nghiên cứu nhân giống invitro dòng chuối nl1 tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TỐNG HOÀNG HUYÊN

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG INVITRO DÒNG CHUỐI NL1
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG INVITRO DÒNG CHUỐI NL1
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS. TS Ngô Xuân Bình
THÁI NGUYÊN - 2013Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN

Học viên Tống Hoàng Huyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu - ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
2.1. Mục tiêu 3
3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Tổng quan về cây chuối 4
1.2. Tình hình sản xuất v rên thế giới và Việt Nam 7
1.3 chuối trên thế giới 7
1.3.2. Tình hình s 9
12
1.3.1. Tình hình n ề chuối trên thế giới 12
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 20
CHƢƠNG II: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 23
2.1. Vật liệu nghiên cứu 23
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2.1. Địa điểm tiến hành đề tài 23
2.2.2. Thời gian tiến hành đề tài 23

FAO Tổ chức nông-lương thế giới
IAA Idol acetic acid
INIBAP Mạng lưới quốc tế cải thiện nguồn gen cây chuối
ITMP Chương trình khảo nghiệm giống chuối quốc tế
NL1 Nông Lâm 1
MS Murashige & Skoog, 1962
TN Thí nghiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng trong quả chuối ăn tươi và chuối nấu 5
Bảng 1.2. Hàm lượng vitamin trong một số loại quả 6
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chuối thế giới giai đoạn 7
2006 - 2011 7
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng chuối Việt Nam 9
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của nồng độ H2O2 và thời gian khử trùng tới tỉ lệ sống của
mẫu chuối NL1 (sau 20 ngày nuôi cấy) 30
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của nồng độ nước khử trùng y tế Johnson và thời gian xử lý
tới tỉ lệ sống của mẫu chuối (sau 20 ngày nuôi cấy) 34
Bảng 3.4. So sánh kết quả nghiên cứu khử trùng 3 loại hoá chất oxy già, cồn và
nước khử trùng y tế Johnson (sau 20 ngày nuôi cấy) 36
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của nồng độ BAP tới khả năng nhân chồi chuối mẫu chuối
NL1 (sau 20 ngày nuôi cấy) 37
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của tổ hợp BAP phối hợp với α NAA tới khả năng nhân
nhanh mẫu chuối NL1 (sau 20 ngày nuôi cấy) 39
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của

nhanh mẫu chuối NL1 (sau 20 ngày nuôi cấy) 49
Đồ thị 3.7: Ảnh hưởng α NAA
tăng trưởng chiều cao chồi chuối NL1 (sau 25 ngày nuôi cấy) 51
Đồ thị 3.8: Ảnh hưởng của tổ hợp BAP phối hợp với IAA tới khả năng ra rễ chuối
(sau 30 ngày nuôi cấy) 53
Đồ thị 3.9: Ảnh hưởng của giá thể phù hợp đến sinh trưởng của chuối nuôi cấy mô
giai đoạn vườn ươm (sau 45 ngày) 54
(sau 45 ngày) 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Chuối là loại trái cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và
vùng miền trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong
thương mại rau quả của toàn cầu, là cây có ưu thế xuất khẩu đứng đầu về khối
lượng và đứng thứ hai về kim ngạch trong cơ cấu xuất khẩu trái cây của thế
giới. Đây cũng là loại hàng hóa nhạy cảm về kinh tế, chính trị, xã hội. Cùng
với gạo, lúa mì, ngũ cốc, chuối cũng là một trong số những mặt hàng chủ lực
của nhiều nước đang phát triển.
Chuối là loại cây cây ăn quả dễ trồng, yêu cầu đầu tư thấp, quả ít bị ảnh
hưởng độc hại do có vỏ dày, hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là
hàm lượng đường. Trong 100gr thịt quả chuối tươi tỷ lệ đường chiếm 27%,
prôtêin 1,8%,, lipit 0,3%, chuối cung cấp một lượng calo đáng kể 173
Kcal/100gr thịt quả, trong khi đó cam chỉ có cho 53 Kcal/100gr [7] . Đối với
chuối luộc (Cooking Banana) thì tỷ lệ Gluxit 31%, lipit 0,2%, prôtêin 1% và

