Lý thuyết và thực tế về hoạt động của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ở việt nam - Pdf 24

Bảo Hiểm Nhóm 10
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, Bảo hiểm phi nhân thọ đã bắt đầu hình thành từ năm 1965. Từ 1965 đến
1994 là thời kỳ BH PNT hoàn toàn hoạt động độc quyền vời một doanh nghiệp bảo hiểm Nhà
nước duy nhất. Ngành bảo hiểm thương mại nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng
còn rất non trẻ, nhìn chung còn là lĩnh vực mới mẻ và còn nhiều hạn chế cần khắc phục, đổi
mới.
Trong xu thể hội nhập kinh tế quốc tế và trong điều kiện nước ta ra nhập tổ chức
thương mại quốc tế WTO, các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến các lĩnh vực tài
chính, bảo hiểm,…. Vì vậy, rất cần thiết phải có những đổi mới toàn diện, tạo nên bước phát
triển đột phá trong ngành Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, nhóm 9 đã chọn đề tài:” Lý thuyết và thực tế về hoạt
động của các công ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ ở Việt Nam”.
Kết cấu của bài thảo luận: Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài có 3 chương:
Chương 1. Lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ.
Chương 2. Thực tế về hoạt động của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam.
Chương 3. Một số đề xuất nhằm phát triển bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
1
Bảo Hiểm Nhóm 10
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1 Bảo hiểm, các đặc điểm bảo hiểm, vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế
Bảo hiểm là một hoạt động đảm bảo các tổn thất của các chủ thể tham gia bảo hiểm
được bù đắp dựa trên nguyên tắc tương hỗ.
- Các chủ thể tham gia bảo hiểm phải trả một khoản phí nhất định.
- Khi tổn thất xảy ra liên quan đến đối tượng bảo hiểm, nhà bảo hiểm có trách
nhiệm bồi thường hoặc trợ cấp một số tiền theo thỏa thuận.
Đặc điểm của bảo hiểm:
 Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”.
 Mục đích chủ yếu nhằm góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia và tạo nguồn vốn
cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

hiểm theo quy định pháp luật.
• Áp dụng kĩ thuật phân chia: thời hạn của bảo hiểm phi nhân thọ ngắn và có sự khác nhau
rõ rệt giữa các nghiệp vụ bảo hiểm. Thông thường, thời hạn bảo hiểm thường kéo dài 1
năm tài chính hoặc 2 năm tài chính liên tiếp. Điều đáng lưu ý: trách nhiệm bồi thường của
doanh nghiệp bảo hiểm có thể phát sinh sau thời điểm thời hạn của hợp đồng kết thúc.
Trong khi đó, phí bảo hiểm có thể đã thu một lần toàn bộ khi hợp đồng kết giao bảo hiểm
hoặc vài kì trong thời hạn bảo hiểm. Vì thế, việc quản lý tài chính thu chi phải áp dụng kĩ
thuật phân chia.
1.2.3 Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ
Theo đối tượng bảo hiểm:
3
Bảo Hiểm Nhóm 10
• Bảo hiểm tài sản: Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là tài sản (cố định
hay lưu động), của người được bảo hiểm.
Số tiền bồi thường bảo hiểm được trả sẽ dựa vào số tiền bảo hiểm được thoả thuận
tức là:
Số tiền bồi thường ≤ số tiền bảo hiểm
Vd: bảo hiểm vật chất cho thiệt hại xe cơ giới, hàng hóa xuất nhập khẩu,
• Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là trách
nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo luật định.
Vd: BHTNDS xe cơ giới,
• Bảo hiểm con người phi nhân thọ : Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là sức
khỏe, sinh mạng, khả năng lao động của con người. Đây là loại hình bảo hiểm chỉ liên
quan đến rủi ro: bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong. Người được bảo
hiểm thường được quy định trong một khoảng tuổi nào đó, các công ty bảo hiểm không
chấp nhận bảo hiểm cho những có độ tuổi quá thấp
Vd: bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm tai nạn hành khách,
Theo tính chất bắt buộc:
Bảo hiểm phi nhân thọ bắt buộc: là những loại bảo hiểm mà pháp luật có quy
định về nghĩa vụ tham gia bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân có mối quan hệ nhất định với

