Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau là một nguồn thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hằng ngày
của mỗi chúng ta. Trong mỗi bữa ăn của chúng ta thì rau đóng một vai trò rất
quan trọng, vì chúng cung cấp cho chúng ta một lượng lớn các chất thiết yếu như
protein, lipit, gluxit, vitamin, các chất khoáng, các chất vi lượng và nhiều chất
dinh dưỡng cho mọi hoạt động sống của chúng ta. Vì thế trong khẩu phần ăn
hàng ngày, nếu ăn đầy đủ rau xanh sẽ rất có lợi cho sức khỏe.
Một trong các loại thực phẩm được trồng phổ biến của con người, thì
không thể ta không nhắc đến cây dưa chuột.
Dưa chuột (Cucumis Sativus L), thuộc họ bầu bí (Cucubitaceae) là loại
cây rất quen thuộc và được người dân trồng rất lâu đời ở nước ta, cũng là một
trong các loại rau ăn quả của mỗi con người chúng ta .
Cây dưa chuột có giá trị sử dụng cao. Nó cho quả ăn tươi, chế biến được
nhiều món ăn ngon. Quả dưa chuột được chế biến thành nhiều mặt hàng đa dạng
(đóng lọ, thái lát, muối chua, muối mặn...) để xuất khẩu sang Đài Loan, Hồng
Kông, Nhật Bản, Singapore và một số nước Đông Âu. Như vậy, ngoài việc làm
bữa ăn hàng ngày cây dưa chuột còn đóng một vai trò rất quan trọng trong đời
sống kinh tế của người dân.
Đặc biệt, trong quả dưa chuột có chứa hàm lượng vitamin C thiên nhiên
khá cao và một số men có lợi cho kích thích tiêu hoá, rất tốt cho sức khỏe.
vật trong rau. Đây là vấn đề đang cần được quan tâm một cách đặc biệt nhằm
bảo vệ môi trường và tạo nên một nền nông nghiệp sạch. Chính vì vậy hiện nay
biện pháp phòng chống dịch hại có hiệu quả và thích hợp là biện pháp phòng trừ
tổng hợp IPM. Biện pháp này ngày càng được coi trọng và là một chiến lược tốt
nhất. Muốn xây dựng và thực hiện biện pháp IPM thì trước hết chúng ta phải
hiểu biết nhất về mối quan hệ giữa cây trồng - sâu hại và thiên địch của chúng.
Do vậy, để nhằm nâng cao năng suất, sản lượng đối phó với an ninh lương thực
đồng thời nâng cao hiệu quả canh tác vượt qua thách thức và hiệu quả xã hội.
Việc bảo vệ thực vật là một trong những quá trình nghiên cứu quan trọng trong
thời đại ngày nay.
Xuất pháp từ những thực tế trên được phân công của các thầy cô giáo
trong khoa Nông lâm, dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Thị Thảo chúng tôi tiến
hành chuyên đề:" Điều tra thành phần sâu hại, thiên địch của chúng và diễn
biến mật độ sâu hại chính trên cây dưa chuột vụ Xuân năm 2013 tại bản
Thẳm phường Chiềng Sinh thành phố Sơn La"
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại chính trên cây dưa chuột để đề ra
biên pháp quản lý thích hợp, nhằm tạo ra sản phẩm rau an toàn phục vụ nhu cầu
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra thành phần sâu hại, thiên địch của chúng trên cây dưa chuột và
xác định loài gây hại chủ yếu vụ Xuân năm 2013 tại bản Thẳm - phường Chiềng
Sinh - thành phố Sơn La.
- Điều tra diễn biến mật độ sâu hại chính trên cây dưa chuột tại các địa
điểm, thời vụ trồng và giai đoạn sinh trưởng.
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nam Á [32].
Theo Vavilop (1926), G.Taracanov (1968) lại cho rằng khu vực miền núi
phía bắc Việt Nam giáp với Lào là nơi phát sinh cây dưa chuột hoang dại. Do
các giống dưa chuột Trung Quốc có hàng loạt các tính trạng lặn có giá trị như:
Qủa dài, tạo quả không qua thụ tinh (Hiện tượng Partenogenez), gai quả trắng
không đắng…nên Xalo cho rằng Trung Quốc là trung tâm thứ hai hình thành cây
dưa chuột [47]
Phân loại
Dưa chuột thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae, chi Cucumis, loài Sativusl. Đã
được nhiều tác giả tiến hành phân loại.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
Teachenko (1967) đã phân loại Cucumis Sativus L. thành 3 thứ dưa: dưa
chuột thường, dưa chuột lưỡng tính và dưa chuột hoang dại…[46].