mô tế bào. Cây chuối nuôi cấy mô có những ưu điểm: cây giống đồng đều,
sạch bệnh, đặc biệt là sạch các bệnh về virus dẫn đến tăng năng suất, chuối trỗ
buồng và chín tập trung, rất thuận lợi cho thu hoạch và vận chuyển, đồng thời
có thể sản xuất một lượng lớn cây giống trong một khoảng thời gian ngắn.
Dòng chuối NL1 là dòng chuối của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Việc nghiên cứu trên dòng chuối NL1 (Nông lâm 1) vẫn còn nhiều hạn chế.
Từ tình hình thực tiễn nêu trên, nhằm đáp ứng nhu cầu về cây giống phục vụ
cho việc tiêu thụ và cung cấp giống chuối ra sản xuất một cách nhanh chóng,
cũng như góp phần vào việc tăng cường nghiên cứu về dòng chuối NL1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu nhân giống invitro dòng chuối NL1
tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
một số yếu tố kỹ thuật (chất khử trùng,
chất kích thích sinh trưởng, giá thể, điều kiện dinh dưỡng) đến khả năng nhân
nhanh invitro dòng chuối NL1.

-
1.
-
cung cấp giống chuối NL1 ra thị trường.
3. Yêu cầu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng một số hóa chất khử trùng tới tỉ lệ sống của mẫu
chuối.
Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất kích thích sinh trưởng tới khả năng

hoa. Những hoa ở gốc của cụm hoa là hoa cái, hoa ở giữa là hoa lưỡng tính,
hoa trên cùng là hoa đực. Bao hoa gồm 2 hoặc 3 vòng nhưng tạo thành 2
cánh, cánh ngoài cùng được tạo bởi 3 đài đính liền với 2 cánh hoa và thường
có mầu vàng ươm hay mầu vàng nhạt, cánh hoa trong nằm đối diện với mảnh
ngoài thường ngắn, màu trong suốt và được hai mép của cánh ngoài bao phủ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Có 5 nhị, bộ nhụy, lá noãn hợp bầu dưới, quả mọng, chứa nhiều hạt tuy nhiên
ở loài chuối trồng hạt thui đi rất sớm. [8, 14]
Chuối là một trong 5 loại quả trao đổi chủ yếu trên thị trường thế giới,
bên cạnh giá trị là loại quả cho khối lượng sản phẩm lớn, chuối còn có hàm
lượng dinh dưỡng khá cao, tại một số nước Châu Á, Châu Phi, chuối là lương
thực, thực phẩm chủ yếu, được sử dụng như khoai tây ở các nước có khí hậu
ôn đới [14].
Thành phần dinh dưỡng trong quả tính theo khối lượng tươi và khô đối
với chuối ăn và chuối nấu như sau:
Bảng 1.1. Thành phần dinh dƣỡng trong quả chuối ăn tƣơi và chuối nấu
Thành phần
Chuối ăn tƣơi (%)
Chuối nấu (%)
Theo khối
lƣợng tƣơi
Theo khối
lƣợng khô
Theo khối
lƣợng tƣơi
Theo khối

chuối phong phú và cao hơn một số loại quả khác như cam, táo…Tác giả
Champion J. cho rằng quả chuối có giá trị dinh dưỡng cao, thể hiện khi ăn
100 g thịt quả cho mức năng lượng 110 - 120 calo. Trong khi đó, 100g táo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
cho mức năng lượng 64 calo, 100 g cam cho 52 calo, 100g đào cho 45 calo…
Măt khác, các thành phần dinh dưỡng trong quả chuối được cơ thể hấp thụ
nhanh. Vì vậy, chuối được coi là loại quả lý tưởng cho người già, sức khỏe
yếu, suy dinh dưỡng, mệt mỏi… Ngoài ra, quả chuối cũng có vị trí đặc biệt
trong khẩu phần ăn giảm mỡ, Cholesteron và muối Natri…[24].
Bảng 1.2. Hàm lƣợng vitamin trong một số loại quả
Loại
quả
Caroten
(Tiền vitamin A)
Thiamin
(Vitamin B
1
)
Riboflavin
(Vitamin B
2
)
Axit ascobic
(Vitamin C)
Chuối
0,24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
nguyên liệu cho sản xuất bánh kẹo, tinh dầu. Một số sản phẩm phụ của chuối
như nhựa mủ… có tầm quan trọng trong sản xuất Tanin, bẹ chuối là nguyên
liệu để sản xuất dây chão, lá chuối được sử dụng làm gói bọc… Ngoài ra,
chuối còn làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất cồn, bia, rượu… Thời
gian trước, vỏ chuối trong ngành chế biến thực phẩm thường bị loại bỏ dưới
dạng phế thải, điều này gây tác hại lớn đến môi trường xung quanh, không
đem lại hiệu quả kinh tế, nhưng gần đây, người ta đã tạo ra được Ethanol từ
vỏ chuối [2].
So với nhiều loại cây trồng khác, toàn bộ sản phẩm của cây chuối có
thể làm lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, thuốc nhuộm, công nghiệp
chế biến thực phẩm, làm rượu, mứt và vì một lý do nào đó trong sản xuất kinh
doanh, việc xuất quả tươi gặp trở ngại thì cũng dễ dàng sử dụng sản phẩm
chuối vào những mục đích khác với trang thiết bị yêu cầu không cao như
chuối sấy khô, làm bột, ủ chua… [16].
1.2. Tình hình trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuấ chuối trên thế giới
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chuối thế giới giai đoạn 2006 - 2011
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Diện tích