5 Tổng công ty bảo hiểm PVI (PVI) 1996 1,500
6 Công ty liên doanh bảo hiểm
Bảo Việt – Tokio Marine(Bảo Việt – Tokio Marine)
1996 300
5
Bảo Hiểm Nhóm 10
7 Công ty bảo hiểm Liên hiệp (UIC) 1997 300
8 Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI) 1998 450
9 Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama
Việt Nam (Groupama)
2001 388.906
10 Công ty TNHH 1 thành viên bảo hiểm Ngân hàng
công thương V iệt Nam (Bảo Ngân)
2002 500
11 Công ty TNHH bảo hiểm Samsung Vina
(Samsung Vina)
2002 300
12 Công ty cổ phần bảo hiểm Viễn Đông (VASS) 2003 400
13 Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam (BIC)
2005 660
14 Công ty cổ phần bảo hiểm AAA (AAA) 2005 675
15 Công ty TNHH bảo hiểm phi nhân thọ Chartis (Việt
Nam)
2005 375
16 Công ty TNHH bảo hiểm QBE (Việt Nam) (QBE) 2005 300.322
17 Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông
nghiệp ViệtNam (ABIC)
2006 380
18 Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu (GIC) 2006 400

sản phẩm BH và một số các hoạt động khác.
2.1.2.2 Quy luật số đông bù số ít
Quy luật này mang tính tương trợ, cùng nhau san sẻ rủi ro của người tham gia BH.
Bởi lẽ BH PNT là một hệ thống qua đó một số người đồng ý góp vào 1 quỹ chung (với số
phí tương đối nhỏ), được dùng để chia sẻ các chi phí tổn thất của số ít người gặp rủi ro (có
7
Bảo Hiểm Nhóm 10
thể rất lớn). Đây cũng là biểu hiện của quy luật phân tán rủi ro trong hoạt động BH. Hai
quy luật này được các DB BH Việt Nam tận dụng triệt để trong kinh doanh BH. Nếu các
quy luật này không phát huy tác dụng thì hoạt động BH không tồn tại, hay nói cách khác
DNBH sẽ phá sản. Ngược lại, nếu các quy luật này vận hành tốt, là điều kiện để các DN
giảm giá (phí BH), mở rộng quyền lợi của người mua BH. Đây là điều kiện tiên quyết để
chiếm lĩnh thị trường có hiệu quả nhất.
2.2.1.3 Cạnh tranh
Là đặc trưng của thị trường nói chung, nhưng ở thị trường BHPNT thì cạnh tranh
quyết liệt hơn, đôi khi phải dùng thủ thuật, chiến thuật trong cạnh tranh. Bởi vì sản phẩm
BH là sản phẩm dễ bắt chước, nên sản phẩm nào được thị trường chấp nhận và kinh doanh
có hiệu quả là các DNBH tấn công một cách quyết liệt bằng mọi hình thức tuyên truyền,
quảng cáo, khuyến mại… bằng mọi biện pháp giảm phí bảo hiểm, tăng chi phí, mở rộng
quyền lợi cho KH để chiếm lĩnh thị trường
Cũng do cạnh tranh làm cho thị phần của các DNBH luôn có sự thay đổi. Nếu DN
nào giữ vững KH hiện có, mở rộng và phát triển được nhiều KH mới đồng thời thu hút
được KH của đối thủ cạnh tranh thì sẽ vươn lên chiếm lĩnh thị trường. Ngược lại, thị phần
sẽ giảm đi nhanh chóng và kéo theo thương hiệu cũng như uy tín sẽ giảm dần.
Cùng với cạnh tranh là liên kết. Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng phát triển.
Liên kết thường diễn ra giữa các DN mới, DN vừa và nhỏ để tạo ra sức mạnh cạnh tranh.
Liên kết giữa các DN có thể mạnh để hòa hoãn cùng phát triển. Liên kết còn là nhu cầu
của thị trường mới hình thành và phát triển trong điều kiện thị trường thế giới đã ổn định.
Liên kết là xu hướng của hội nhập.
2.1.2.4. Cơ chế điều tiết thị trường