Theo I.B Libner Nonneck (1989), Cucumis Sativus L. chỉ là một dạng
hình của dưa chuột, là cây rau thương mại quan trọng. Những cây khác cũng gọi
là dưa chuột như: : C. j lexuosus và C. melo (dưa chuột rắn); dưa chuột Ấn Độ
(Gherkin) C.anguria L; dưa chuột tròn C. prrophetarum; dưa chuột trắng Trung
Quốc Var.conmon hoặc dưa chuột sao: Sicyos angulatus [40].
Theo Raymond A.T .George (1989) dưa chuột có nhiều hình dạng và kích
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
Nhà di truyền học Ba Lan Kubieki (1969) [38] chia C.sativus thành 3 thứ
(Varietes):
Var.Vulgaris - Dưa chuột trồng gồm 2 nhóm sinh thái địa lý, Đông và Tây
Á
Var.Hermafroius - Dưa chuột lưỡng tính
Var.Hardwikii - Dưa chuột hoang dại.
2.1.2. Nghiên cứu sâu bệnh trên cây dưa chuột
Cây dưa chuột là một loại cây thực phẩm có nhiều sâu gây hại phá hoại
khác nhau của nhiều nước trên thế giới.
Tại Florida, những côn trùng gây hại trong các loại rau quả được điều tra
và nghiên cứu kỹ càng, được xác định là rầy mềm (aphids), bọ cánh phấn
(whiteflies), nhện nhỏ (spider mites), dòi đục lá (leafminers), sâu hại cuống trái
cà chua (tomato worm), bọ trĩ (thrips)... (Hochmuth, 2010) [35].
Hiện nay nhiều Công ty trên thế giới trong việc sản xuất rau sạch, rau an
toàn theo hướng chủ đạo của hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM đã được
nhiều công ty trên thế giới như Green Spot (Nottingham), IPM Laboratories
(Locke), Koppert Inc. (Romulus), Sygenta Bioline (Oxnard, California) BioBest
Biological Systems... đã có quy trình công nghệ sản xuất các loài thiên địch trên
quy mô lớn và có những thành tựu trong việc ứng dụng thiên địch phòng trừ sâu
hại cây trồng (Raymond A.Cloyd, 2000) [43].
Năm 1964, Paul DeBach và Evert I. Schliner (Division of Biological
Control, University of California, Riverside, USA) xuất bản quyển sách với tiêu
đề: “Biological Control of Insect Pest and Weeds” và sau đó nó trở thành nguồn
giảm thiệt hại cho cây trồng [35].
Một cuộc khảo sát năm 1981 trên 106 nông dân sử dụng kiểm soát sinh
học trên cà chua và dưa chuột ở phía Tây Canada, cho thấy họ đã giảm 60-80%
thời gian dành cho phun thuốc trị bọ cánh phấn (whiteflies) hoặc nhện đỏ (spider
mites); sản lượng cây trồng tăng lên 23% và giảm 38% chi tiêu (Elliott, 1982;
Linda A.Gilkeson, 1984) [33].
Tại Hà Lan, kiểm soát sinh học, sử dụng thiên địch được thương mại hóa
từ năm 1982, nông dân Hà Lan đã phát triển 550 hecta trồng cà chua và 600
hecta trồng dưa chuột và được nhiều công ty sinh học như công ty Koppert ở Hà
Lan đã sản xuất hàng loạt nhện bắt mồi, ong ký sinh… cung cấp cho nông dân
thả trên đồng ruộng trồng dưa chuột mang lại hiệu quả cao trong phòng trừ nhện
đỏ, rệp muội. Các sản phẩm rau, quả rất an toàn vì người nông dân Hà Lan
không phải dùng tới bất cứ loại thuốc hóa học nào, là một thời từng là niềm mơ
ước của nhiều nhà khoa học (Gilkeson, 1984) [34].
Tại Nhật Bản, đầu năm 1970, một công ty hóa chất đã bắt đầu sản xuất
thương mại ong ký sinh để kiểm soát các loài côn trùng gây hại trên các loại cây
trồng thực phẩm. Chỉ 5 năm sau đó, khi mà nhện ăn mồi (Phytoseiulus
persimilis), một loài nhện thiên địch đã được sử dụng trên khắp thế giới để kiểm
soát nhện nhỏ gây hại thì việc sử dụng thiên địch thương mai được chấp nhận tại
Nhật (Takafuji và Amano, 2002) [45].