8
và được xuất khẩu tới các nước phát triển. Vào năm 2007, tổng cộng có 130
nước sản xuất chuối. Theo số liệu của FAO diện tích chuối trên thế giới năm
2011 là 5,2 triệu ha, năng suất trung bình đạt 20,29 tấn/ha, sản lượng chuối
trên thế giới năm 2010 là 107,1 triệu tấn, tăng 22,8 triệu tấn so với năm 2006.
Tình hình sản xuất chuối toàn thế giới giai đoạn 2006 - 2011 được đề cập ở
bảng 1.2.
Xuất khẩu chuối trên thế giới tập trung cao ở các nước đang phát triển,
chỉ riêng các nước Mỹ Latinh và vùng Caribe cung cấp khoảng 70% tổng số
chuối xuất khẩu của cả thế giới. Bốn quốc gia đứng đầu xuất khẩu chuối vào
những năm 2011 là Ecuado, Costa Rica, Philippines và Colombia chiếm
khoảng 63% lượng chuối xuất khẩu thế giới, riêng Ecuado cung cấp trên
30% lượng chuối xuất khẩu toàn cầu, tuy nhiên, lượng chuối xuất khẩu của
các nước Mỹ Latinh và vùng Caribean có xu hướng giảm từ sau những năm
90, trong khi đó lượng chuối xuất khẩu các nước Châu Á lại tăng lên [32].
Nhập khẩu chuối nhiều nhất là liên minh Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản,
chiếm khoảng 67% khối lượng chuối nhập khẩu của thế giới vào năm 2011.
Trong khoảng thời gian này có 10 nước đứng đầu chiếm 80% chuối nhập
khẩu thế giới. Một số các thị trường mới nổi lên như Nga, Trung Quốc và các
nước Đông Âu [32].
Ở Châu Á nước xuất khẩu chuối nhiều nhất là Philippines, nước nhập
khẩu nhiều nhất là Nhật Bản. Hiện nay, thị trường tiêu thụ chuối ăn vẫn đang
được mở rộng như khu vực Bắc Đông Á, Trung Cận Đông và một số nước
Tây Âu. Một số nước trước đây nhập khẩu chuối từ Châu Mỹ nay có xu
hướng bắt đầu chuyển sang nhập khẩu chuối của Châu Á. Trong đó, có
những khách hàng rất quan tâm đến chuối của Việt Nam và có thể mua với
số lượng lớn [32].
(tấn/ha)
14,32
14,23
15,10
16,46
15,96
15,74
Sản lượng
(Nghìn tấn)
1344,2
1368,6
1485,8
1602,5
1611,8
1660,8
(Nguồn: Cục trồng trọt , 2012)[26]
Theo số liệu thống kê năm 2010, diện tích chuối của cả nước là 119,5
nghìn ha, sản lượng xấp xỉ 1,66 triệu tấn, vùng trồng chuối lớn nhất là Đồng
bằng Sông Cửu Long chiếm 30% diện tích, Đồng bằng Sông Hồng 16%, Bắc
Trung Bộ 16% [26]. Tuy nhiên, diện tích trồng chuối không tập trung, với đặc
điểm là cây ăn quả ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích, nên chuối
được trồng như một cây tận dụng đất trong các vườn cây ăn quả của các hộ
gia đình. Hiện tại, một số tỉnh miền Trung và miền Nam như: Thanh Hoá,
Nghệ An, Khánh Hoà, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau có diện tích chuối từ
3000 - 8000 ha. Trong khi, các tỉnh trồng nhiều chuối ở miền Bắc như Hải
Phòng, Nam Định, Phú Thọ có diện tích chuối chưa đạt 3000 ha [26]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
Chuối còn được nông dân nhiều địa phương trồng xen canh, như xã
Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trồng xen canh hơn 1.200
ha. Chuối được trồng khá đa dạng như chuối bom, chuối sứ, chuối ngọc nữ,
chuối chà bột và chuối cau. Nhiều hộ dân cho rằng, trồng chuối ít lo mất mùa,
gần đây các tiểu thương đến tận vườn mua [2].
Nhiều địa phương trồng chuyên canh cây chuối. Gần 600 ha chuối tiêu
hồng tập trung ở một số xã huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đang vào mùa
thu hoạch. Chuối tiêu hồng năng suất bình quân 250 kg/sào, cao gấp đôi chuối
tiêu bình thường, bình quân thu lãi trên 100 triệu đồng/ha, gấp khoảng 4 lần
trồng lúa. Xã Tứ Dân thâm canh cây chuối tiêu hồng lớn nhất huyện Khoái
Châu, chiếm gần 1/3 diện tích chuối toàn huyện [1].
Mô hình thâm canh chuối tiêu hồng công nghệ cao tại Hưng Yên cho
lãi hơn 100 triệu đồng/ha. Diện tích trồng chuối tiêu hồng theo công nghệ
nuôi cấy mô do Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh Hưng Yên triển khai đang
trong giai đoạn thu hoạch với giá trị bình quân mỗi hecta nông dân thu lãi trên
100 triệu đồng, cao gấp 4 lần so với trồng lúa. Ngoài những ưu thế về chất
lượng giống, tỷ lệ trổ bông đồng loạt đạt hơn 96% (cao hơn 2 lần so với trồng
theo phương pháp truyền thống) là lợi thế lớn để nông dân tiêu thụ sản phẩm
trọng dịp Tết với giá trị cao hơn hẳn [1, 2].
Giống chuối tiêu hồng đã được tuyển chọn, thuần hoá và nhân giống
bằng phương pháp nuôi cấy mô tại Viện Nghiên cứu Rau quả. Sau hơn 1 năm
chuyển giao kỹ thuật trồng tại Hưng Yên, hiện mỗi cây có trung bình hơn 11
nải/buồng và số nải hữu hiệu là 9 nải tương đương 80%. Khối lượng trung
bình mỗi buồng là 30 kg. Nếu so với giống chuối tiêu đang được trồng phổ
biến thì giống chuối tiêu hồng sử dụng công nghệ này đã cho năng suất cao
hơn từ 1,5 đến 1,7 lần. Đặc biệt, thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch chỉ

