Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
–––––––––––––––––––––––––––––
TRƢƠNG BÁ UYÊN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI TRẢ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI TRẢ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH. NGUYỄN VĂN CÔNG THÁI NGUYÊN - 2013
i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
đồng chí, đồng nghiệp và cán bộ viên chức cơ quan BHXH tỉnh Phú Thọ. Đặc biệt
là sự quan tâm, tận tình hướng dẫn của GS. TS. Nguyễn Văn Công; sự ủng hộ, động
viên của gia đình và bè bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, các quý cơ
quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận
thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu.
Luận văn là quá trình nghiên cứu tâm huyết, sự làm việc khoa học và nghiêm
túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi
những sai sót nhất định.
Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô
giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này. Tác giả
TRƢƠNG BÁ UYÊN
iii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt trong luận văn vii
1.4.2. Lập, xét duyệt dự toán chi 30
1.4.3. Tổ chức chi trả 30
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi trả chế độ bảo hiểm xã hội 34
1.5.1. Nhóm yếu tố về thu 34
1.5.2. Nhóm các yếu tố sinh học 34
1.5.3. Nhóm yếu tố về quản lý tài chính bảo hiểm xã hội 35
1.5.4. Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội 36
1.6. Kinh nghiệm của các nước về chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội và bài học cho
Việt Nam 36
1.6.1. Mô hình tổ chức và hoạt động chi trả chế độ bảo hiểm xã hội 36
1.6.2. Bài học kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã
hội cho Việt Nam 38
Kết luận chương 1 40
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ CHI TRẢ BHXH
BẮT BUỘC TẠI BHXH TỈNH PHÚ THỌ 41
2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 41
2.2. Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1. Phương pháp định lượng 41
2.2.2. Phương pháp định tính 41
2.3. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 42
2.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 42
2.3.2. Phương pháp xử lý dữ liệu 46
2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47
2.4.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả chi trả các chế độ BHXH 47
2.4.2. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả chi trả các
chế độ BHXH 48
Kết luận chương 2 48
v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4.3.1. Về phía Nhà nước 86
4.3.2. Về phía BHXH tỉnh Phú Thọ 89
4.3.3. Đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương 97
Kết luận chương 4 97
KẾT LUẬN CHUNG 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHẦN PHỤ LỤC 105
Phụ lục số 1 : Phiếu khảo sát ý kiến và bảng câu hỏi điều tra 105
Phụ lục số 2: Tổng hợp kết quả khảo sát 110
Phụ lục số 3: Danh mục biểu mẫu, sổ nghiệp vụ sử dụng trong chi trả chế độ BHXH
bắt buộc 111 vii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ASXH
An sinh xã hội
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
ILO
Bảng 3.7: Kết quả chi trả chế độ TNLĐ- BNN từ năm 2009 đến năm 2012 69
Bảng 3.8: Kết quả chi trả chế độ hưu trí, tử tuất từ năm 2009 đến năm 2012 70
ix
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Quy trình chi trả các chế độ BHXH hàng tháng 23
Sơ đồ 1.2. Quy trình quản lý đối tượng hưởng các chế độ BHXH hàng tháng 24
Sơ đồ 1.3. Quy trình chi trả các chế độ BHXH 1 lần 25
Sơ đồ 1.4. Quy trình chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức 26
Sơ đồ 1.5. Bộ máy tổ chức của BHXH Việt Nam 29
Sơ đồ 3.1. Bộ máy cơ quan BHXH tỉnh Phú Thọ 54
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là nhu cầu khách quan của người lao động (NLĐ)
sửa đổi và cải tiến, từng bước phát triển thành một hệ thống chế độ BHXH tương
đối hoàn chỉnh. Đặc biệt, Luật BHXH đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007. Lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có một bộ
luật về BHXH, đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng có ý nghĩa hết sức to lớn trong
việc thực hiện chính sách BHXH ở nước ta.