Tại Nhật Bản bọ phấn (GHWF) (Trialeurodes vaporariorum Westwood)
là một đối tượng gây hại nguy hiểm từ lâu, loài này làm giảm sản sản lượng, thời
gian bảo quản nông sản cũng như khả năng làm trung gian truyền bệnh virus.
GHWF gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với vùng biển tây của bắc Mỹ, nơi
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thiệu "…cây dưa chuột hoa vàng, quả dài cỡ ngang tay, ăn mát vào mùa hè…"
Mô tả kỹ hơn cả trong phần cuốn sách "Phủ biên tạp lục" (1775) Lê Qúy Đôn đã
ghi rõ tên dưa chuột và vùng trồng là từ Quảng Bình đến Hà Tuyên và Bắc Bộ.
ThS. Trần Thị Ba, bộ môn Khoa Học Cây Trồng. Khoa Nông Nghiệp &
Sinh học ứng dụng, Trường ĐHCT. Dưa leo được biết ở Ấn Độ cách đây hơn
3.000 năm, sau đó được lan truyền dọc theo hướng Tây Châu Á, Châu Phi và
miền Nam Châu Âu [2]. Dưa leo được trồng ở Trung Quốc từ thế kỹ thứ 6 và
hiện nay được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Dưa chuột là loại rau ăn quả
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
thương mại được các nhà khoa học xác định có nguồn gốc ở Việt Nam, tồn tại ở
nước ta hàng nghìn năm nay. Trong quá trình giao lưu buôn bán nó được trồng
phổ biến sang Trung Quốc (Trần Khắc Thi) [23].
Giống dưa chuột
Theo PGS.TS. Tạ Thu Cúc) [3], sách giáo trình cây rau NXB (2000) của
Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Việc chọn tạo các giống dưa chuột cho
năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng với điều kiện ngoại cảnh…là việc làm
cần thiết nhằm tạo ra những giống mới thay thế giống truyền thống. Các giống
dưa chuột ở Việt Nam là:
Giống Yên Mỹ là giống địa phương, thân mảnh nhỏ, lá màu xanh vàng,
cao 2 – 2,5m. Thời gian sinh trưởng 90 – 100 ngày. Khối lượng quả trung bình
.............................................................................................................................................
phục vụ cho chế biến công nghiệp, xuất khẩu của nước ta hầu như chưa có mà
thường phải nhập nội, nên giá thành cao và không chủ động trong sản xuất. Còn
các giống dùng cho ăn tươi, tiêu thụ nội địa còn thiếu và chất lượng kém. Vậy,
trong những năm gần đây để khắc phục tình trạng trên các nhà nghiên cứu về
chọn tạo giống dưa chuột ở Việt Nam đã thu được một số kết quả sau:
Các tác giả: GS.VS. Vũ Tuyên Hoàng, Đào Xuân Thắng, Trần Khắc Thi,
Đỗ Thị Dung, Đào Văn Hợi chọn lọc từ năm 1991-1994 đã tạo ra giống dưa
chuột H1. Đây là kết quả từ cặp lai HN1 x CP1572, áp dụng phương pháp chọn
dòng của Guliaev kết hợp với phương pháp thụ phấn đồng dạng của giáo sư viện sĩ. Vũ Tuyên Hoàng. Giống H1 có thời gian sinh trưởng trung bình từ 90100 ngày, năng suất đạt 26-30 tấn/ha, dạng hình sinh trưởng khỏe, khả năng
chống bệnh khá với 4 loại bệnh hại chủ yếu (sương mai, phấn trắng, héo
rũ…)[11].
Các tác giả: Trần Đình Long, Đoàn Ngọc Lân tiến hành nghiên cứu những
yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của dưa chuột 226 đã kết luận:
giống dưa chuột F 1 266 nhập nội từ Đài Loan thích nghi được với điều kiện đất
đai, thời tiết khí hậu vụ xuân hè và vụ đông tại các vùng chuyên màu phía bắc
Thanh Hóa, nếu thâm canh tốt sẽ cho năng suất cao. Ở điều kiện nhiệt độ dưới
120C hạt không nảy mầm và cây con bị chết 90-95%. Nhiệt độ thích hợp để cây
sinh trưởng phát triển, tỉ lệ đậu quả cao, cho năng suất và chất lượng tốt nhất là
21-290C. Nhiệt độ 320C kéo dài liên tục sẽ ảnh hưởng xấu đến năng suất của loại
dưa chuột này. Không nên trồng độc canh giống dưa chuột trong nhiều vụ mà
cần phải thường xuyên luân canh với các cây trồng khác họ để tránh mầm mống
sâu bệnh và cho năng suất cao [20].