Về công tác đánh giá và thu thập tập đoàn quỹ gen chuối, INIBAP -
Mạng lưới quốc tế cải thiện nguồn gen cây chuối (International Network for
the Improvement of Banana and Plantain) được thành lập năm 1984 tại
Montpellier France. INIBAP có quan hệ rộng rãi với tất cả các tổ chức
Quốc tế nghiên cứu về nông nghiệp khác và đặc biệt rất quan tâm đến các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
chương trình Quốc gia. Mục tiêu của INIBAP là hợp tác nghiên cứu, cung cấp
thông tin và huy động tài trợ ủng hộ các hoạt động nghiên cứu và phát triển về
chuối. Nhận thức đầy đủ vai trò của Đông Nam Á trong các vấn đề cây
chuối, INIBAP đã đang và sẽ tập trung nghiên cứu, tài trợ cho các hoạt động
thu thập, đánh giá sử dụng và bảo quản nguồn gen cây chuối trong vùng.
Ngoài ra những tập đoàn có quy mô lớn của thế giới một số nước
ở châu Á nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng cũng đã quan tâm tới
việc thu thập, đánh giá sử dụng và bảo quản chuối trong tập đoàn của họ.
Theo thống kê của INIBAP (1990) tổng số các mẫu chuối trồng của
Philippines là 80 mẫu trong đó các mẫu thuộc loại M.acuminata và
M.balbisiana là 27 mẫu và chỉ duy nhất có 1 mẫu là chưa xác định được kiểu
di truyền. Ở đây còn giữ và duy trì 29 mẫu giống của Malaysia, 35 mẫu giống
của Thai lan, 16 mẫu giống của Indonesia, 148 mẫu giống của Papua
Newguinea. Ngoài ra còn có 10 mẫu giống của các loại khác trong chi Musa
và các loại họ hàng. Như vậy tính đến nay Philippines có 318 mẫu
giống, được coi là nước có tập đoàn chuối lớn nhất trên thế giới. Mặt khác
INIBAP cũng đang tiếp tục đẩy mạnh việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và
bảo quản tập đoàn chuối ở khu vực này [14].
Ở Thai Lan tổng số mẫu là 49 mẫu trong đó 17 mẫu giống thuộc nhóm
AA/AAA, 1 mẫu thuộc nhóm BB/BBB và 21 mẫu giống là còn lai