DN, quy trình nghiệp vụ, quản trị rủi ro, ) trên cơ sở các quy định của pháp luật và tính
tuân thủ pháp luật của các DNBH. Cán bộ giám sát sẽ dựa trên số liệu báo cáo của DN để
đối chiếu với các qui định của pháp luật, phát hiện những sai sót của DN để có khuyến cáo
9
Bảo Hiểm Nhóm 10
và đưa ra các biện pháp điều chỉnh nếu có sự khác biệt giữa các chỉ tiêu hoạt động kinh
doanh và các tiêu chí giám sát.
Do thực hiện giám sát theo phương thức tuân thủ nên cơ quan giám sát thường thực
hiện xử lý thông tin dữ liệu quá khứ. Do đó, nhiều khi các biện pháp xử lý không có hiệu
quả cao vì các rủi ro đã xảy ra. Hoặc khi phát hiện các rủi ro thì trên thực tế đã thay đổi rất
nhiều.
Với một nguồn lực còn bị hạn chế thì phải mất nhiều năm nữa cơ quan giám sát mới
có thể thực hiện kiểm tra và thanh tra hết một lượt các DN theo phương thức giám sát hiện
nay. Chưa thể tập trung giám sát vào những điểm rủi ro cao mà vẫn mang tính dàn trải.
Nhưng khả năng dự báo cũng như đưa ra những cảnh báo sớm đối với thị trường còn hạn
chế, mức dự báo và cảnh báo không cao.
Trong tình hình kinh tế đang có nhiều thay đổi, tác động sự biến đổi khí hậu và
thảm họa thiên nhiên, trục lợi bảo hiểm hoạt động kinh doanh của DNBH sẽ phải đối mặt
với nhiều rủi ro. Với vai trò của cơ quan giám sát, định hướng và giúp thị trường phát triển
lành mạnh, cơ quan giám sát bảo hiểm phải thực hiện giám sát sớm để chỉ ra những nguy
cơ rủi ro có thể xảy ra với DNBH, giúp DNBH có biện pháp điều chỉnh tránh xảy ra đổ vỡ
cho thị trường.
Xuất phát từ những yêu cầu và xu hướng chung của thế giới, Việt Nam nên có sự
chuẩn bị và từng bước chuyển sang phương thức giám sát trên cơ sở rủi ro. Tuy nhiên, để
chuyển đổi phuơng thức giám sát thì Việt Nam cần có lộ trình chuyển đổi phù hợp và các
nội dung cần triển khai. Cụ thể:
- Hoàn thiện hành lang pháp lý để thực hiện giám sát, cần có quy định xác định mức
vốn trên cơ sở rủi ro, các quy định và chế tài cho cơ quan giám sát thực hiện giám sát trên
cơ sở rủi ro. Xác định các loại rủi ro phát sinh là cơ sở đánh giá đối với TTBH phi nhân
thọ ở Việt Nam;

không nhận được gì khi hợp đồng hết hạn. Chính vì vậy, bảo hiểm phi nhân thọ thường có
bảo phí rất thấp so với bảo hiểm nhân thọ và thời gian đóng phí và được bảo hiểm cũng rất
ngắn (thông thường chỉ một, hoặc hai năm).
Trong các công ty bảo hiểm, việc tính phí cho sản phẩm bảo hiểm là một công việc
phức tạp, đòi hỏi phải sử dụng nhiều công cụ và dữ liệu đầu vào khác nhau. Mặc dù có thể
có nhiều phương pháp tính phí khác nhau song vẫn dựa trên nền tảng Thống kê các rủi ro,
tổn thất trong quá khứ cũng như tiên liệu về xác suất xảy ra rủi ro trong tương lai. Tuy
nhiên, dữ liệu của mỗi công ty một khác (do nguồn thu thập, do thời kỳ thống kê, do các
sai số ) Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, các công ty bảo hiểm còn phải tính tới yếu tố tâm lý, thị
hiếu khách hàng, khả năng cạnh tranh cũng như chiến lược giá của bản thân công ty.
Vì việc xác định mức phí thích hợp cho mỗi sản phẩm bảo hiểm rất phức tạp và khó
khăn như vậy nên tại các công ty BH ngày nay thường sử dụng đội ngũ các chuyên gia tính
toán (Actuary) được đào tạo chuyên sâu về vấn đề này.
Có thể nói, định phí là một trong các bí quyết công nghệ của DN bảo hiểm, vì vậy
các DN sẽ không tiết lộ các bí kíp này của mình.
12
Bảo Hiểm Nhóm 10
13
Bảo Hiểm Nhóm 10
Bảng phí bảo hiểm xe máy (PVI)
14
Bảo Hiểm Nhóm 10
STT Loại Số tiền
phải đóng
Trách nhiệm bảo Ghi chú
1 B ảo
bắt buộc
66.000/ 1
năm (cả VAT)
Trách nhiệm dân

bảo hiểm cho người ngồi
trên xe:
Mức trách nhiệm tối đa là
10 triệu/người/ vụ tối đa 2
người

Loại bảo hiểm này cũng tượng tự như bảo hiểm bắt
buộc có điều bổ xung thêm bảo hiểmcho cả người ngồi trên xe
Nghĩa là ngoài việc bồi thường cho người bị đâm, thì người lái
xe bị tai nạn cũng sẽ được bồi thường. Mức tối đa đền là 10
triệu cho 1người/vụ, nếu xe chở 2 người thì tối đa là 20 triệu