Các tác giả ở Viện Cây lương thực và cây thực phẩm tiến hành nghiên cứu
trong điều kiện vụ xuân 1994 ở vườn dòng con lai F 1 từ tổ hợp lai DL15 x
CP1583 kết luận: giống dưa chuột Sao xanh 1 có khả năng sinh trưởng, phát
triển khỏe, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp trồng cả 2 vụ xuân hè và thu đông,
giống cho năng suất cao 40 - 42 tấn/ha, có nơi đạt năng suất trên 50 tấn/ha. Quả
và công nghệ Vĩnh Phúc cho biết: dưa chuột CN516 là giống nhập nội vào nước
ta và được phân phối độc quyền bởi công ty TNHH Chánh Nông. Đây là giống
dưa chuột có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng 70 - 75
ngày, sau khi gieo khoảng 30 ngày cây bắt đầu cho thu hoạch quả. Thời gian thu
quả kéo dài 40 - 45 ngày. Chiều dài quả 20 - 25 cm, đường kính quả 3 - 3,5cm.
Thích hợp cho ăn tươi và chế biến xuất khẩu [16].
Giá trị kinh tế
Dưa chuột là cây trồng có lịch sử phát triển lâu đời, trong quá trình giao
lưu buôn bán nó được trồng phổ biến sang Trung Quốc và từ đây nó được phát
triển sang Nhật Bản, Châu Âu, Ấn Độ. Những thập kỷ của thế kỷ 20, dưa chuột
là cây rau chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau thế giới và được xếp hàng
thứ 6 trong các cây rau trồng hiện nay trên thế giới cả về diện tích và sản lượng.
Theo tổ chức lương thực thế giới FAO: năm 1992 diện tích trồng dưa
chuột là 880.000 ha, đến năm 1993 là 117.800 ha tăng hơn so với năm trước là
298.000. [3]. Theo FAO (2003), diện tích dưa chuột là 2.337.888 ha, tăng gấp 2
lần so với năm 1993 [3]. Năm 2003 các nước có sản dưa chuột lớn nhất thế giới
là: Trung Quốc: 24.345.098 tấn, Thổ Nhĩ Kì: 1.879.000 tấn, Mỹ: 1.055.763 tấn,
Nhật Bản: 745.320 tấn, Hà Lan: 423.780 tấn. Châu Á là khu vực sản xuất dưa
chuột chủ yếu của thế giới, sản lượng chiếm 76 – 78% [3].
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
kaempferol),
lignans
(pinoresinol,
lariciresinol,
và
secoisolariciresinol), và triterpenes (cucurbitacins A, B, C, và D) [3].
+ Dưa chuột là một nguồn tuyệt vời chống viêm vitamin K. Họ cũng là
một nguồn rất tốt của molypden enzyme đồng yếu tố. Chúng cũng là một nguồn
tốt của các gốc tự do nhặt rác vitamin C, sức khỏe tim mạch kali và magiê,
mangan xây dựng xương, và vitamin B5 sản xuất năng lượng. Chúng cũng chứa
tăng cường sức khỏe quan trọng silica khoáng sản [3].
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
Theo bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam (1972) thì thành phần
Theo PGS.TS. Nguyễn Đức Khiêm, sách giáo trình côn trùng Nông
nghiệp của NXB Trường đại học Nông nghiệp I Hà Nội (2006). Dưa chuột là
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
những cây được trồng quanh năm ở nước ta và mang lại thu nhập tương đối cao
cho người nông dân. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy dưa chuột trong quá trình
trồng trọt thường bị hại bởi một số loài sâu, nhện hại sau: Bọ trĩ (Thrips palmi
Karny), Thrips flavus Schrrank, nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus (Boisduval),
rệp bông (Aphis gossypii Glover), bọ phấn trắng (Trialeurodes vaporaorum
Westwood), bọ bầu vàng (Aulacophora fermralis chinensis Weisse), bọ ăn lá
Epilahna beetles, sâu đo (plusia peponis Fabrricius), ruồi đục quả (Dacus
cucurbitae Cquilett), bọ xít dài lưng đỏ…Chính những loài dịch hại này đã làm
cho người nông dân phải phun nhiều loại thuốc và phun nhiều lần trong mùa vụ
điều này đã gây ô nhiêm môi trường và tăng chi phí sản xuất [15].
