đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của một số loài phụ japonica tại huyện yên thế, tỉnh bắc giang - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––– NGUYỄN XUÂN HẢI ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA THUỘC LOÀI PHỤ JAPONICA
TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng
2. TS Đặng Quý Nhân THÁI NGUYÊN - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng cho bảo vệ một học vị nào, mọi
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn, các thông
tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể: 4
3. Ý nghĩa của đề tài 4
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 7
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 7
1.2.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa trên Thế giới 11
1.2.3. Tình hình nghiên cứu giống lúa thuộc loài phụ Japonica trên thế giới
18
1.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam 19
1.3.1. Tình hình sản xuất lúa trong nước 19
1.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam 24
1.3.3. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng ở Việt Nam 27
1.3.4. Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam 30

mùa 2012 và vụ Xuân 2013 tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang. 45
3.2.1. Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các giống lúa thí nghiệm 47
3.2.2. Chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm 49
3.2.3. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 50
3.2.4. Khả năng chống chịu sâu bệnh chính hại lúa 52
3.2.5. Các yếu tố cấu thành năng suất lúa 55
3.3. Phẩm chất và chất lượng các giống lúa 61
3.3.1 Chất lượng xay sát 62
3.3.2 Chất lượng thương trường 63
3.3.3. Chất lượng chế biến (chất lượng cơm) 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1. Kết luận 65
2. Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Đ/c : Đối chứng
TGST : Thời gian sinh trưởng
LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
CV : Hệ số biến động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta
và một số nước trên Thế giới, diện tích dành cho gieo trồng lúa gạo hàng năm
trên Thế giới khoảng 160 triệu ha, sản lượng thóc trên 700 triệu tấn. Trong đó
châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ đến 90% sản lượng gạo trên
Thế giới. Ở những nước sử dụng lúa gạo làm lương thực việc phát triển cây
lúa được coi là chiến lược quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp. Lúa
gạo cũng là cây lượng thực chính góp phần vào đảm bảo an ninh lương thực
trên toàn Thế giới. Theo FAO, nước xuất khẩu gạo lớn nhất Thế giới là Thái
Lan (hàng năm xuất từ 8 - 9 triệu tấn), thứ nhì là Việt Nam ( xuất khẩu
khoảng 7,5 triệu tấn), còn lại là các nước Mỹ, Pakistan, Ấn Độ hàng năm xuất
khẩu khoảng trên 4 triệu tấn. Trong tương lai xu thế sử dụng lúa gạo để ăn sẽ còn
tăng hơn vì đây là loại lương thực dễ bảo quản, dễ chế biến và cho năng lượng
khá cao. Đặc biệt đối với dân nghèo gạo vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu.
Ở Việt Nam mặc dù diện tích đất tự nhiên cũng như đất trồng lúa không
lớn nhưng Việt Nam không những sản xuất lương thực đủ đảm bảo an ninh
lương thực Quốc gia mà còn vươn lên thành nước xuất khẩu đứng thứ 2 Thế
giới. Tuy nhiên, so với các nước khác thì chất lượng gạo Việt Nam còn thấp
chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng đối với một số thị trường khó tính
như Nhật Bản, Hàn Quốc và giá gạo xuất khẩu của nước ta thấp hơn với giá
gạo của Thái Lan. Nguyên nhân do trình độ sản xuất của nước ta còn thấp và
chỉ chú ý tác động các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất mà chưa chú
ý đến vấn đề chất lượng; gạo Thái Lan có giá bán cao là do họ sử dụng giống
bản địa có thời gian sinh trưởng dài ngày nên có chất lượng gạo cao.
Để nâng cao chất lượng lúa gạo Việt Nam, nhằm đẩy mạnh giá trị xuất

chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ từ 5-10%, còn lại toàn bộ lượng
thiếu hụt phải nhập từ các tỉnh lân cận khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
Cơ cấu giống lúa nhất là giống chất lượng có giá thành cao, có hiệu quả
kinh tế tại địa bàn huyện còn đơn điệu, chưa có nhiều giống có năng suất cao,
chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, ổn định và có thể sản
xuất bền vững, đảm bảo đáp ứng được mục tiêu chung của xã hội.
Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập cho
nông dân trên đơn vị diện tích, thực hiện thành công chủ trương chuyển dịch
cơ cấu cây trồng trong vụ Xuân và vụ Mùa tiến tới khai thác các cây trồng vụ
Đông, xây dựng thành công mô hình những cánh đồng mẫu, cánh đồng thu
nhập cao theo phong trào thi đua mà ngành nông nghiệp phát động.
Để thực hiện chủ trương của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Yên Thế
về thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng “sản xuất
nông lâm nghiệp hàng hóa” (6 cây 4 con), trong đó mở rộng diện tích gieo cây
lúa có triển vọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, góp
phần cung cấp lương thực lúa gạo chất lượng phục vụ cho tiêu dùng tại chỗ.
Theo hướng đó huyện Yên Thế cũng cần có vùng chuyên canh gieo cấy lúa
triển vọng về năng suất khá và chất lượng tốt, có hiệu quả kinh tế, để thoả
mãn cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và cung cấp cho một số tỉnh lân cận và có
thể tham gia vào chương trình xuất khẩu chung của toàn ngành. Tuy nhiên
muốn làm được điều đó, trước hết cần phải có nghiên cứu thử nghiệm ban đầu
để làm mô hình khuyến cáo mở rộng.
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi thực hiện đề tài:"Đánh giá khả
năng sinh trưởng, năng suất của một số giống lúa chất lượng thuộc loài
phụ Japonica tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang".
2. Mục tiêu của đề tài

góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản
xuất hàng hoá của nông dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Trong điều kiện tự nhiên sẵn có phải đánh giá chon lọc giống phù hợp
với sinh thái địa phương. Vì vậy một trong những biện pháp kinh tế kỹ thuật
nhằm tận dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, là bố trí cơ cấu cây
trồng phù hợp với một vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp. Trong việc
xác định giống cây trồng hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao, đất đai là một trong
những căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, cho nên cần phải nắm vững
mối quan hệ giữa một nhóm cây trồng với đặc điểm đất đai thì mới xác định
được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.
Giống là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp,
cũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất.Nếu không có giống thì
không thể sản xuất ra một loại nông sản nào. Ngày nay, quan niệm “nhất
nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đã không còn phù hợp nữa. Nếu xếp giống
vào hệ thống các khâu kỹ thuật canh tác thì giống tốt phảiđược xếp vào vị trí
trung tâm. Trong những năm gần đây, sản lượng lươngthực ở một số nước tăng
lên khá nhanh, chủ yếu nhờ áp dụng trên quy mô lớn các biện pháp kỹ thuật
nông nghiệp thích hợp mà chủ yếu là cải tiếngiống. Vì giống lúa là một trong

người ta thường quan tâm đến thị hiếu người tiêu dùng và việc tiêu thụ sản
phẩm đó ra sao.
Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ưu, nhược điểm song sự
chuyển dịch cơ cấu giống lúa như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấp
bách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quả
kinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian,
thời gian nhất định và được người nông dân chấp nhận và mở rộng.Cơ cấu
các giống lúa đang được gieo trồng được chọn dựa trên lợi ích cho đa số
người dân, cơ cấu các giống lúa triển vọng phải được bố trí hợp lý, có độ an
toàn, xác suất gặp rủi ro thấp nhất, phù hợp với tập quán canh tác của địa
phương, đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới
Trải qua các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn
khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong những năm
qua cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá. Chỉ thị
100 của ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được
triển khai đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn
nước ta. (Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tiếp tục đổi mới và
phát triển nông nghiệp - nông thôn) [Website: Faostat.fao.org]
Ngày nay trong cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước có chủ trương phát
triển kinh tế nông nghiệp bằng việc thâm canh tăng vụ, ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất trong đó vấn đề tiến bộ về giống được đặc biệt quan
tâm. Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây
trồng trong nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế, Nhà nước luôn khuyến khích và mong muốn sản phẩm của nông dân