2.2 Thực trạng hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
2.2.1 Tình hình hoạt động của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Năm 2013 vẫn là một năm khó khăn của nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam.
Kinh tế chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế vĩ mô chưa thực sự ổn định, sản xuất
kinh doanh phục hồi chậm, đồng thời thu nhập của người dân chưa được cải thiện. Mặc dù
vậy, thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn tiếp tục đà tăng trưởng
Một số kết quả cụ thể của bức tranh thị trường bảo hiểm Việt Nam trong năm 2013
như sau:
Thứ nhất, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2013 ước đạt trên 47
nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 14,13% so với năm 2012; trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi
nhân thọ ước đạt gần 24,5 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 7%.
16
Bảo Hiểm Nhóm 10
Đối với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, các doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu,
chiếm tỷ trọng lớn vẫn là Bảo Việt, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
(PVI), Bảo Minh và Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) chiếm tới 62%
thị phần doanh thu bảo hiểm gốc. Đồng thời bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tài sản và bảo
hiểm thiệt hại, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người cũng vẫn là những sản phẩm chính,

năm 2013 đạt xấp xỉ 37,8 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1 % so với năm 2012. Trong đó vốn chủ
sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt gần 17,7 nghìn tỷ, tăng 2,7%.
Thứ sáu, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm năm 2013 đạt
xấp xỉ 80 nghìn tỷ đồng, tăng gần 12,03% so với năm 2012; trong đó các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ đạt 15,7 tỷ đồng (tăng 11,90%).
20
Bảo Hiểm Nhóm 10
Thứ bảy, trên thị trường có tổng cộng 59 doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó có 29
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 16 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 12 doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, trong năm 2013 có 14/29 doanh
nghiệp bảo hiểm (khoảng 50%) kinh doanh có lãi, 15/29 doanh nghiệp lỗ hoạt động kinh
doanh bảo hiểm. Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, 10/16 doanh nghiệp kinh doanh có lãi,
6/16 doanh nghiệp lỗ. Trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm, 9/11 doanh nghiệp kinh doanh có
lãi (năm 2012 có 6/11 doanh nghiệp), 2/11 doanh nghiệp lỗ.
Biểu đồ 5: Tăng trưởng của một số doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Nguồn: Đặc san Toàn cảnh Bảo hiểm Việt Nam 2014)
Năm 2013, kết quả kinh doanh của PVI có nhiều điểm sáng hơn: tăng trưởng đạt
9,4% so với mức tăng trưởng của Bảo Việt là 5,3%, tỷ lệ bồi thường luôn được duy trì ở
mức thấp hơn mức trung bình của ngành (22,7%), trong khi con số này ở Bảo Việt là
54,2%. Với lợi thế tuyệt đối trong mảng bảo hiểm năng lượng - dầu khí, PVI được đánh
giá là đang có nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển hơn.
Các doanh nghiệp tiếp theo trong Top 5 như Bảo Minh, PJICO và PTI mặc dù vẫn
"trụ hạng” thành công nhưng tốc độ tăng trưởng sụt giảm: chỉ tăng 0,6% đối với Bảo Minh
và PJICO, trong khi PTI thậm chí tăng trưởng âm 10%. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ của 3 doanh nghiệp này cũng cách khá xa so với 2 doanh nghiệp dẫn đầu và cũng
thua kém các doanh nghiệp ở nhóm sau. Sự trỗi dậy của các doanh nghiệp nhóm sau (SVI,
21
Bảo Hiểm Nhóm 10