Theo PGS.TS. Tạ Thu Cúc (2000). Sâu hại dưa chuột gồm có: Sâu xám,
sâu đục quả, rệp, nhện đỏ, ruồi đục quả, ruồi đục lá, bọ trĩ, bọ xít nâu. Còn các
loại sâu phá hoại nghiên trọng như: Ruồi đục lá, bọ trĩ ống, rệp, bọ dừa và ruồi
đục quả [3].
Kỹ sư: Mai Thị Bích Liên, Trần Thị Ba viết sâu gây hại dưa chuột gồm:
Bọ trĩ hay bù lạch (Thrips palmi), bọ rầy dưa (Aulacophora similis), rệp dưa, rầy
nhớt (Aphis spp.), nhện đỏ, rệp muội, ruồi đục quả hay sâu vẽ bùa (Liriomyza
kiện cho nấm bệnh xâm nhập gây thối quả. Sau vài ngày trứng nở ra dòi, dòi
chui vào thịt quả gây hại làm quả rụng thối.
Các tác giả : Chu Thị Thơm, Phạm Thị Lài, Nguyễn Văn Tó của sách
hướng dẫn phòng chống sâu bệnh hại cây thực phẩm, NXB lao động Hà Nội
(2006). Sâu xám (Agrotis Ypslou) thuộc bộ ngài ăn đêm, bộ cánh vẩy. Sâu đục
quả cà chua, dưa chuột thuộc loài Heliothis armigera H, bộ cánh phấn. Rệp
muội (Rrevicoryne brassicae L.) là loài hại lá chủ yếu. Sâu ăn tạp hay sâu xám,
sâu đất là loài đa ký chủ gây hại trên các loại rau màu, họ bầu bí, dưa chuột. Sâu
vẽ bùa (Liriomyza -sp), nông dân gọi là vẽ bùa. Là loại ruồi nhỏ, dài 1,4 mm,
màu đen bóng trên ngực có vét vàng. Nhện đỏ (Tetranychus sp), cơ thể nhỏ hơn
1 mm, hình bầu dục, nhiều lông mịn, có tám chân, miệng chích hút, di chuyển
nhanh và nhả tơ trắng mở mặt dưới lá [25].
Các nguồn tài liệu và thông tin từ các cơ quan quản lý ngành nông nghiệp
(Phòng Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Bảo vệ
thực vật Thành phố Hồ chí Minh và một số tỉnh trong liên kết rau an toàn, 2010)
cho thấy đối tượng sâu hại phổ biến trên rau bao gồm: Sâu khoang (Spodoptera
litura), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), sâu tơ (Plutella xylostella), bọ nhảy
(Phyllotreta sp), các loài rệp cây, rầy mềm, rệp muội (Aphis spp), ruồi dục lá
(Liriomyza huidobrensis), bọ cánh phấn (Whiteflies), các loài nhện nhỏ (Mites)
Bọ trĩ (Thrips). Các loài sâu hại nguy hiểm cho cây trồng như: sâu đo xanh
(Anomis flava), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu xanh (Heliothis armigera),
sâu đục quả đậu (Maruca testulalis), sâu xanh đầu bé (Plusia chalcites), sâu cắn
gié (Leucania separata)… là đối tượng tấn công và là thức ăn của BXBM
(Nguyễn Xuân Thành, 1994) [22].
Bọ cánh phấn (whitefly) là một loài côn trùng gây hại tại châu Á. Đây là
đối tượng gây thiệt hại trên nhiều loại cây trồng do sức đề kháng cao với hầu hết
các thuốc trừ sâu, ấu trùng bọ cánh phấn sản xuất số lượng lớn các sáp trên và
xung quanh bề mặt lưng của nó, làm giảm tác dụng bám dính của thuốc. Bọ cánh
phấn phát triển qua 6 giai đoạn tính từ trứng đến trưởng thành. Trưởng thành
thường thấy trên đọt non và đẻ trứng ở mặt dưới lá. Khi các đọt non bị nhiễm vi
sát khả năng bắt mồi và chu kỳ sinh trưởng của dòi ăn rầy mềm thuộc họ
Syrphidae (Diptera)[9]. Trần Thị Thiên An (2007) đã nghiên cứu một số thiên
địch phòng trừ ruồi đục lá rau Liriomyza (Agromyzidae - Diptera) tại Tp. Hồ Chí
Minh [1]. Trần Tấn Việt (2007) đã nghiên cứu và du nhập thành công ong ký
sinh Asecodes hispinarum trị bọ cánh cứng hại dừa tại các tỉnh phía Nam [26].