Đến nay, chính sách BHXH mới theo nguyên tắc “có đóng góp thì mới được
thụ hưởng các chế độ BHXH” đã đi vào cuộc sống và đã phát huy tác dụng tích cực
nhằm góp phần đảm bảo tốt hơn thu nhập cho đông đảo NLĐ khi gặp rủi ro, ốm
đau, tai nạn lao động, khi về già Chính sách BHXH đã góp phần tích cực vào sự
ổn định chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước những
năm qua.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế và có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với
những quan hệ lao động phong phú đa dạng và phức tạp đã gây không ít khó khăn
cho việc thực hiện chính sách BHXH. Chính vì thế mà chính sách BHXH luôn cần
được nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện. Mặt khác, sau 6 năm thực hiện luật
BHXH (từ 01/01/2007 đến nay) cũng đã xuất hiện những vấn đề chưa phù hợp đòi
hỏi phải tổng kết thực tiễn để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.
Xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước ta hiện nay với tốc độ công
nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh, lao động tham gia BHXH ngày càng đông, số đối
tượng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH nhiều, số tiền chi trả trợ cấp hàng tháng
ngày càng tăng lên .… Đồng thời, BHXH là chính sách xã hội rất đa dạng, phong
phú và có liên quan đến mọi NLĐ cũng như gia đình họ. Thời gian tham gia BHXH
lại rất dài, luôn chiếm khoảng 3/4 cuộc đời của mỗi con người. Hơn nữa, chính sách
BHXH và tổ chức thực hiện BHXH lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có cả yếu tố
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật và lịch sử văn hoá… Bởi vậy, việc thực hiện tốt
đã xảy ra tại một số đơn vị BHXH các huyện, thành thị khiến công tác quản lý gặp
nhiều khó khăn. Điều đó dẫn đến việc khai thác tiềm năng phát triển chính sách
BHXH nói riêng, tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ nói chung
bị hạn chế. Bên cạnh đó, do còn có những điểm chưa hợp lý trong việc quản lý chi
trả chế độ BHXH nên đã chưa tạo điều kiện tối đa cho NLĐ tham gia BHXH và thụ
hưởng các chính sách BHXH… Trong khi đó, Việt Nam đang hội nhập ngày càng
sâu rộng với nền kinh tế thế giới, thị trường lao động ngày càng phát triển, các quan
hệ lao động cũng ngày càng trở nên phức tạp. Người lao động và chủ sử dụng lao
động phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn. Thực tế đó đòi hỏi việc quản lý chi trả chế
độ BHXH phải tiếp tục được hoàn thiện và đổi mới mạnh hơn nữa, việc nghiên cứu
và đưa ra những giải pháp hoàn thiện là hết sức quan trọng với yêu cầu của thực
tiễn. Điều đó cũng là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý chi trả
chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc tại bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ” để nghiên cứu
làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là tìm ra giải pháp phù hợp để hoàn
thiện quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc, đề ra các giải pháp và biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Phú Thọ.
Từ mục tiêu cơ bản đó các mục tiêu nghiên cứu chính được xác định là:
- Làm rõ bản chất và vai trò của quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc;
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tham gia và thụ hưởng các chế
độ BHXH của đối tượng và người lao động;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ
BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc. Với đối tượng
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, phụ lục,… Kết cấu luận
văn được chia thành 4 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc.
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc
tại BHXH tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc tại
BHXH tỉnh Phú Thọ.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi trả chế độ BHXH bắt buộc tại
BHXH tỉnh Phú Thọ.
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
CHI TRẢ CHẾ ĐỘ BHXH BẮT BUỘC
1.1. BHXH và nguyên tắc hoạt động của BHXH
1.1.1. Tính tất yếu khách quan của BHXH
Sự ra đời của BHXH cũng giống như các chính sách xã hội khác luôn bắt
nguồn từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống đặt ra. Từ thời xa xưa, để chống lại những
rủi ro, thiên tai của cuộc sống con người đã biết đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn
nhau. Nhưng sự giúp đỡ này chỉ mang tính tự phát và với quy mô nhỏ, thường là
trong một nhóm người chung quan hệ huyết thống.