hơn sẽ là tiền đề tốt cho sự phát triển của mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm.
Thứ hai, tuy nhiên sự phát triển của thị trường bảo hiểm vẫn tập trung vào một số
sản phẩm nhất định, vào một số Doanh nghiệp bảo hiểm lớn trên thị trường. Điều này có
thể được lý giải như sau: (1) Trong điều kiện khó khăn, các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ tập
trung vào thị trường truyền thống, cốt lõi, thế mạnh để tiếp tục tồn tại và phát triển; (2)
Các Doanh nghiệp bảo hiểm lớn tiếp tục chiếm ưu thế trong thời kỳ khó khăn và có thể
dẫn tới quá trình tự tái cấu trúc doanh nghiệp bảo hiểm để vượt qua khó khăn tiếp tục phát
triển (hiện đang có một doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang xúc tiến giải thể). Song điều
này cũng nói lên rằng, thị trường bảo hiểm Việt Nam chưa phát triển bền vững, chưa khai
thác hết tiềm năng.
Thứ ba, tình trạng gian lận, trục lợi và một số hành vi khác đã có tác động không
tốt, cản trở sự phát triển của thị trường. Chẳng hạn một số doanh nghiệp bảo hiểm vẫn còn
thiếu sót về quy trình nghiệp vụ, công tác quản lý tài chính, tách quỹ chia lãi, chi trả quyền
lợi cho khách hàng; chi bồi thường bảo hiểm, sử dụng đại lý và chi hoa hồng đại lý.
Bên cạnh đó, hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh (kể cả trong nội bộ doanh
nghiệp) và trục lợi bảo hiểm có xu hướng gia tăng; công tác giải quyết quyền lợi bảo hiểm
ở một số doanh nghiệp chậm trễ, gây nhiều khó khăn cho khách hàng, mất uy tín của
doanh nghiệp và ảnh hưởng đến uy tín của ngành.
2.2.3 Triển vọng phát triển thị trường bảo hiểm năm 2014
Thị trường bảo hiểm 2014: Tìm hướng tăng trưởng bền vững
Tuy không đột biến như vài năm trước nhưng thị trường bảo hiểm năm 2014 được
dự báo sẽ tăng trưởng tốt hơn năm 2013 ở tất cả các phân khúc. Chuyên biệt hóa sản
phẩm và phát triển các dịch vụ đi kèm là một trong những yếu tố được các doanh nghiệp
đẩy mạnh để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng trong năm nay.
Dù thị trường bảo hiểm Việt Nam vừa trải qua một giai đoạn khó khăn và nội
tại vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng vẫn là thị trường có nhiều hấp lực
23
Bảo Hiểm Nhóm 10
với các hãng bảo hiểm nước ngoài cũng như với các tập đoàn tài chính trong nước.
Báo cáo đầu năm 2014 về ngành bảo hiểm tại các thị trường mới nổi của Ernst &

VND, tỷ lệ bồi thường 33% (chưa tính đến dự phòng bồi thường).Bảo hiểm thân tàu
và trách nhiệm dân sự chủ tàu ước đạt 917 tỷ VND, giảm 12% so với cùng kỳ năm
ngoái, số tiền giải quyết bồi thường 239 tỷ VND, giảm 81% so với cùng kỳ năm
ngoái, tỷ lệ bồi thường 26% (chưa tính đến dự phòng bồi thường).
Các nghiệp vụ bảo hiểm khác gồm bảo hiểm trách nhiệm ước đạt 288 tỷ
VND, giảm 5% so với cùng kỳ năm ngoái, bồi thường ước 30 tỷ VND, tăng 91%;
bảo hiểm hàng không ước đạt 225 tỷ VND, giảm 21% so với cùng kỳ năm ngoái,
bồi thường ước 18 tỷ VND, giảm 70%; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính ước đạt
43 tỷ VND, tăng trưởng 19%, bồi thường ước 40 triệu VND, giảm 98% so với cùng
kỳ năm ngoái; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh ước đạt 54 tỷ VND, tăng trưởng 1% so
với cùng kỳ, bồi thường ước 10 tỷ VND, tăng trưởng 254%; bảo hiểm nông nghiệp
ước đạt 12 tỷ VND, giảm 88% so với cùng kỳ năm ngoái, bồi thường 45 tỷ VND,
giảm 85%.
Tỷ lệ bồi thường của từng doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 6 tháng đầu
năm cũng có xu hướng giảm, chỉ còn 3/29 doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động
trên thị trường có tỷ lệ bồi thường trên 100%. Tỷ lệ bồi thường dưới 35% chiếm vị
trí chủ đạo, một vài doanh nghiệp vẫn còn tỷ lệ bồi thường trên 50%, nhưng rơi vào
nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là chính (đối với bảo hiểm xe cơ giới, tỷ lệ bồi
thường dưới 58% là mức có thể chấp nhận được).
Doanh thu phí bảo hiểm gốc của các doanh nghiệp trong Top 5 doanh nghiệp
có thị phần dẫn đầu thị trường có sự tăng trưởng không đồng đều. Mức tăng trưởng
cao nhất là 16% so với cùng kỳ năm ngoái, tăng trưởng thấp nhất là 0,4%, có hai
doanh nghiệp trong nhóm này có mức tăng trưởng âm so với cùng kỳ năm ngoái. 24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status