Nguyễn Thị Chắt (2007) đã bước đầu nghiên cứu sử dụng một số thiên địch ăn
rệp sáp giả phòng trừ rệp sáp tại thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận[4].
Tại California, năm 1970 các nhà khoa học đã dùng Ong mắt đỏ (OMĐ)
và ong vàng để phòng trừ sâu xanh Heliothis zea đạt hiệu quả từ 53-85%
(Nguyễn Thị Thùy, 2004) [21]
Các nhà khoa học nghiên cứu như PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh,
GS.T.S. Nguyễn Văn Đĩnh, GS.TS. Hà Quang Hùng (2009) ở trường Đại học
Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện nhân nuôi nhện và bọ xít bắt mồi. Qua điều tra
cho thấy, loài nhện bắt mồi (Amblyseius sp), xuất hiện rất phổ biến trên các cây
trồng bị nhện đỏ gây hại ở Việt Nam, kết quả nhân nuôi trong phòng thí nghiệm
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
và ngoài đồng ruộng đều cho thấy loài này có tỷ lệ tăng tự nhiên cao, có sức ăn
nhện hại lớn và hoàn toàn có khả năng khống chế số lượng nhện đỏ gây hại
ngoài tự nhiên. Đặc biệt, việc nhân nuôi nhện bắt mồi lại rất thuận lợi với khí
hậu miền Bắc nước ta [14].
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
Phần III
ĐỊA ĐIỂM THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại: Bản Thẳm - Chiềng Sinh - thành phố Sơn La và
tại Bộ môn Khoa học cây trồng - Khoa Nông lâm - Trường Cao Đẳng Sơn La
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ ngày 18/2 – 28/4 năm 2013
3.2. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu
+ Cây dưa chuột
- Dụng cụ nghiên cứu
+ Vợt bắt côn trùng
+ Bông, cồn, kéo, giấy thấm
+ Sổ, bút ghi chép số liệu
3.3. Đối tƣợng nghiên cứu
Các loại sâu hại và thiên địch của chúng trên cây dưa chuột.
3.4. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây
+ Điều tra diễn biến mật độ bọ ánh kim đen trên 2 thời điểm trồng dưa
chuột vụ xuân năm 2013 tại bản Thẳm – phường Chiềng Sinh – thành phố Sơn
La
+ Điều tra diễn biến mật độ sâu xanh trên 2 thời điểm trồng dưa chuột vụ
xuân năm 2013 tại bản Thẳm – phường Chiềng Sinh – thành phố Sơn La
+ Điều tra diễn biến mật độ bọ xít xanh trên 2 thời điểm trồng dưa chuột
vụ xuân năm 2013 tại bản Thẳm – phường Chiềng Sinh – thành phố Sơn La
- Điều tra diễn biến mật độ sâu hại chính (bọ bầu vàng, bọ ánh kim đen,
bọ xít xanh) chúng tôi tiến hành điều tra theo phương pháp của cục BVTV. Điều
tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1m2. Quan sát và đếm số sâu hại chính trên
cây dưa chuột.
3.5.2. Chỉ tiêu theo dõi, tính toán và xử lý số liệu
3.5.1.1 Chỉ tiêu theo dõi và tính toán
- Lập danh mục bảng thành phần sâu hại và kẻ thù tự nhiên của chúng
theo mẫu vật và mức độ phổ biến.
Tổng số điểm điều tra có sâu hay
thiên địch
Tần suất xuất hiện (%) =
x
100
2
Tổng diện tích điều tra (m )
Mức độ phổ biến được lượng hoá theo tần suất xuất hiện như như sau:
-:
Xuất hiện rất ít ( Tần suất xuất hiện < 20%)
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam nay là thành
phố Sơn La, có diện tích tự nhiên 14.055 km2, (chiếm 4,27%); diện tích cả nước.
Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 190.070 ha, (chiếm 13,52%); diện tích đất
lâm nghiệp có rừng là 331.120 ha, (chiếm 23,55%); diện tích đất chuyên dùng là
22.327 ha, (chiếm 1,53%); diện tích đất ở là 5.756 ha, (chiếm 0,39%); diện tích
đất chưa sử dụng và sông suối là 856.227 ha, (chiếm 59,02%).
Thành phố Sơn La cách thủ đô Hà Nội 320 km về phía Tây Bắc và có
250km đường biên giới với nước bạn Lào. Thành phố có 7 phường, là phường
Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng
Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La.
Trong nhiều năm qua hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh đã phát triển
theo chiều hướng tích cực, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Trong sản
xuất nông nghiệp, ngành đã góp phần giải quyết việc làm, thu hút nguồn lao
động, tiếp cận sản xuất mới, nâng cao trình độ dân trí, từng bước cải thiện được
đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị, an
ninh lương thực và bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là đảm bảo đa dạng sinh
học phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế tỉnh nhà.
Về vị trí địa lý: Thành phố Sơn La nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và
103045' - 104000' kinh độ Đông. Thành phố Sơn La giáp với các huyện xung
quanh, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện
Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối
thành phố Sơn La với thành phố Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình. Thành
phố Sơn La giáp với các tỉnh thành, phía Bắc giáp hai tỉnh Yên Bái, Lào Cai,
phía Đông giáp Hòa Bình, Phú Thọ, phía Tây giáp Lai Châu, Điện Biên, phía
Nam giáp Thanh Hóa.
Diện tích, dân số: Thành phố Sơn La rộng 324,93 km² với số dân là
91.720 người. Trong đó, thành thị là 61,98 người, nông thôn là 38,02 người với
mật độ đạt 282 người/km² (2009).
19
đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh.
Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô nóng gây
thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế đặc biệt
sản xuất nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Nhiệt độ không khí: Trung bình 220C. Cao nhất 370C. Thấp nhất 20C.
Độ ẩm không khí: Trung bình: 81%. Thấp nhất: 25%.
Nắng: Tổng số giờ nắng là 1885 giờ.
Mưa: Lượng mưa bình quân: 1.299 mm/năm, số ngày mưa: 137 ngày.
Lượng bốc hơi: Bình quân 800 mm/năm.
Gió theo 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 2
năm sau; gió Tây Nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu
ảnh hưởng của gió Tây (nóng và khô). Một số khu vực của thị xã còn bị ảnh
hưởng của sương muối từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau.
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
4.2. Tình hình sản xuất dƣa chuột tại Bản Thẳm - phƣờng Chiềng Sinh - TP
Sơn La
Phường Chiềng Sinh là một xã thuộc tỉnh, thành phố Sơn La với diện tích
là 22,69 Km2 với dân số là 11.163 người và mật độ dân số đạt 492 người/Km2.
Địa giới hành chính phường Chiềng Sinh: Phía Đông giáp với Chiềng Ngần,
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
Bảng 4.1. Tình hình sản xuất dƣa chuột tại Bản Thẳm - phƣờng Chiềng
Sinh – thành phố Sơn La
STT
CHỈ TIÊU
KẾT QUẢ
1
Thâm niên sản xuất
Chân đất cao
2
Thời vụ trồng
Hại vụ/năm
3
Phân bón /kg/sào/Vụ
8 – 12 kg NPK + 2 -3 Kg urê
4
Hình thức thu hoạch
Hiệu lực thuốc
11
Trồng xen
- DRAGO 585 EC, DACONIL 75WP
- Phun 1 - 2 lần/vụ.