Khi xã hội càng ngày càng tiến bộ, đặc biệt là khi chuyển sang giai đoạn có
sự phân công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội lúc này đã phát triển. Cùng với
nó là quan hệ xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển hơn. Khi
đó tôn giáo bắt đầu xuất hiện, nó không chỉ với ý nghĩa giáo dục con người hướng
thiện mà còn có các trại bảo dưỡng, hội cứu tế với mục đích từ thiện, trợ giúp nhau
nhiên, đối với công nhân Việt Nam, gần như chính quyền Pháp phủ nhận quyền lợi
BHXH của họ. điển hình là công nhân làm việc trong các đồn điền, các nhà máy…
bị ốm đau bệnh tật hay chết đều không được hưởng chế độ chữa bệnh, mai táng…
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm và
thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ thông qua một loạt các sắc lệnh: Sắc lệnh
số 54 ngày 03/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời quy định những căn cứ,
điều kiện để các công chức Nhà nước được hưởng chế độ hưu trí; Sắc lệnh số 105
ngày 14/06/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ấn định việc cấp
hưu bổng cho công chức Nhà nước; Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ
tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong đó có quy định cụ thể về các chế độ
thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tuất đối với công
chức Nhà nước Như vậy, trong thời kỳ này, đối tượng tham gia và hưởng các chế
độ BHXH chỉ gồm hai đối tượng là công chức Nhà nước và công nhân, các chế độ
BHXH áp dụng gồm trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN, mất sức lao động,
hưu trí và tử tuất. Sau khi hoà bình lập lại trên Miền Bắc, ngày 27/12/1961, Chính
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phủ ban hành Nghị định 218/CP về "Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH
đối với công nhân viên chức”. Hệ thống chế độ BHXH ở Việt Nam lúc này bao
gồm: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp TNLĐ và BNN,
chế độ trợ cấp hưu trí, chế độ trợ cấp MSLĐ và chế độ trợ cấp tử tuất. Chính sách
BHXH ban hành kèm theo Nghị định 218/CP có vai trò quan trọng trong việc đảm
bảo ổn định đời sống cho NLĐ, thu hút và động viên hàng triệu lao động tham gia
vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, chính sách BHXH đã không còn phù hợp. Vì vậy, ngày 22/6/1993 Chính phủ
đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho
các thành phần kinh tế, đánh dấu bước đổi mới quan trọng của BHXH ở Việt Nam.
Theo Nghị định 43/CP, chế độ trợ cấp MSLĐ đã bị loại bỏ và chỉ thực hiện 5 chế độ
chắc để tổ chức triển khai mọi hoạt động của mình. Chính sách của Nhà nước Việt
Nam đối với BHXH là khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham
gia BHXH ngày càng đông đảo.
1.1.2. Bản chất và chức năng của BHXH
Bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế xã hội tổng hợp, là một trong những
chính sách kinh tế xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia. Nó thể hiện trình độ văn
minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm thu nhập cho NLĐ, là sản phẩm tất
yếu khách quan của xã hội phát triển. Khi kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng
và hoàn thiện. Vì thế có thể khẳng định sự phát triển kinh tế là nền tảng của BHXH.
Bảo hiểm xã hội là hình thức dịch vụ công để quản lý và đáp ứng nhu cầu
chia sẻ rủi ro trong cộng đồng. Những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động,
mất việc làm trong BHXH diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động, có thể là
những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau,
TNLĐ và BNN hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn
ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản
Bảo hiểm xã hội vừa thực hiện các mục đích xã hội, vừa thực hiện các mục
đích kinh tế. Cả hai mục đích này luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau
và là hai mặt không thể tách rời nhau. Khi đề cập đến các lợi ích kinh tế của BHXH
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
đối với NLĐ và đối với xã hội là đã bao hàm cả mục đích xã hội của nó. Ngược lại,
các mục đích xã hội của BHXH cũng chỉ đạt được khi nó đồng thời mang lại các lợi
ích kinh tế thiết thực cho người tham gia.