11% đất gieo trồng của thế giới) [19]. Trên thế giới có khoảng trên 100
nướcđang trồng lúa thì đa số nằm ở Châu Á. Cây lúa gắn bó mật thiết với các
quốc gia thuộc Đông Nam Á và Nam Á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản.
Trong số 25 nước sản xuất lúa chính của thế giới có 17 nước nằm trong vùng
này và 8 nước nằm ngoài vùng (Jay Maclean, 1985). Trên 85% sản lượng lúa
trên thế giới phụ thuộc 8 nước mà những nước này đều tập trung ở Châu Á
(gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Banladesh, Việt Nam, Thái Lan,
Myanmar và Nhật Bản) [4].
Từ năm 1995 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới
có tăng nhưng với mức độ chậm, thậm chí sản lượng năm 2003 thấp hơn năm
1999. Bởi vì giai đoạn này trình độ sản xuất lúa của nhiều nước trên thế giới
đã phát triển tương đối cao, một số nước năng suất đã vượt trần, diện tích khai
hoang đã hết, tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tăng, đô thị hoá diễn ra
nhanh chóng. Chúng ta thấy được điều này qua bảng 1.1.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
Cây lúa còn được trồng ở nhiều nước khác trên thế giới. Riêng khối châu
Âu có 10 nước trồng lúa, với sản lượng của tất cả các vùng là 3,2 triệu tấn
(1992), chiếm 0,6% sản lượng lúa thế giới, ở Châu Phi người ta cũng đã tự túc
được 2/3 nhu cầu lương thực bằng lúa gạo, với năng suất chỉ bằng 40% năng
suất bình quân của thế giới, số còn lại phải nhập khẩu [12].
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ngày một tăng nhưng tốc độ tăng
diện tích chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng sản lượng, như vậy sản lượng
tăng là do tăng năng suất là chủ yếu. Trong những năm gần đây, do việc sử
dụng các giống lúa mới cộng với việc áp dụng các biện pháp canh tác và bố
trí cơ cấu các trà lúa hợp lý, làm cho sản lượng lúa tăng một cách đáng kể ở
hầu hết các quốc gia trồng lúa.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên Thế giới qua các năm

598,03
2002
147,69
39,1
577,99
2003
149,20
39,1
583,00
2004
151,02
40,3
608,37
2005
153,78
40,2
618,53
2006
156,30
41,21
644,1
2007
156,95
41,50
651,7
2008
158,96
43,1
685,01
2009

tấn; Ấn Độ có sản lượng gạo là 133,70 triệu tấn.
Bảng 1.2. Các quốc gia có diện tích sản xuất lúa lớn nhất Thế giới
Tên nƣớc
Diện tích
( Triệu ha)
Năng suất
( Tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Trung Quốc
29,88
65,82
196,68
Ấn Độ
41,85
31,94
133,70
Inđônêxia
12,88
49,98
64,40
Băngladesh
11,35
42,03
47,72
Thái Lan
10,96
28,69
31,46
Myanma

sau Việt Nam. Theo IRRI, lúa gạo sản xuất ra chủ yếu là để tiêu dùng nội địa,
chỉ có khoảng 6-7% tổng sản lượng lúa gạo trên Thế giới được lưu thông trên
thị trường Quốc tế [19].
1.2.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa trên Thế giới
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,
và nguồn gen cây lúa nói riêng. Ngay từ những năm 1924 Viện nghiên cứu
cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm vụ chính là thu nhập và đánh
giá bảo tồn nguồn gen cây trồng. Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Thế
giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướng thúc
đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiên
nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại. Trong vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn
giống trên thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng [11]
Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế với tên tiếng Anh là International
Rice Research Institute (IRRI) ở Los Banos, Philippines đã bắt đầu chương
trình thu thập, bảo tồn và đánh giá các giống cổ truyền và các cây lúa dại từ
năm 1962. Từ khi thành lập IRRI đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa,
năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn
cây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu,
trong đó các giống lúa trồng ở châu Á (O. sativa) chiếm đến 95% [32].
Khoảng 90.000 giống lúa trồng trên khắp thế giới đã được tồn trữ ở IRRI và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12
cùng một số lượng giống lúa này được IRRI gửi bảo quản ở Phòng Khảo
nghiệm tồn trữ hạt giống quốc gia Mỹ (US. National Seed Storage
Laboratory) tại Fort Collins thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ, Colorado - Mỹ và ở
Viện Quốc gia Tài nguyên Nông sinh (National Institute of Agrobiological
Resources) ở Nhật Bản. Nhưng sự bảo quản tại các phòng lạnh hiện nay có

nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt vv [31].
Các nhà khoa học Ấn Độ và Nhật Bản là những người đầu tiên đề xuất
mởrộng sản xuất lúa lai thương phẩm [29]. Tại viện nghiên cứu lúa quốc tế -
IRRI các nhà khoa học đã xây dựng chương trình nghiên cứu về lúa lai làm cơ
sở cho phát triển sản xuất lúa lai thương phẩm. Song tất cả họ đều chưa thành
công vì chưa tìm ra phương pháp thích hợp để sản xuất hạt lai [30]. Nhưng
việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa không chỉ dừng lại ở đó, sự miệt mài của
các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm
giống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên thế giới. Các giống lúa IR5, IR6,
IR8, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất. Các
viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn lọc ra nhiều những giống
lúa tốt phục vụ sản xuất.
Hiện nay người ta ứng dụng ưu thế lai trong sản xuất lúa. Trong lịch sử
phát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này.
Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợplai có ưu
thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng"
được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975. Năm 1996, Trung Quốc lại
thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 dòng" và đẩy mạnh nghiên cứu
lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa
gạo của đất nước [35]. Cụ thể như sau: năm 1973 Shiming Song phát hiện ra
được dòng bất dục mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn (PGMS) từ giống
Nongken 58. Nhiều kết quả nghiên cứu khác về lúa lai hai dòng cũng đã được
công bố. Năm 1991 các nhà khoa học Nhật Bản đã áp dụng phương pháp gây

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
đột biến nhân tạo để tạo ra dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ [29].
Chương trình phát triển lúa lai giữa các loài phụ indica và japonica được bắt
đầu từ năm 1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng, mở ra tiềm

thế giới lên tới khoảng 10% tổng diện tích trồng lúa và chiếm 20% tổng sản
lượng lúa gạo toàn thế giới, song phát triển mạnh nhất vẫn là Việt Nam và Ấn
Độ. Lúa lai đã thực sự mở ra hướng phát triển mới để nâng cao năng suất, sản
lượng lúa cho xã hội loài người.
Ấn Độ là một nước đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” và thành công
lớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào
sản xuất. Trong công tác nghiên cứu giống lúa, Viện nghiên cứu giống lúa
trung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa là
nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất. Ngoài ra
tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan
trọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu câytrồng cạn Á
nhiệt đới (ICRISAT). Nhờ vậy Ấn Độ là nước có nhiều giống lúa chất lượng
cao nổi tiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati
có giá trị trên thị trường tới 850 Đô la Mỹ/tấn, trong khi giống gạo thơm Thái
Lan nổi tiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460 Đô la Mỹ /tấn [9].
Mặt khác, Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt
được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai tốt được sử dụng ở Ấn
Độ như; IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI
136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 Một trong những giống lúa chất
lượng cao do các nhà khoa học chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam
là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam công
nhận năm 2007 [9].
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu thế giới. Với những ưu
đãi của thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù
năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng
đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao. Các trung tâm nghiên cứu lúa
của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực. Các trung tâm này

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



17
Đee- Geo-Wô-Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee-Geo-Wô-Gen là một vật
liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [26].
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển
thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng. Các giống này không phải là
biến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc
phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta-carotene và anthocyanins -
một chất chống ôxy hoá. Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để
kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học. Như trên
ta thấy, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người các nhà chọn giống
không những chọn tạo ra được những giống lúa có năng suất cao mà còn chọn
tạo ra những giống có chất lượng cao, hàm lượng dinh dưỡng lớn. Đây cũng
là một giải pháp để giảm áp lực cho y học. Vì vậy, một số viện nghiên cứu
quốc tế đang tập trung vào giống lúa mới “gạo vàng 2” để chống lại nguy cơ
bệnh mù do thiếu vitamin A đang tăng lên trên thế giới. So với giống "gạo
vàng" phát triển vào năm 2000, “gạo vàng 2” này có hàm lượng beta-carotene
cao gấp 23 lần.
Theo ông Jagadish Mittur - giám đốc Trung tâm nghiên cứu Monsanto
ở Bangalore (Ấn Độ), bộ gen của giống lúa mới được ghép thêm gen của cây
thủy tiên hoa vàng hoặc cây ngô. Giống lúa đang được nghiên cứu và phát
triển ở sáu nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Vì giống lúa mới là sản phẩm
của công nghệ biến đổi gen, các nhà khoa học đang nghiên cứu để xác định
độ an toàn thực phẩm và an toàn môi trường của giống lúa này, trước khi đưa
vào gieo trồng đại trà mang tính thương mại trong vòng 3-4 năm tới [23].
Ngoài châu Á, thì ở Mỹ, năm 1926, J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu
thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan. Có 2 người tham gia vào đề xuất
vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent và Craiglules. Trong thời
gian gần đây các nhà khoa học Mỹ không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai
tạo và đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status