Thuốc có hiệu lực cao trong phòng trừ sâu,
bệnh hại
Cà chua, mướp đắng, ớt, hành, tỏi
12
Lên giàn
Khi cây lớn 20 – 25 ngày
13
Thuận lợi
14
Khó khăn
15
Kiến nghị
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
ngọt, gừng…và nhiều loại cây trồng có giá trị khác như cây lương thực. Cây dưa
chuột là một loại cây trồng thuộc họ bầu bí có rất nhiều thành phần sâu hại khác
nhau, từ khi cây mọc mầm đến khi sinh trưởng, ra hoa kết quả. Để cây dưa chuột
tránh bị bệnh và sâu hại người dân ở đây phải dùng các loại thuốc BVTV phun
trong một thời điểm nhất định là khi sâu bệnh xuất hiện (phun trước khi cây ra
hoa kết quả), phun từ 1 - 2 lần/vụ. Kết quả thu hoạch, người dân ở đây thu hoạch
dưa chuột rất nhiều lần trong vụ, cụ thể ở đây là 3 - 5 lứa quả/vụ, để bán, làm rau
ăn hàng ngày. Sau khi họ thu hái lứa quả đầu họ có thể bón phân và lấp đất, kết
hợp làm cỏ và loại bỏ lá già, lá bị bệnh đi. Tiêu thụ, bán ở những nơi tập trung
đông dân cư như chợ Xi Măng, chợ Noong Đúc với giá 10 – 12.000đ/Kg. Nhưng
bên cạnh những mặt đạt được thì trong quá trình chăm sóc như hệ thống tưới
tiêu khó khăn làm cho người dân ở đây không chủ động được theo tiến độ và
nhu câu xã hội của người dân. Kết quả thực hiện tại bảng 4.1
Qua điều tra cho thấy người dân thường dùng thuốc hóa học để bảo vệ cây
trồng, phòng trừ sâu bệnh hại. Vì người dân còn ít hiểu biết đến tác hại cũng như
hậu quả của thuốc BVTV đến sức khỏe con người. Xét cho cùng người dân vẫn
chưa có ý thức trong việc bảo vệ sức khỏe con người và toàn xã hội.
4.3. Thành phần sâu hại dƣa chuột vụ Xuân năm 2013 tại bản Thẳm –
phƣờng Chiềng Sinh – thành phố Sơn La
Cây dưa chuột là một loại cây rau ăn quả. Qua nhiều tài liệu nghiên cứu
cho thấy cây dưa chuột thuộc họ bầu bí bị hại bởi rất nhiều thành phần sâu hại
khác nhau trong suốt thời gian sinh trưởng: cây non, ra hoa, kết quả. Do vậy,
việc tìm hiểu nghiên cứu đến đối tượng sâu hại và thiên địch của chúng là một
việc làm cấp thiết nhằm đưa ngành sản xuất rau nói chung và cây dưa chuột nói
riêng ở bản Thẳm và khu vực Chiềng Sinh ngày càng phát triển và chiếm lĩnh thị
trường.
I
Bộ cánh cứng
1
Bọ bầu vàng
Aulacophora similes Oliver
Chrysomelidae
2
Ánh kim đen
Aulacophora sp
Chrysomelidae
3
Bọ ánh kim ăn lá
Galerucella griescen Joanis
Chrysomelidae
4
Spodoptera liruta. Fabr
Loctuidae
8
Sâu xanh
Helicoverpaarmigera Hiibner
Loctuidae
9
Sâu xanh
Heliothis assulta Guenee
Loctuidae
10
Sâu róm nâu
Amsacta sp
Loctuidae
11
Loctuidae
Pyralidae
trắng
15
Sâu róm 4 gù vàng
Orgyia postica Walker
Lymaltriidae
16
Sâu cuốn lá
Omiodes indicata F
Pyradidae
III
Bộ cánh nửa
17
Bọ xít hai vai nhọn
Cletus punctiger Dallas
Alydidae
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Và A Sềnh lớp CĐ KHCT K47
.............................................................................................................................................
IV
Bộ cánh đều
21
Rệp
Aphis gossypii Glover
Aphididae
22
Bọ phấn
Pmissa tapaci (Genna dlus)
Aleyrodidae
Bộ hai cánh
26
Ruồi đục lá
Homoptera
Orthoptera
Thysanptera
Thripspalmi Karny
Thrypirae
Diptera
Liryomyza satyvae Blanchard
Agromyzidae
Theo kết quả điều tra và theo dõi bộ cánh vảy xuất hiện muộn khi cây sinh
trưởng mạnh, sau trồng 25 – 30 ngày nhưng mức gây hại của chúng mạnh nhất
so với các bộ khác, chúng hại búp, lá non, cuống hoa, quả điển hình là sâu xanh,
sâu khoang, sâu đo xanh và cả sâu cuốn lá. Tiếp đến là bộ cánh cứng xuất hiện
sớm nhất với các loài phổ biến như: Bọ bầu vàng, ánh kim đen, ánh kim ăn lá
làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rồi đến bộ hai cánh là ruồi đục lá
xuất hiện sớm từ đầu đến cuối vụ, chúng ăn hại diệp lục để lại những đường đục
ngoằn nghoèo trên mặt phiến lá, còn nhóm chích hút như bọ xít, rệp chúng hút
dịch cây làm biến dạng thô giòn cây cằn cỗi ngoài ra còn một số loài sâu khác