New Guine gồm trên 500 mẫu giống, các vườn tập đoàn tại Honduras,
Guadeloup, Philippine và Giamaica đều lưu giữ khoảng 400 mẫu giống. Việc
sử dụng, khai thác nguồn gen phong phú này vào mục đích tuyển chọn giống tốt
là một hướng đi phổ biến và hiệu quả ở nhiều nước. Các giống chuối đạt
năng suất cao và chất lương quả tốt nổi tiếng được tuyển chọn nhờ
phương pháp này bao gồm: Dwarf Cavendish, Giant Cavendish, Pisang masak
hijau, Robusta, Valery …
Việc nhập nội và khảo nghiệm giống cũng được nhiều nước quan tâm,
đặc biệt là thông qua Chương trình khảo nghiệm giống chuối quốc tế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
(ITMP) do INIBAP chủ trì. Các giống chuối thương mại đang được sản
xuất quy mô lớn tại Malaisia như Pingsan Baragan và Pingsan Mas đều có
nguồn gốc từ Indonesia.
Công tác nghiên cứu tạo giống mới đã và đang được chú trọng thực hiện
ở nhiều nước với mục tiêu tạo ra những giống chuối có thời gian sinh trưởng
ngắn, thấp cây, đạt năng suất, chất lượng cao hơn các giống thuộc nhóm
phụ Cavendish và nhất là kháng một số bệnh hại nguy hiểm như héo rũ
Fusarium, Sigatoka và tuyến trùng … Một trong những phương pháp chủ yếu
tạo giống mới là lai hữu tính. Chỉ trong thời gian ngắn, hàng loạt giống chuối
mới đã được tạo ra như FHIA 01, FHIA 03, FHIA 21 (Philippine),
Udhayam, H1, H2, H59, H65, H1009 (Ấn Độ). Phương pháp tạo giống quan
trọng khác là nuôi cấy tế bào trần và tạo đột biến. Các giống chuối của Đài
Loan nổi tiếng về kháng bệnh Fusarium chủng 4 như Hshien Jinchao,
Tai Chiao 1 đã được tạo ra nhờ chọn lọc từ các đột biến tế bào chất xảy ra
ở vườn chuối bị bệnh.
- Giống Peichiao: Giống này cao và thích ứng rộng thời gian sinh trưởng

Về kỹ thuật nhân giống chuối, các biện pháp kỹ thuật nhân giống chuối
truyền thống như nhân bằng củ và bằng chồi có rất nhiều hạn chế về thời gian
nhân giống, hệ số nhân, độ đồng đều và chất lượng cây giống nên chủ yếu
được áp dụng ở quy mô sản xuất nhỏ lẻ phục vụ nội tiêu. Đối với sản xuất quy
mô lớn và nhằm vào mục đích xuất khẩu, cây giống chủ yếu được nhân bằng
nuôi cấy mô tế bào.
Theo Nguyễn Thị Lang (2002) [15] Nhân giống bằng nuôi cấy mô có
nhiều ưu điểm như hệ số nhân rất cao, cây con đồng đều, sạch bệnh, rẻ
và thời gian sinh trưởng ngắn. Cho đến nay nuôi cấy mô tế bào đã được ứng
dụng rộng rãi ở hầu khắp các nước trồng chuối. Chỉ tính riêng ở Đài Loan, từ
năm 1983 đến nay, mỗi năm đã sản xuất 1,5-2,0 triệu cây phục vụ sản xuất.
Trong khi đó, nhờ ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, một lượng rất lớn cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status