387

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2010)

17



+++

Tháng 1-3

Rễ
Cành

+++
++

Tháng 2-3
Tháng 1-3

TênKhoa Học

Rệp vảy nâu

Saissetiahemisphaeric

Rệp Sáp

Pseudococcus SPP

Chồi lá non

+++

Tháng 3

3


Asterolecanium

Rễ
Cành
Cây
Cây

+++
++
++
++

Tháng 2-3
Tháng 1-3
Tháng 3
Tháng 2-4

cofeae

cành

++

Tháng 2-4

pihammus cervinus

Cây



Coccus viridis Green
18


xanh
9

rệp sáp giả



+

Tháng 3-4

Lá non

++

Tháng 1-4

Cành cây

++

Tháng 4

Planococcus citri


+ rệp vảy nâu (Saissetiahemisphaerica)
+ rệp sáp (Pseudococcus SPP)

.

A

B

C

Hình 5.2 Các loại rệp
5.2:Điều tra, diễn biến tỷ lệ hại của rệp vẩy nâu trên cây cà phê chè .
Rệp vảy nâu là loại dịch hại nguy hiểm trên cây cà phê chè tại vùng nghiên
cứu, diễn biến của rệp vảy nâu theo sự thay đổi của các yếu tố khí hậu nhƣ: nhietj độ,
mƣa, nắng nên sâu có thể làm giảm năng suất cà phê theo các tháng có điều kiện khí
hậu khác, nhằm tìm hiểu tỷ lệ hại, mật độ hại của các tháng khác nhau.
5.2.1. Diên biễn mật độ hại rệp vẩy nâu cây cà phê .
Điều tra diễn biến tỷ lệ hại của rệp vảy nâu trên cây cà phê chè tại xã dồm
cang, sốp cộp đƣợc tiến hành theo dõi ở 3 vƣờn đại diện.
Mật độ hại của rệp vảy nâu là một chỉ tiêu đánh giá, mật độ gây hại của các
pha phát dục của rệp vảy nâu trên cây cà phê nhƣ sâu non, nhộng, trƣởng thành. Biết
đƣợc mật độ mật độ sâu hại có thể áp dụng đƣợc biệp pháp phòng trừ cho hiệu quả
với các loại sâu non, hay trƣởng thành để trứng vào thân, ngăn chặn sâu non tuổi 1 –
2 bám vào thân cây gây chết cây, kết quả điều tra mật độ sâu non đƣợc trình bay ở
bảng 5.2
Bảng 5.2 Diễn biễn rệp vảy nâu gây hại trên cây cà phê chè.

Thời gian
điều


30

119

3.97

0

3

30

154

5.13

0.32

4

30

122

4.067

0.167

5


30

119

3.97

0.167

9

30

120

3.98

0.167

10

30

134

4.97

0

11

100
50
0
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Ngày điều tra

Hình 1. Biểu đồ vảy nâu gây hại trên cây cà phê chè


125

2.5

Mật độ
trưởng
thành
(con/cây)
0

2

30

110

2.97

0

3

30

135

3.13

0.20


7

30

116

3.23

0.1

8

30

110

2.97

0.57

9

30

138

2.93

0.2

3,87

0.066

12

30

134

4.23

0

200
180
160
140

Mật độ trưởng thành (con/cây)

120

Mật đô rệp non (con/cây)

100

Thời gian điều Tổng số rệp sáp ĐT

80

11

12

13
Ngày điều tra

Hình 2. Biểu đồ rệp sáp gây hại trên cây cà phê chè
Qua bảng 5.3 và đồ thị 5.3 cho thấy sâu hại cà phê xuất hiện từ tháng 2 với mức độ
rệp khá cao.
Hầu hết tất cả các sâu hại trên cây đều sống một phần vòng đời trên cây kí chủ và
một phần vòng đời trong đất hoặc tàn dƣ thực vật. Sâu hại thƣờng thể hiện dạng từ bộ
phận bị sâu và dạng triệu trứng; các sâu hại phổ biến thân đen,cành vàng.
5.2.3.Diễn biễn của rệp vảy xanh gây hại trên cây cà phê chè.
Qua theo dõi diễn biẽn của rệp vảy xanh trên vƣờn cây cá phê chè có cành,cây
phát triển châm chạp tao điều kiện cho bệnh phát sịnh phát triển mạnh.Thực tế điều
tra thu đƣợc kết quả gây hại của rệp nhƣ bảnh dƣới đây.
Bảng 5.4 Diễn biễn rệp vảy xanh gây hại trên cây cà phê chè.
Thời gian
điều
tra (tuần)

Số cây điều
tra

Tổng số rệp
sáp ĐT

Mật đô rệp
non

154

5.13

0.32

4

30

122

4.067

0.167

23


5

30

147

4.9

0.133

6


30

148

4.93

0.3

10

30

135

4.5

0

11

30

119

3.97

0

12


2

3

4

5

6

7

8

9

10 11 12 13
Ngày điều tra

Hình 3. Biểu đồ rập vảy xanh gây hại
Qua bảng 5.4 và độ thị 5.4 cho thấy hầu hết tất cả các rệp trên cây đều sống
một phần vòng đời trên cây kí chủ và một phần vòng đời trong đất hoặc tàn dƣ thực
vật. Sâu hại gây ra thƣờng thể hiện dạng từ bộ phận bị rệp và dạng triêu trứng …
Một số nấm vi sinh vật gây hại phổ biến là nguyên nhân của bị sâu. Một trong
những loại bệnh phổ biến nhất là rệp gây thán thƣ trên cành,cây .
5.3. Ảnh hƣởng của cây che bóng đến tỷ lệ cây cà phê chè bị rệp vảy xanh
gây hại.
5.3.1 Ảnh hƣởng của cây che bóng đến tỷ lệ cây bị hại của rệp vảy xanh.
Cây cà phê có nguồn gốc ở dƣới tán rừng, thích nghi với điều kiện với cây

dân trồng cây che bóng cho cà phê, Nhƣng thƣờng dùng là: xoài, mậm hậu, nhãn,
muồng, trầu…gần đây ngƣời dân có trồng cây mỡ, lớn nhanh, gỗ có nhiều tác dụng.
Bên cạnh đó cũng có vƣờn chỉ trồng cà phê mà không trồng cây che bóng (vƣờn
thuần), để đánh giá cây che bóng và tỷ lệ gây hại của rệp vảy xanh đối với cà phê êm
tiến hành điều tra tỷ lệ cây cà phê bị hại, bởi rệp vảy xanh trên 3 vƣờn cây che bóng
và 3 vƣờn không che bóng. Kết quả bảng 5.5.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status