Bảo hiểm xã hội là quyền cơ bản của NLĐ. Bởi vì, mục tiêu của BHXH là
nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc
mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được ILO cụ thể hoá, đó là: đền bù cho
NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ;
chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật; xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu
về tiền lương, tiền công, thời gian lao động BHXH đã gắn bó lợi ích giữa họ, đã
điều hoà được những mâu thuẫn giữa họ, làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây cũng là
mối quan hệ biện chứng hai bên đều có lợi, NLĐ thì được đảm bảo cuộc sống,
NSDLĐ thì sẽ có một đội ngũ công nhân hăng hái, tích cực trong sản xuất. Đối với Nhà
nước thì BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết những khó khăn
về đời sống của NLĐ và góp phần ổn định sản suất, ổn định kinh tế - xã hội.
1.1.3. Vai trò của BHXH
Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển đã ngày càng khẳng định được vai trò
của mình trên nhiều phương diện khác nhau trong thực tế cuộc sống cũng như trong
phát triển kinh tế - xã hội.
- Đối với NLĐ:
Bảo hiểm xã hội đã trực tiếp góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia
đình họ khi họ gặp rủi ro vì bị ốm đau, bệnh tật, già yếu hoặc chết,… Đồng thời,
BHXH cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó
khăn của các thành viên khác. Từ đó, các rủi ro trong lao động sản xuất và trong đời
sống NLĐ được hạn chế và dàn trải. Hậu quả của rủi ro được bù đắp kịp thời.
Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi dùng cá nhân,
giúp họ tiết kiệm những khoản tiền nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi
dùng khi già cả hay MSLĐ… Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là
nguồn động viên tinh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, làm cho họ
ổn định về tâm lý, giảm bớt lo lắng khi ốm đau, tai nạn, tuổi già… Nhờ có BHXH,
cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ, nhất là trẻ em, những người
tàn tật, goá bụa… cũng được đảm bảo an toàn hơn.
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Đối với NSDLĐ:
Mặc dù phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định cho NLĐ
mà mình sử dụng, ít nhiều gây ảnh hưởng đến thu nhập của họ, song về lâu dài, điều
đó lại giúp họ đảm bảo nguồn nhân lực, ổn định phát triển sản xuất kinh doanh. Nếu
nghiệp trong xã hội. Về phương diện tâm lý, bảo hiểm còn là chỗ dựa tinh thần cho
những bên tham gia, giúp họ yên tâm trong cuộc sống, trong lao động và hoạt động
sản xuất kinh doanh, góp phần đảm bảo ASXH.
Là một hợp phần cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống ASXH, BHXH là
cơ sở để phát triển các bộ phận ASXH khác. Chính phủ các nước thường căn cứ vào
mức độ bao phủ của chính sách BHXH để xác định những đối tượng nào còn gặp
khó khăn, cần cộng đồng chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để thiết kế
những mạng lưới khác của ASXH như: cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội… Trên cơ sở
đó, BHXH là căn cứ để đánh giá trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức
độ đảm bảo ASXH đạt được ở mỗi nước.
Hoạt động BHXH còn góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị
trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội phát triển. Đặc biệt, với bảo hiểm hưu
trí, nguồn vốn tích luỹ trong thời gian dài, kết dư tương đối lớn, có thể đầu tư vào
các hoạt động nhằm tăng trưởng quỹ BHXH, mang lại lợi ích cho tất cả các bên:
người tham gia BHXH, cơ quan BHXH và nền kinh tế xã hội nói chung.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH
Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc có đóng, có hưởng, chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của
người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH: Đây là nguyên
tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm, là quỹ góp chung của số đông bù cho số
ít, là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong cuộc sống, trong lao
động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nước là việc rủi ro trong
BHXH không chỉ là những rủi ro thuần tuý như trong bảo hiểm thương mại mà còn
có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,
- Mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng phải
đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng khoản trợ cấp đó: Việc quy định
trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định chung cho tất cả các nước, song thấp